NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM . BÀI 3.

3/25/2011 |
NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
HOÀN CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN.
1/ĐÁNH GIÁ THỨ BA. 
" Bửu- Sơn Kỳ- Hương được xem như hậu thân của phái Trúc Lâm Yên Tử. Thật thế, Đức Phật Thầy Tây An quả xứng đáng là vị thừa kế của Thiền phái đời Lý, đời Trần, vì Ngài đã tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc.
Sở dĩ các tổ Trúc Lâm gây được thịnh huống cho đạo Phật đời Trần là nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: tinh thần dân tộc, đối cơ và hoàn cảnh.
Về phương diện dân tộc tinh, Trúc Lâm Yên Tử là một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam từ cách đặt tên đến nghi thức hành đạo.
Về phương diện đối co, pháp môn Thiền Tịnh song tu rất thích hợp với trình độ của con người ở thời kỳ Tượng pháp, gồm có hạng hạ căn cần tu cầu tha lực và hạng thượng căn đủ sức tu tự lực.
Về phương diện hoàn cảnh, chủ trương nhập thế và xuất thế rất phù hợp với tinh thần của một xã hội đang đòi hỏi sự nỗ lực của tăng lẫn tục trong công cuộc để tỉnh tinh thần hy sinh để bảo vệ lãnh thổ và giữ vững tín ngưỡng quốc gia chống lại mọi cuộc xâm lăng bờ cõi ở phía Bắc và mọi sự uy hiếp dị giáo ở phía Nam.
Cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử. Đức Phật Thầy Tây An đã nắm vững ba yếu tố ấy khi đứng ra phát động phong trào chấn hưng Phật-giáo....


...Không ai bỏ con đường Tu Nhân mà thành được Phật-đạo, Đức Phật Thích Ca trước khi đắc đạo, hằng bao nhiêu số kiếp hành nhân đạo. Nhờ những công hạnh thi thiết trong giai đoạn nhập thế đắp bồi, tích lũy sâu dày mà Đức Phật chóng đạt thành quả vĩ trong giai đoạn xuất thế.
Xem đó đủ thấy,
muốn xuất thế trước phải hoàn thành giai đoạn nhập thế, muốn tu Phật đạo, trước phải tu Nhân đạo
, cũng như muốn cất nhà trước phải xây nền đắp móng cho vững chắc. Ví bằng chẳng hành xong đạo làm người mà muốn đạt thành quả vị Thánh Tiên thì cũng chẳng khác người cất nhà mà không chịu đắp móng xây nền.
Công cuộc chấn hưng Phật giáo cũng thế. Từ trước đến nay, nhà Thiền sở dĩ được sum nghiêm, tăng ni được yên ổn tu trì là nhờ thiện nam tín nữ sùng mộ đạo đức, ủng hộ cúng dường. Sự phồn thịnh phấn phát Phật giáo, xem đó, đều do lòng ngưỡng đạo của đàn na, tức hạng tại gia cư sĩ . Sau mấy trăm năm loạn lạc, nhân dân khốn khổ, tàn thất gia đình, đời sống đã không yên, còn đâu tinh thần hộ trì Phật-pháp. Gia dĩ, những sự đàn áp, những tà thuyết mê tín dị đoan thừa cơ hội khởi lên. Những người dối thế trốn đời lần lần; đột nhập vào cửa thiền, đó là những duyên cớ khiến cho tín đồ một ngày một mất đức tin, xa dần cửa đạo.
Nay muốn chấn hưng đạo Phát, thiết tưởng, việc xây dựng tín đồ để làm nền tảng là điều cần phải thi thiết trước hết. Một đoàn thể mà không có đoàn viện còn có thể thành là một đoàn thể chăng, hà huống là đạo Phật lại không có tín đồ nhà Phật thì làm sao phát triển cho được. Nhưng cho được trở thành một tín đồ nhà Phật, tức hạng người làm theo lời Phật dạy với hy vọng sau này thành Phật thì ít nhất cũng phải là người hiếu từ với cha mẹ, nhân ái với mọi người, nghĩa là phải làm tròn nhân đạo...
...Diệu dung của Phật pháp là luôn luôn khế lý và khế cơ, Khế lý thộc về thể, còn khế cơ thộc về dụng. Thế nên muốn hoằng dương giáo pháp phải biết ứng dụng cho khế hợp với căn cơ chúng sinh thì sự phổ hóa mới có hiệu quả.
Đức Phật Thầy Tây An, khi dựng lên phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương để khôi phục thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần, mặc dù chỗ lập giáo không khác phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng cho được phù hợp với căn tính của chúng sinh. Ngài không thể lặp lại y nguyên pháp môn Thiền Tịnh song tu mà không có sự châm chước.
Là bậc thấu rõ cơ huyền, Đức Phật Thầy Tây An trước hơn ai hết, báo tin cho chúng sinh biết rằng đời Hạ nguơn sắp dứt, Long Hoa hội sắp khai để chọn lọc kẻ hiền lương lập lên đời Thượng nguơn an lạc. Chẳng những Ngài nhận rõ máy tuần huờn, mà Ngài còn thấu rõ căn tính của chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp, hầu hết đều phước ít tội nhiều, khó lĩnh hội những giáo pháp cao siêu như chúng sinh ở đời Trần đời Lý
Thế nên, giáo pháp mà Ngài đưa ra hoằng hóa, cho được thích hợp với thời kỳ và căn khí của chúng sinh, hẳn phải khác hơn phái Trúc Lâm Yên Tử.
Thời kỳ đã gấp rút, dân chúng vốn thiểu căn, một pháp môn đối cơ không thể có tính chất trường kỳ và cao viễn; vì rằng trường kỳ thì không kịp trang nghiêm hạnh lành, còn nếu cao viễn thì chúng sinh đã không thể lĩnh hội mà còn sinh lòng chán ngán.
Phải gấp rút và dễ hành, đó là hai điều kiện tối yếu, cũng là hai đặc tính mà những pháp môn đưa ra giáo hóa trong thời kỳ này cần phải có. Nếu thiếu đi dù có được nhiều trợ duyên cũng không sao gây được thịnh huống trong đạo Phật, vì lẽ không được chúng sinh sùng mộ và qui ngưỡng theo.
Đã hiểu rõ hai đặc tính cốt yếu ấy, nên chi Đức Phật Thầy Tây An không lặp lại chủ trương của phái Trúc Lâm Yên Tử mà xướng xuất phép tu gồm cả ba của Mật, Tịnh và Thiền.
Sau mấy trăm năm loạn lạc, dân chúng cơ hồ mất hết tin tưởng, đâm ra ngờ vực đối với Phật-pháp. Gia dĩ, sự suy lạc của nhà Thiền do các tập tục mê tín dị đoan thịnh khởi, càng làm cho lòng ngờ vực thêm tăng trưởng. Trong lúc đó lại được luồng gió văn minh vật chất thổi vào càng dễ lôi cuốn người đời ngã theo dục lạc và ưa thích những cái hữu hình hữu ảnh là những vật mang lại khoái cảm về thị dục và thính dục.
Trong lúc tinh thần dân chúng chỉ thích cái gì đem lại kết quả nhãn tiền có thể thấy được, thực tiễn đem lại lợi ích cho bản thân, mà đưa giáo pháp cao siêu ra giảng hóa thì chẳng những người đời không sùng mộ mà còn buông lời nhạo báng cười chê là khác.
Vả lại, tâm lý chung của người đời bao giờ cũng ham sống sợ chết, luôn luôn quí trọng thân mạng, vậy nên, cái giáo pháp nhiếp hóa hữu hiệu nhất là những ai biết đem lợi lạc cho kẻ khốn cùng, đem sự mạnh lành cho người đau ốm.
Chính nhận rõ tâm lý ấy, cho nên Đức Phật Thầy Tây An, muốn gây lấy đức tin ở hạng người thiểu căn thiểu đức ở buổi Hạ nguơn, không sao chẳng thi thiết giáo pháp ;huyền diệu của Mật tông.
Mật tông cũng gọi Chân ngôn tông là một tông phái lấy pháp tu trì bí mật làm yếu chỉ. Giáo pháp không xướng xuất bằng cách giảng dạy mà bằng những mật ngữ, phù chú và ấn quyết để lạm phép huyền bí. Nó có năng lực đem lại sự an lành và xua trừ các tai hoạn.
Tông này rất thịnh ở Trung Hoa nhưng về sau thất truyền vì khó thi hành; nay chỉ còn thịnh ở Tây Tạng và Nhật Bản. Ở Việt Nam, vào đời Lý có những tăng như Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh tu theo Mật giáo, có nhiều phép nhiệm, danh tiếng còn truyền đến nay.
Vì là một giáo pháp chỉ truyền nhau bằng mật ngữ và khó tu chứng, cho nên ít người chịu tu. Người muốn tu phải lắm công phu tập luyện trì chú và kết ấn, ngoài ra còn phải được minh sư chỉ dạy mới không ai lạc, có hại cho huệ mạng.
Đức Phật Thầy là một bực chứng chân đắc pháp, nên khi ra đời không ngại dùng những thuật huyền bí của Mật giáo cứu độ chúng sinh. Gặp lúc dân chúng mặc nạn ôn dịch. Ngài đã dùng phép huyền diệu chữa trị thần linh. Chỉ với một chung nước lã. Ngài niệm chú rồi cho uống, thế mà trăm bịnh trăm lành. Ngoài ra, Ngài còn dùng phép huyền điệu chữa các bịnh tà như điên cuồng, trùng tang,. mắc đàng dưới. Ngài còn biến hiện nhiều diệu thuật khi bị nhà cầm quyền lúc bấy giờ thử thách.
Nhờ những phép diệu cứu độ chúng sinh, cho thấy rõ hiển chứng mà người đời nhất là những người mắc bịnh được chữa lành, đều đem lòng tin tưởng, qui ngưỡng theo rất đông.
Chẳng những thi thiết phép diệu mà Ngài còn truyền cho môn nhân đệ tử để đi cứu đời độ thế. Những cao đệ như Đạo Xuyến, Đạo Sang, Đình Tây, Đạo Lập… đều được Ngài truyền mật pháp mà đắc thần thông. Trong lúc Ngài còn trụ thế cũng như sau lúc Ngài tịch diệt, các môn đệ phân nhau đi hóa độ khắp các tỉnh miền Nam và Cao miên. Về các tỉnh miền Tây thì có Đạo Sang, Đạo Lập, Đạo Ngoạn, Đạo Ới, Đạo Thắng… mở cơ phổ độ, còn về các tỉnh miền Đông thì có Đạo Xuyến đi Đức Phật Thầy Tây An hóa. Riêng về các tỉnh dài theo ranh giới Cao miên thì có Bà Năm, Chòm Dầu và cậu hai Lãnh tục gọi cậu hai Gò sặc lãnh phân giáo độ.
Thành thử, chẳng bao lâu, khắp các tỉnh miền Nam, nơi nào cũng có đạo Bửu- Sơn Kỳ- Hương truyền bá đến. Có thể nói, chỉ nhơ thi thiết các pháp huyền diệu của Mật giáo để cứu thế độ dân mà phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương đem người đời từ chỗ thiếu tin tưởng đến chỗ tin tưởng.
Khi còn trụ thế, chính Đức Phật Thầy truyền dạy cho đệ tử các mật chú và phép thần thông nhưng sau đó thì các đệ tử không còn truyền dạy cho ai ngoài những người trong thân tộc một vài cách chữa trị. cốt để giữ cho còn tinh thần và ngọn lửa thiêng của Mật giáo không tắt. Dù vậy, thỉnh thoảng lâu lâu cũng có vài phần tỏ ngộ ra đời dùng các phép mầu nhiệm cứu thế độ dân không khác Đức Phật Thầy hay các vị hiền thủ. Đại để như trường hợp của Đức Bổn Sư ở núi Tượng và gần đây Đức Huỳnh Giáo chủ cùng một số môn nhân đệ tử của phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương, Thành ra, tuy không có lối "Tổ tổ tương truyền", nhưng nhờ có các vị tỏ ngộ ra đời mà giáo pháp Mật tông vẫn luôn luôn được xiển phát trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Gần đây, xuất hiện nhiều vị chữa trị bịnh nhân bằng những phương pháp kỳ diệu, như dùng nước lạnh cho uống, hoặc hốt thuốc bằng lá xoài là da, hoặc dùng cây móc tai chích vào chỗ đau, hoặc dùng điện lực thoa vuốt… đều là những người được mật truyền phép nhiệm.
Sự truyền dạy không do một vị tỏ ngộ này truyền lại cho một vị khác như Đức Phật Thầy cùng các bậc hiền thủ trước kia thi thiết, mà lại truyền bằng cách mật nhiệm do cơ duyên. Cách truyền mật nhiệm ấy đã được Đức Huỳnh Giáo chủ bộc lộ trong câu:
Giấc mộng vàng đặng truyền đại đạo.
Cảnh vô sanh lòng bạo mà mê.
Thì ra, sự truyền thừa giáo pháp Mật tông vẫn còn tiếp tục trong Bửu- Sơn Kỳ- Hương nhưng không bằng lối hiển cụ mà bằng lối vô binh, chỉ riêng có người được truyền tự biết. Phải chẳng vì tránh sự ganh tỵ giữa các môn nhân mà các bậc chân sư truyền bí pháp trong mộng cho những người mà mấy Ngài nhận thấy phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương lâu lâu lại có một vài vị chứng ngộ ra đời đem những điều của mình được mật truyền ra cứu dân độ thế.
Nhưng dù sao, những phép màu nhiệm cũng chỉ có giá trị để thức tỉnh người đời nhất là hạng thiểu căn, hơn là giáo hóa. Đức Huỳnh Giáo chủ có chỗ nhận rằng: "Ta tùy trình độ cơ cảm của tín nữ thiện nam trên thì nói Phật pháp cho kẻ có lòng mộ Đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền hiệu của Tiên gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị…" Như thế, phép nhiệm có được thi thiết, cũng là việc bất đắc dĩ, chỉ dùng trong giai đoạn mà lòng người chưa có tin tưởng, còn nghi ngờ đối với Phật pháp hay quá thiên trọng về hình thức về những cái gì linh nghiệm.
Cái lực dụng của phép nhiệm, dẫu rằng có hiệu quả và hữu ích trong sự gây lấy đức tin để hướng dẫn vào con đường giải thoát, nhưng nó cũng dễ trở thành nguy hại khi nó vượt quá cái giới hạn ấy. Vì rằng đời người bởi quá trọng về hình tướng nên chỉ có thể tin những gì cho họ thấy được hiệu quả nhãn tiền, cho nên một khi không có phép nhiệm thì lòng tin của họ dễ phai lợt và dễ hướng theo những điều nhảm nhí, mê tín dị đoan.
Vả lại, về phép nhiệm thì chẳng có đạo tà nào là chẳng hành được, nhưng ít khi chúng thi thiết vào việc thiện mà chỉ lợi dụng vào việc làm mê hoặc lòng người với những mục đích xấu xa đen tối. Những người ham linh nghiệm thường dễ bị chúng cám dỗ.
Vì thế, những bực tỏ ngộ chỉ xem phép nhiệm là một phương tiện và bất đắc dĩ phải dùng đến để độ kẻ thiểu căn; nhưng khi gây được lòng tin tưởng đối với Phật pháp rồi thì không còn dùng đến nữa. Xưa kia Đức Phật cũng chỉ dùng phép nhiệm trong những trường hợp đặc biệt và bằng ngăn cấm môn đệ dùng đến, sợ dân chúng hiểu lầm giáo pháp của Ngài với tà đạo. Đức Phật Thầy Tây An và gần đây Đức Huỳnh Giáo chủ cũng thế. Trong những buổi đầu, mấy Ngài dùng phép nhiệm chữa trị bịnh căn cho người kém tin tưởng sớm thức tỉnh cảm lấy ơn cứu độ mà qui ngưỡng tu hành. Nhưng về sau, khi người đời đem lòng mộ đạo thì mấy Ngài không còn thi thiết nữa.
Đã hiểu như thế, nên chi Mật giáo đối với Đức Phật Thầy chỉ là một phương tiện để gây niềm tin tưởng trong thời kỳ mà con người quả thiên chấp về hình tướng và quay cuồng theo vật dục.Vai trò của Mật giáo là cốt dọn lấy miếng đất "lòng tin" để rồi có gieo hột giống Bồ đề chánh pháp. Thế nên, đồng thời với Mật giáo, Đức Phật Thầy Tây An còn khai thị phép tu Tịnh và tu Thiền.
Những phép huyện diệu của Mật tông chẳng phải ai cũng có thể hành được. Ngay như ở Trung Hoa, Mật tông chỉ thịnh hành có một lúc rồi dần dần suy vi, cũng vì phép tu về mật chú và truyền ấn quyết rất khó, phi hạng người có căn cơ, chi nguyện lớn thì ít có ai đủ kiên nhẫn dể tu tập Mật tông đã khó hành như thế thì vị tất ở Việt Nam lại có nhân duyên gây thành một tông phái.
Đức Phật Thầy Tây An đã thấu rõ cơ huyền thi đâu lẽ, trong lúc nhận thấy chúng sinh phần nhiều thiểu căn thiểu trí, lại xướng xuất một pháp môn khó tu như Mật tông.
Nhưng đứng trước những tâm trạng chỉ có thể tin những gì đem lại kết quả nhãn tiền, thấy được, nhận xét được, nếu không thi thiết những huyền diệu của Mật tông thì khó mà gây được lòng ngưỡng vọng của họ đối với Phật-pháp. Như thế mật tông hay những phép huyện diệu chỉ là một phương tiện để độ nhhững kẻ thiểu căn, chớ không thể xem đó là một pháp môn chính yếu, có thể gây thành qui mô hoàng đại và truyền thừa trong quảng đại chúng sinh.
Mật tông đã là một pháp quyền, tạm thời thì thiết để dìu dắt chúng sinh đến pháp thiệt, nên sau khi dùng huyện diệu chữa trị con bịnh mạnh lành, nghĩa là sau khi gây cho họ có đức tin đối với Phật pháp, Đức Phật Thầy Tây An bèn đưa chúng sinh tiến thêm một bước nữa: Qui y Tam bảo.
Pháp môn Mật tông trong sự gây dựng đức tin cho chúng sinh, có thể nói đến đây đã thành tựu, nhưng chẳng vì thế mà nó chấm dứt. Nó vẫn còn truyền thừa trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương và đó là một đặc trưng không một giáo phái nào có. Để có đủ phương tiện thức tỉnh chúng sinh và giữ mãi ngọn lửa "tin" không tắt. Đức Phật Thầy Tây An đã truyền mật pháp cho một số cao đệ và về sau, khi hệ thống truyền thừa hữu vi không còn thi thiết thì các vị hiển giáo trong giác hệ mặt truyền bằng phương pháp vô vi: trong mộng. Nhờ vậy mà lúc nào Mật tông cũng còn hiển chứng trong Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
Vả chăng sứ mạng của Đức Phật Thầy Tây An và giáo hệ của ngài là hóa độ quảng đại chúng sinh trong thời mạt hạ, cho nên khi đã dùng lưỡi phãng "Mật tông " phát xong đám cỏ dại, dọn miếng đất hoang thành khoảnh có thể cày cấy trồng tỉa được thì Ngài không ngàn ngại đem ương hột giống "Phật pháp". Vì không dùng lưỡi phãng "Mật tông" dọn cỏ "hoài nghi bất tín" mà đem hột giống "Phật pháp" đến gieo, chắc chắn là nó sẽ bị cỏ dại đè bẹp hay làm ung thúi: nếu còn chăng chỉ một số ít.
Như vậy, muốn ương hột giống "Phật pháp" không thể không dùng đến lưỡi phãn "Mật tông" dọn cỏ trước.
Miếng đất đã dọn xong, bây giờ là đến lúc gieo trồng. Nhưng nếu là một nhà nông thiện nghệ thì điều trước tiên phải xem chất đất ấy thích hợp với giống cây nào rồi mới chọn giống đến ương: ví bằng không xem đất và chọn giống thì cũng là một việc làm hoài công phí của.
Về phương diện hoằng dương giáo pháp cũng thế. Một giáp pháp cho được phù hợp với căn tinh của chúng sinh phải là một giáo pháp đối cơ. Vậy trong lúc dân chúng phần đông thiểu căn thiểu trí, mất cả lòng tin tưởng đối với chánh pháp có thể đem giáo lý cao siêu phổ hóa được chăng?
Hẳn là không thể được. Thế nên sau khi dùng huyền điệu chữa trị cho chúng nhân khỏi bịnh để gây nơi họ lòng tin tưởng đối với Phật-pháp. Đức Phật Thầy Tây An, tiến đến một bước nữa là dạy họ Niệm Phật, một phép tu thích hợp với thời kỳ Hạ nguơn ác thế và đễ hành đối với hạng sơ cơ.
Thật thế đối với những tâm hồn cơ hồ mất cả đức tin, phải nhờ huyền diệu mới thức tỉnh được mà khai thị một pháp môn khó tu thì hẳn là không thể khai thị một pháp môn khó tu thì hẳn là không thể nào họ hành nổi; mà dầu có hành đi nữa cũng không bền lâu.
Phương chi, trong nhiều kinh Phật và hầu hết các tổ Tịnh độ tông đều nhận rằng vào thời mạt phạp, chỉ có pháp môn Niệm Phật là thù thắng hơn hết, bởi nó dễ hành đối với tất cả các hạng chúng sinh mà kết quả lại chắc chắn nữa.
Kinh Đại Tập nguyệt tạng có nói : Ức triệu chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp theo đạo tu hành mà chưa có một người được chứng quả là vì đời ngũ trược ác thế tạp học khó thành, chỉ có một môn niệm Phật là dễ thông vào đường đạo mà thôi.
Ngài Thiên Như Hòa thượng cũng nói rằng: Chánh pháp, tượng pháp chi hậu, chư kinh diệt tận, chỉ lưu "A di đà Phật" tứ tự cứu độ mạt pháp chúng sinh. Có nghĩa: Sau khi chánh pháp và tượng pháp qua rồi thì các kinh lần lần hoại hết, chỉ còn lại bốn chữ "A di đà Phật" cứu độ chúng sinh trong đời mạt pháp.
Huống chi với pháp môn niệm Phật chẳng ai là chẳng hành được, người làm quan cũng niệm được, người đi buôn bán cũng niệm được, người đi cày bừa cũng niệm được; bất cứ lúc nào dù đi đứng nằm ngồi, đều niệm Phật được cả. Pháp môn đã dễ thọ trì như thế mà kết quả đâu phải là khó đạt thành.
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có nói rằng: Ức Phật niệm Phật, hiện tiền dương lai, tất định kiến Phật, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai: Nhớ Phật niệm Phật thì lúc hiện tiền hay là lúc đương lai, quyết định thấy Phật, chẳng cần phương tiện mà tự nhiên tâm đặng khai thông.
Pháp môn đã phổ thông và đễ thọ trì như thế, nhưng muốn cho được chắc chắn ở kết quả vãng sinh, Đức Phật Thầy Tây An, ngoài việc dạy niệm Phật, còn khuyến tấn thực hành một vài công hạnh về đạo nhân, không khác lời dạy trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật: Muốn sanh về Tịnh độ phải tu ba phước:
1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng, giữ lòng hiền lành không giết hại sanh mạng và tu mười nghiệp hiện
2. Thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh và đừng phạm uy nghi
3. Phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa.
Cứ xét ba điều phước trên đây, chúng ta nhận thấy đó là cả pháp môn Tu Nhân và Học Phật mà Đức Phật Thầy Tây An đã xướng xuất.
Những điều như hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng giữ lòng hiền mà không giết hại sinh mạng và tu mười nghiệp thiện chính là những điều thuộc về Hiếu nghĩa Tứ Ân, những điều căn bản của Tu Nhân.
Đến như: thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh, đừng phạm các uy nghi, phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa, đều là những điều hoàn toàn thuộc về Học Phật.
Thế là, đồng thời với việc khuyên tu niệm Phật Đức Phật Thầy Tây An đã xây dựng nền tảng của Tu Nhân.
Trong lúc chúng sinh còn bỡ ngỡ trước giáo pháp của Phật, chưa lìa được mọi ràng buộc của gia đình và xã hội thì chỉ có pháp môn Niệm Phật và Tu Nhân là thích hợp với hạnh tu tại gia của họ.
Cho nên để tiếp nhận tất cả mọi hạng người vào nhà Phật, Đức Phật Thầy Tây An đã từ cửa ngõ "Mật tông" dìu dắt mọi người bước lên thềm "Tịnh độ". Vì là nấc thang dễ bước nên chẳng ai, sau khi được "Mật tông" mở cửa "Tín Tâm", mà không vững dạ đi vào.
Lúc mới vào nhà"Tịnh độ", mặc dù hơi mới lạ, nhưng chẳng bao lâu khi thi thiết được vài công hạnh về Tu Nhân thì lại muốn lục hành nhiều công hạnh khó khăn hơn. cũng như học sinh khi học xong chương trình tiểu học thì vững lòng muốn bước lên bực trung học.
Chương trình hóa độ của Đức Phật Thầy cũng thế. Sau khi dùng "Mật tông" gây lấy đức tin cho mọi người, Ngài bèn khai thị pháp môn Tịnh độ tức là pháp môn niệm danh hiệu Đức Phật A di đà cầu lấy tha lực tiếp độ vãng sanh về cõi Cực lạc, một phép tu. dù hạng sơ cơ cũng có thể lãnh thọ, Nhưng ngoài phép tu tha lực phổ thông cho tất cả các hạng người. Đức Phật Thầy còn khai thị phép tu tự lực, dành riêng cho những người có căn cơ và đủ nghị lực hành tri.
Tuy phân biệt có phép tu khó, phép tu dễ, nhưng trong thời kỳ mạt pháp nầy không thể tu Thiền mà chẳng tu Tịnh hay tu Tịnh mà chẳng tu Thiền; vì rằng hai phép tu: tự lực và tha lực, nếu cùng song hành thì hiệu quả chẳng những chắc chắn mà lại mau chóng. Ngài Vĩnh Minh Thiền sư há chẳng nhận:
Có Thiền tông, có Tịnh độ.
Như thêm sừng cho mãnh hổ.
Hiện tại thì làm thầy người,
Vị lai thì làm Phật tổ.
Như thế, Đức Phật Thầy Tây An cũng đồng chủ trương Thiền Tịnh song tu như phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng vì thời kỳ và căn cơ của chúng sinh có khác, cho nên mặc dù cùng chủ trương tu tự lực và tha lực, song phương pháp của Đức Phật Thầy có khác, Phái Trúc Lâm Yên Tử lấy Thiền làm chánh tông, còn Tịnh làm trợ tông cho nên qui hướng cả về con đường xuất thế. Đức Phật Thầy Tây An, bởi ra đời giữa thời Hạ nguơn mạt pháp, chúng sinh đa số đều căn tính cạn cợt, cho nên, cũng đồng chủ trương Thiền tịnh song tu, nhưng đặt Tịnh làm chánh tông, còn Thiền làm trợ tông và quy hướng về con đường nhập thế để chuẩn bị cho bước đường xuất thế về sau.
Do căn linh chúng sinh của hai thời kỳ không đồng mà phương pháp giáo hóa của Đức Phật Thầy Tây An có khác hơn của phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho được phù hợp với trình độ của còn người Hạ nguơn hạ, Đức Phật Thầy xướng xuất Bửu- Sơn Kỳ- Hương với pháp tu gồm cả Mật, Tịnh, Thiền.
Chính nhờ thi thiết Mật tông cứu dân độ bịnh bằng những phương pháp huyền diệu mà Đức Phật Thầy và giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương gây được lòng tin tưởng của chúng sinh. Rồi từ chỗ sơ tín, chúng sinh được tăng trưởng đức tin bằng phép tu Tịnh độ và Hiếu nghĩa Tứ Ân. Nhưng khi hành được những điều tu phước và thập thiện, nghĩa là đi được đoạn đường Tu Giới thì với phép tu Thiền tông, hành giả sẽ tiến lên đoạn đường Tu Định và Tu Huệ.
Nhờ phân ra ba đoạn đường: Mật, Tịnh, Thiền mà Đức Phật Thầy Tây An hóa độ tất cả các hạng người, từ hạng sơ cơ đến hạng thượng căn thượng tri, khôi phục cái thịnh huống trong đạo Phật như phái Trúc lâm.
Sở dị sự giác tỉnh được sâu rộng dường ấy, phải nhìn nhận, một phần lớn là do kỳ công của mật tông dọn đường khởi tín, Đó là chỗ thù thắng nhất của Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Thật là một pháp môn đối cơ trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp. Những người có bổn phận hoằng dương giáo pháp ở thời này mà không hành được hay không thị hiện các pháp truyền diệu của Mật tông thì dù có tạo nhiều trợ duyên, cũng khó mà phát động một phong trào sùng mộ đạo đức trong dân chúng.
Nhưng Mật tông dù sao cũng chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố để làm hưng khởi đạo Phật thi thiết thuần mặt Mật tông, chẳng những không đủ chấn hưng đạo Phật mà lắm khi còn có hại, vì nó dễ đưa người đến mê tín dị đoan.
Thế nên, muốn gây thịnh huống cho Phật-giáo, ngoài yếu tố đối cơ, còn cần phải hoàn bị hai yếu tố nữa: Tinh thần dân tộc và thích ứng hoàn cảnh.
Chính nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: Tinh thần dân tộc. Đối cơ và Thích ứng hoàn cảnh mà Đức Phật Thầy Tây An xây dựng nên giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương và phát mạnh phong trào chấn hưng Phật-giáo.

  ( BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - VƯƠNG KIM - sdd)
( Xin xem tiếp bài 4 ). dienbatn

Read more…

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM . BÀI 2

3/24/2011 |

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
HOÀN CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN.

Trang thờ Phật Trùm núi Tượng ( ảnh dienbatn )Về hoàn cảnh và nguyên nhân ra đời các Đạo giáo mới của Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến nay có nhiều ý kiến và góc độ đánh giá. dienbatn xin điểm lại một số ý kiến :
1/ĐÁNH GIÁ THỨ NHẤT. 

Giếng nước chữa bệnh của Đức Phật Trùm ( ảnh dienbatn )
" Nguyên nhân ra đời.Có thể có các cách lý giải khác nhau về nguyên nhân ra đời các tôn giáo bản địa Nam Bộ. Nhưng có một thực tế là các tôn giáo chỉ ra đời trong xã hội của người Việt Nam Bộ và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi đó. Rõ ràng xã hội của người Việt Nam Bộ và bối cảnh của xã hội Nam Bộ vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ, việc đề cập đến bối cảnh Việt nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 sẽ góp phần hiểu rõ lý do của sự xuất hiện tôn giáo bản địa.
1. Bối cảnh Việt nam trong cuối thế kỉ 19
1.1   Tính chất phong kiến của triều đình nhà Nguyễn.
Vào đầu thế kỷ 19, được sự giúp đỡ của các thế lực trong và ngoài nước Nguyễn Ánh đã khôi phục được quyền thống trị cho dòng họ Nguyễn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do bản chất của chính quyền này là một dòng họ vua quan đầy tham vọng cho nên khi nắm được chính quyền trong cả nước, thì nhà Nguyễn đã tái lập chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền dòng họ trên phạm vi cả nước. Quyền hành tập trung trong tay vua tới mức bất kỳ một công việc gì dù lớn nhỏ các quan dưới quyền cũng không được tự ý thi hành nếu không có ý kiến của nhà vua.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính cũng thể hiện tính chất nhất quán của triều Nguyễn. Trong lĩnh vực ruộng đất, đường lối chung là sự tái lập và phát triển một cách ưu tiên các loại sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã để là cơ sở cho nền kinh tế nhà nước, đồng thời hết sức chú ý đến sự phát triển sở hữu địa chủ trên cơ sở hạn chế sở hữu nhỏ tự canh của nông dân tập thể. Đường lối này không phù hợp với yêu cầu phát triển lịch sử nên không thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Về hệ tư tưởng, hệ thống chính là Nho giáo. Vì hệ tư tưởng Nho giáo tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam và cùng với việc thờ cúng thần linh, tổ tiên được coi là phương tiện tốt nhất tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và thần dân. Mọi đề xuất cho việc canh tân đất nước đều không được lắng nghe.
Ngay sau khi vượt qua được bão táp khởi nghĩa nông dân để khôi phục lại quyền thống trị của dòng họ Nguyễn, triều đình Nguyễn đã tỏ rõ sự tận hưởng đắc thắng bằng những hành động xa xỉ đáng lên án.  Còn đối với bọn quan lại, sử sách ghi lại đầy rẫy những dẫn chứng không thể bác bỏ về đời sống xa hoa, trụy lạc, tham ô, của chúng. 
Để bù đắp lại những chi phí khổng lồ cho việc xây dựng kinh thành, lăng tẩm và phục vụ đời sống xa hoa của cả một vương triều và bọn quan lại, không có cách nào khác là huy động sức người và sức của trong nhân dân. Người nông dân phải đóng nhiều loại thuế. Ngoài thuế ruộng đất khá nặng nề họ còn phải đóng thuế đinh và nó trở thành một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của nhà nước phong kiến.


Cánh đồng cạnh núi Dài( Giài )- ảnh dienbatn.
1.2 Đời sống khổ cực của những người lao động
 Chính sách kinh tế của nhà Nguyễn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân cùng với các yếu tố khác, góp phần tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân. Người nông dân phải đi lính, đi phu để phục vụ cho đời sống vốn đã rất xa hoa của bọn thống trị. Những người thợ thủ công cũng phải đóng thuế hết sức nặng nề. Họ vừa phải đóng thuế đinh vừa phải nộp thuế sản phẩm.
Đời sống của người nông dân khổ cực còn do thiên tai gây nên. Dịch bệnh xảy ra làm chết người làm hao mòn sức lực, ảnh hưởng đến sản xuất đến các sinh hoạt cộng đồng khác. Đi kèm theo thiên tai, dịch bệnh là nạn đói triền miên cũng gây không ít nỗi thống khổ cho người lao động. Thiên tai, dịch bệnh, nạn đói làm cho đời sống của người nông dân tại các làng quê Việt Nam khổ cực đã xô đẩy hàng hàng nông dân phải rời bỏ quê hương phiêu tán. Giai cấp cơ bản và đông đảo trong xã hội là nông dân.

1.3   Sự phản kháng của nhân dân 
Vấn đề cơ bản của nông dân là ruộng đất - tư liệu sản xuất chính và cũng là nguồn sống chính. Nhưng những nguyện vọng chính đáng của họ không được đáp ứng và do đó có những phản ứng tùy theo cấp độ. Cấp thấp nhất là đòi chia lại ruộng đất. Cấp cao hơn là ly tán, bỏ quê hương ra đi. Cấp cao nhất thể hiện phản ứng gay gắt của nông dân là tham gia các cuộc khởi nghĩa. Tất nhiên các cuộc khởi nghĩa nổ ra do nhiều nguyên nhân khác nhau (như mâu thuẫn quyền lợi giữa các phe phái, sự bần cùng của người dân, sự bất bình đẳng quyền lợi giữa các tộc người...) Nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu chi phối đến hình thức đấu tranh là do ách áp bức bóc lột của bọn quan lại địa chủ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, liên tục với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Không cam chịu chết dần chết mòn vì đói rét bệnh tật, các tầng lớp bị trị đã vùng lên tìm lối thoát cho sự sống còn của bản thân mình, cũng tức là đấu tranh cho sự tồn tại của xã hội, của cả dân.


Vồ hội trên núi Cô Tô ( ảnh dienbatn )
1.4    Cuộc xâm lược của Pháp và những hậu quả của nó
Chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách sát đạo đã tạo cho thực dân phương Tây cái cớ để chúng thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Ngày 31-5-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược. Chúng muốn chiếm Đà Nẵng để làm bàn đạp tấn công Huế. Nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quan quân của nhà Nguyễn trước họa mất nước. Sau đó, chúng chuyển hướng tấn công Gia Định, vốn là chỗ dựa của Nguyễn Ánh trước đây với mục đích là giành một địa bàn quan trọng và thuận lợi cho việc hành binh và lưu thông thương mại đồng thời để gây sức ép với triều đình Huế qua việc cắt đứt con đường vận chuyển lương thực từ miền Nam ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc, để rồi từ đó Pháp sẽ có điều kiện phát triển chiến tranh sang Campuchia, Lào rồi tiến lên vùng biên giới giữa Lào và Trung Quốc. Để thực hiện dã tâm đó vào tháng 2 năm 1859, Pháp chuyển quân từ Đà Nẵng và tiến dần lên Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2 năm 1859 chúng đánh chiếm những đồn nhỏ trên đường tiến vào Sài Gòn. Mặc dù gặp sức kháng cự nhưng cuối cùng chúng cũng chiếm được và tiến đánh Gia Định. Thành Gia Định với mức độ khá quy mô và kiên cố vào thời bấy giờ cũng không thể bảo vệ được trước sức tấn công của thực dân Pháp. Để rồi sau khi chiếm được thành Gia Định thực dân Pháp tiếp tục mở rộng lấn chiếm các tỉnh khác như Định Tường (Mỹ Tho), Biên Hòa. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đã thừa nhận ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và Côn Đảo thuộc Pháp. Trong khi triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ (vì quyền lợi của dòng họ) thực dân Pháp, nhân dân ta ở các tỉnh bị Pháp chiếm vẫn tiếp tục đấu tranh. Đó là những cuộc kháng chiến đầu tiên và còn tiếp diễn mãi. Đến năm 1867, chỉ trong vòng một tuần thực dân Pháp chiếm các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến đây kết thúc giai đoạn đầu trong kế hoạch chung xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Và cũng từ đây bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử nước ta. Mặc dù vua quan nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ nhưng nhân dân ta với lòng yêu nước không cam tâm nhìn cảnh đất nước bị ngoại bang thống trị vẫn đấu tranh kiên cường. Tôn giáo bản địa ra đời trong tình hình này, hầu hết các tôn giáo bản địa đều chủ trương chịu ơn đất nước và ơn đồng bào nên các đệ tử đều tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tóm lại có thể thấy rằng Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Như sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thế giới.

Núi Cô Tô - Ảnh dienbatn.
Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.
Thứ đến, đó là nơi có nhiều tộc người sinh sống. Đây là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện. Chưa nói đến là nơi đây đã từng có một số tộc người sinh sống nhưng do những lý do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác. Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di cư xảy ra liên tục. Quá trình giao lưu văn hóa, và tiếp biến văn hóa  giữa các tộc người tạo nên sự hội tụ của các nền văn hóa. Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau, và tôn giáo bản địa khi xuất hiện cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố này (hỗn dung tôn giáo của Cao Đài là một thí dụ điển hình).

2.2   Không có hệ tư tưởng chủ đạo chi phối
Có một thực tế là những người nông dân Việt vào Nam Bộ khai hoang lập làng (ấp) ”hầu hết là những người nghèo khổ, dốt nát, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện. Xét về cơ bản, nền giáo dục của lớp cư dân vào Nam Bộ khai hoang van nằm trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo. Đó là nền tảng giáo dục của xã hội Việt Nam thời bây giờ. Nhưng những di dân lại là những người nghèo khó, những người vì những lý do khác nhau đã phải rời bỏ quê hương, môi trường lao động cực nhọc ở miền đất mới không phải là mảnh đất tốt cho Nho giáo bám rễ sâu. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã có ảnh hưởng rất lớn về mọi mặt.  Nhưng một khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó ít học thì khó lòng có thể xác lập được một chỗ trong xã hội để chi phối và ảnh hưởng như nó đã từng có trong xã hội Việt Nam. Vì vậy, việc xuất hiện một tôn giáo bản địa phù hợp với tâm tư ý nguyện của người dân lúc bấy giờ là một điều tất yếu.
Và có thể thấy, đạo Cao Đài ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân Nam Bộ. Trên thực tế, nó có vai trò cố kết người dân không chỉ về mặt tinh thần mà còn về các mặt kinh tế, xã hội. Vì thế đạo phát triển khá nhanh chóng. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây.

 2.3   Điều kiện xã hội của vùng Nam bộ thời đó
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.

2.4 Lòng yêu nước của nhân dân ta
Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và cũng chính điều này mà tôn giáo nào hô hào phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc thì sẽ được nhân dân hưởng ứng một cách nhiệt tình và mãnh liệt.
Như Đạo BSKH nhấn mạnh việc đền ơn đất nước, ơn đồng bào, ơn Tổ tiên, ơn Tam Bảo, ơn đồng loại nên khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tín đồ BSKH tham gia đánh Pháp, biến trại ruộng thành căn cứ kháng chiến (điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Bảy Thưa – Láng Linh (An Giang) từ 1867 đến 1873 do Trần Văn Thành lãnh đạo. Theo tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, Trương Định và Nguyễn Trung Trực cũng là tín đồ BSKH.

2.5 Vai trò lu mờ của Phật giáo và Thiên chúa giáo thời bấy giờ
Thiên chúa giáo và Phật giáo là 2 tôn giáo lớn được du nhập từ Nước Ngoài vào Việt Nam, nhưng Thiên Chúa giáo do Pháp mang vào nước ta nên ít nhiều cũng có thiện cảm với chế độ thực dân Pháp, nên không thấy xuất hiện sự đấu tranh của tôn giáo này với chủ nghĩa thực dân.
Còn Phật giáo thì bị Pháp phong tỏa kềm chặt, lại không xuất hiện những nhân vật uyên bác và linh hoạt để có thể hướng tín đồ của mình trong công cuộc đấu tranh chống Pháp một cách hợp pháp công khai hay bán công khai, do vậy quần chúng yêu nước, không thể dựa vào hai tôn giáo này và việc hưởng ứng với các tôn giáo bản địa khác cũng là một tất yếu.
2. Nguyên nhân ra đời của tôn giáo bản địa
2.1 Vị trí và đặc điểm của miền tây nam bộ
V. KẾT LUẬN
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó ra đời trong những điều kiện xã hội cụ thể và cũng chính những điều kiện cụ thể đó lại chế định vùng ảnh hưởng của tôn giáo. Điều kiện còn thì thì nó còn, và nó sẽ mất đi khi những điều kiện sinh ra nó không còn tồn tại nữa, sự suy thoái kém phát triển của một số tôn giáo bản địa hiện nay đã minh chứng cho quy luật bất biến này.
Qua bài viết trên có thể kết luận rằng, tinh thần yêu nước và đời sống cực khổ của nhân dân, sự đô hộ vơ vét của giặc Pháp, vị trí , đặc điểm và điều kiện của Nam bộ thời bấy giờ cộng với sự suy tàn của Nho giáo, sự lu mờ của các tôn giáo quốc tế khác ở VN đã làm phát sinh nhanh chóng các tôn giáo bản địa tại Việt Nam thời bấy giờ.
Tài liệu tham khảo

1.   GS TS. Ngô Văn Lệ - Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ
2.   Nguyên Hùng -Sư thúc Hòa Hảo NXB TH Hậu Giang 1990
3.   Nguyên Hùng –Người Bình Xuyên NXB CAND 2005
4.   Nguyễn Anh Tuấn & Đỗ Minh Hợp Tôn giáo lí luận xưa và nay - NXB TH TP.HCM 2005
hoangnguyen 

 -
http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:HFEVTQZF_fkJ:sachxua.net/forum/index.php%3Ftopic%3D6511.0+nguy%C3%AAn+nh%C3%A2n+xu%E1%BA%A5t+hi%E1%BB%87n+%C4%91%E1%BA%A1o+gi%C3%A1o+nam+b%E1%BB%99&cd=4&hl=vi&ct=clnk&gl=vn&source=www.google.com.vn
2/ĐÁNH GIÁ THỨ HAI. 
Phật Thầy Tây An - ảnh sưu tầm.
"Đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy nó có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Thực sự đây là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã dược khai sinh không những ở Nam Bộ mà cả ở vùng Ðông Nam Á như Philippines, Indonesia. Có nhiều đạo giáo tương tự hình thành trong những điều kiện nhất định của thời điểm chính trị và không gian xã-hội : khi chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược vùng Ðông Nam Á vào thế kỷ 16 trở đi, dù bọn vua quan phong kiến có đầu hàng hoặc thỏa hiệp với bọn thực dân xâm lược thì tầng lớp sĩ phu và nông dân yêu nước vẫn chống lại bằng mọi hình thức. 
Không thể chống lại công khai bằng bạo lực quân sự, nho sĩ và nông dân với khuynh hướng quốc gia cực đoan, bài ngoại và mê tín đã sử dụng đạo giáo và thần quyền để tập hợp và tổ chức một cách bán hợp pháp hoặc hợp pháp bí mật, hoặc công khai những lực lượng chống xâm lược ngoại bang và sự bóc lột của bọn phong kiến chủ đất, lúc ấy đã đầu hàng hoặc thỏa hiệp với thực dân ngoại bang.
Như vậy bản thể của những đạo giáo trong lúc đó là nông dân, nho sĩ yêu nước, chống phong kiến và chịu ảnh hưởng của những trào lưu đạo giáo cứu thế vốn sẵn có của xã hội Ðông phương. - Nam Bộ, những đạo giáo như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo v.v... cũng đều mang những thuộc tính như vậy.
Hoàn cảnh lịch sử khi ra đời của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào giữa thế kỹ XIX (1849) là trong hoàn cảnh đất nước và xã hội cực kỳ rối ren từ Bắc vào Nam. Trong khi đó xã hội suy thoái, vua quan ngu dốt, bất tài, lại thêm nạn tham nhũng, bóc lột, sưu cao thuế nặng, triều đình kỳ thị chém giết tôn giáo : cấm đạo Gia Tô, cấm lập chùa thờ Phật. Nạn mất mùa, đói kém, kinh tế phá sản, các bệnh dịch hoành hành đã khiến nhiều cuộc khởi nghĩa và bạo động nổ ra khắp mọi nơi. Lợi dụng cơ hội này, thực dân Tây phương tác động bằng nhiều cách để gây rối loạn nhằm thực hiện ý đồ xâm lược. Trong điều kiện lịch sử như vậy, lòng dân ly tán, cố chống lại triều đình và bọn địa chủ mới đang phát triển.
Ở miền Bắc có các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nho sĩ như : Phan Bá Vành năm 1826 (Thái Bình, Nam Ðịnh), Lê Duy Lương năm 1833(Ninh Bình, Hưng Hóa), Nông Văn Vân năm 1833 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang). - miền Nam có cuộc khởi nghĩa của Lê văn Khôi năm 1833. Thực chất đây là cuộc khởi nghĩa của nho sĩ, nông dân nghèo và dân tộc thiểu số chống lại nạn áp bức bóc lột của triều đình, bọn chủ đất và sự đô hộ của thực dân Pháp.
 Phan Lạc Tuyên"
( Xin xem tiếp bài 3 - dienbatn ).

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_24.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_06.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_08.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_13.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_22.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_16.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_19.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/06/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

Read more…

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM . BÀI 1

3/23/2011 |

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .
LỜI DẪN :
Trên mạng internet và trong rất nhiều sách vở đã đề cập đến vấn đề này. dienbatn chỉ xin làm công việc tập hợp và sắp xếp lại để chúng ta có một cái nhìn tổng thể và từ đó hiểu thêm về những Đạo Giáo của Việt Nam.
 Để mở đầu , dienbatn xin đăng lại bài viết của TS. Phan Lạc Tuyên ( người mà ngày xưa , dienbatn có được nghe ông giảng bài trong một khoá về Văn hoá tại Tây Ninh ).


Những đạo giáo (sectes religieuses) ở Nam Bộ
 ___________ Phan Lạc Tuyên 
Ðạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy nó có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Thực sự đây là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã dược khai sinh không những ở Nam Bộ mà cả ở vùng Ðông Nam Á như Philippines, Indonesia. Có nhiều đạo giáo tương tự hình thành trong những điều kiện nhất định của thời điểm chính trị và không gian xã-hội : khi chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược vùng Ðông Nam Á vào thế kỷ 16 trở đi, dù bọn vua quan phong kiến có đầu hàng hoặc thỏa hiệp với bọn thực dân xâm lược thì tầng lớp sĩ phu và nông dân yêu nước vẫn chống lại bằng mọi hình thức.
Không thể chống lại công khai bằng bạo lực quân sự, nho sĩ và nông dân với khuynh hướng quốc gia cực đoan, bài ngoại và mê tín đã sử dụng đạo giáo và thần quyền để tập hợp và tổ chức một cách bán hợp pháp hoặc hợp pháp bí mật, hoặc công khai những lực lượng chống xâm lược ngoại bang và sự bóc lột của bọn phong kiến chủ đất, lúc ấy đã đầu hàng hoặc thỏa hiệp với thực dân ngoại bang.
Như vậy bản thể của những đạo giáo trong lúc đó là nông dân, nho sĩ yêu nước, chống phong kiến và chịu ảnh hưởng của những trào lưu đạo giáo cứu thế vốn sẵn có của xã hội Ðông phương. - Nam Bộ, những đạo giáo như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo v.v... cũng đều mang những thuộc tính như vậy.
1) Ðạo Bửu Sơn Kỳ Hương : 1849

Hoàn cảnh lịch sử khi ra đời của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào giữa thế kỹ XIX (1849) là trong hoàn cảnh đất nước và xã hội cực kỳ rối ren từ Bắc vào Nam. Trong khi đó xã hội suy thoái, vua quan ngu dốt, bất tài, lại thêm nạn tham nhũng, bóc lột, sưu cao thuế nặng, triều đình kỳ thị chém giết tôn giáo : cấm đạo Gia Tô, cấm lập chùa thờ Phật. Nạn mất mùa, đói kém, kinh tế phá sản, các bệnh dịch hoành hành đã khiến nhiều cuộc khởi nghĩa và bạo động nổ ra khắp mọi nơi. Lợi dụng cơ hội này, thực dân Tây phương tác động bằng nhiều cách để gây rối loạn nhằm thực hiện ý đồ xâm lược. Trong điều kiện lịch sử như vậy, lòng dân ly tán, cố chống lại triều đình và bọn địa chủ mới đang phát triển.
Ở miền Bắc có các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nho sĩ như : Phan Bá Vành năm 1826 (Thái Bình, Nam Ðịnh), Lê Duy Lương năm 1833(Ninh Bình, Hưng Hóa), Nông Văn Vân năm 1833 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang). - miền Nam có cuộc khởi nghĩa của Lê văn Khôi năm 1833. Thực chất đây là cuộc khởi nghĩa của nho sĩ, nông dân nghèo và dân tộc thiểu số chống lại nạn áp bức bóc lột của triều đình, bọn chủ đất và sự đô hộ của thực dân Pháp.
Người sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là ông Ðoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh năm 1807 ở làng Tòng Sơn, tỉnh Sa Ðéc (Ðồng Tháp) trong một gia đình nông dân. Ông học bình thường, đọc sách Phật từ lúc cón nhỏ. Ông lập đạo từ năm 1849, lúc ông đã ngoài 40 tuổi và nơi truyền đạo đầu tiên là đình làng Kiển Thạnh, tỉnh Long Xuyên. Thời điểm ông truyền đạo là năm nông dân mất mùa đói kém, nhiều nơi có giặc cướp nổi dậy, bệnh dịch lan tràn, dân chúng điêu linh. Ông vừa giảng đạo, vừa chữa bệnh bằng thuốc và nhiều người đã khỏi bệnh. Họ tin vào pháp thuật của ông. Do đó dân chúng tôn ông làm Phật thầy Tây An vì khi ông chữa bệnh tại Tây An cổ tự ở Châu Ðốc, mọi người gọi ông là "Phật sống". Ông tự gọi đạo của ông là Bửu Sơn Kỳ Hương và có bài thơ truyền tụng :

Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên
Sơn trung sư mạng địa Nam tiền
Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.

và cho rằng Bửu Sơn Kỳ Hương lấy Thất Sơn là nơi xuất phát sẽ tỏa sáng năm châu bốn biển và lúc đó hòa bình thịnh vượng lâu dài. Ðạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tứ đại trọng ân làm nền tảng. Bốn ân lớn đó là :
- Ân tổ tiên cha mẹ.
- Ân đất nước.
- Ân tam bảo.
- Ân đồng bào, nhân loại.
Bửu Sơn Kỳ Hương khuyên mọi người học Phật tu nhơn (tu nhân, tích đức và niệm Phật).
Sau một thời gian truyền đạo, triều đình nghi ông nổi loạn nên ông bị Tổng Ðốc An Giang bắt giam, sau đó ông được thả ra, nhưng ông vị bắt buộc phải tu tại Tây An cổ tự để triều đình dễ bề kiểm soát những hành động của ông. Sau bảy năm giảng đạo, năm 1856 Phật Thầy Tây An viên tịch tại Tây An cổ tự ở Núi Sam (Châu Ðốc) và phần mộ ông nay còn ở đó.
Hai mươi tám năm sau khi ông mất (1884), triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp xâm lược, nhưng phong trào kháng Pháp trong nhân dân lại bùng lên mạnh mẽ ở Nam Bộ. Hầu hết các tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương đều tham gia vào cuộc kháng chiến. Trong số những tín đồ đã có những người là lãnh tụ của cuộc kháng chiến như Trương Công Ðịnh (1862) tức Bình Tây Ðại nguyên soái, Nguyễn Trung Trực (1861) - người anh hùng "Hỏa hồng Nhật Tảo", đốt cháy tàu chiến Espérance của quân xâm lược Pháp tại sông Nhật Tảo, Trần văn Thành (1867) khởi nghĩa tại vùng Láng Linh thuộc tỉnh An Giang. Thực dân Pháp có bọn tay sai giúp đỡ đã đàn áp tàn bạo. Sau khi phong trào kháng chiến chống Pháp tạm thời thất bại, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lại được tiếp tục dưới hình thức giảng đạo trong nông dân vùng An Giang. Trong số những ông đạo có : Ðức Phật Trùm năm 1868 tự nhận là hậu thân của Phật Thầy Tây An giáng thế, cho sử dụng lòng phái màu đỏ có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông Phật Trùm là người Khmer, đã truyền đạo sang cả đất Campuchia. Thực dân buộc tội ông làm loạn và bắt đi đày nhưng sau đó thả về. Ông mất tại núi Tà Lơn năm 1875.
2) Ðạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa :

Người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là ông Ngô Viện, húy là lợi nên gọi là Ngô Lợi. Ông sanh năm 1831 tại Mỏ Cày (Bến Tre), ông tự học lấy, đọc sách Phật và năm 20 tuổi viết Bà La Ni kinh. Ông lập đạo năm 36 tuổi (1876), tự xưng là Ðức Bổn sư và khi nhận đệ tử, ông cũng phát lòng phái có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương.
Năm 1872, ông đưa các tín đồ tới xã An Lộc (An Giang) dựng chùa, thành lập và truyền bá đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (TÂHN). Sau đó ông đưa một số đệ tử vào vùng Thất Sơn (Bảy Núi) khai hoang lập trại ruộng ; và trong 14 năm lập ra bốn thôn : An Ðịnh, An Hòa, An Thành và An Lập, thôn nào cũng đều cất chùa giảng kinh.
Ðạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ trần điều, thờ Phật, Sơn thần và trăm quan cựu thần liệt sĩ. Về giáo lý, ông Ngô Lợi tiếp tục hoằng pháp như Bửu Sơn Kỳ Hương : Tứ đại trọng ân, học Phật tu nhơn nhưng không ly gia cát ái, không ăn chay trường và cũng hạn chế sát sanh. Về cách đối nhân xử thế thì theo đạo Nho, đạo Lão và theo Thiền Tông. Tín đồ TÂHN mặc áo vạt hò, quần lá nem nhuộm đen, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên, đi chân đất, trước cửa nhà có bàn thờ thiên hai tầng, thờ thiên La thần và Thổ Trạch Long thần. Các tín đồ tụng riêng những kinh của đạo này lập ra như : Phổ Ðộ Bàn Ðào, Linh Sơn Hội Thượng...
Pháp môn tu hành của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là :
- Trì niệm theo Thiền tông ;
- Xử sự theo Nho giáo.
- Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo.
- Ấn quyết, thần chú theo Mật tông.
Vào ngày 15 tháng 07 năm Tân Tỵ (1881), nhân dịp một buổi hành lễ lớn, thực dân Pháp cho quân vào đàn áp, bắt bớ bắn giết khiến mọi người phải chạy lánh nạn sang Campuchia, sau đó ít tháng lại trở về chỗ cũ. Năm 1885, thực dân Pháp lại đem quân vào càn quét lần thứ hai, đốt phá chùa chiền, khiến mọi người phải chạy trốn, nhưng sau đó ông Ngô Lợi lại dẫn tín đồ trở về. Năm 1887, thực dân Pháp lại cùng tay sai là Tổng đốc Trần Bá Lộc kéo quân vào đàn áp hai lần, bắt nhiều tín đồ đày ra Côn Ðảo và bắt buộc các tín đồ còn lại phải trở về nguyên quán. Năm 1888, ông Ngô Lợi lại bị bắt nhưng trốn thoát nhờ sự che chở của nhân dân quanh vùng này. Như vậy trong 12 năm (1876-1888), thực dân Pháp đã đàn áp đạo TÂHN bảy lần (tín đồ gọi là đạo nạn), đốt phá chùa chiền, bắt bớ, tra tấn, tù dày và đốt nhà cửa tín đồ, quyết triệt hạ đạo một cách vô cùng man rợ.
Ðức Bổn sư Ngô Lợi viên tịch năm 1890 tại núi Tượng. Ít lâu say đó có sự phân hóa trong đạo TÂHN. Vì không còn ai kế vị nên mọi việc đều giao cho ông Trò, ông Gánh phụ trách. Do vậy, mỗi nơi hành đạo khác nhau, thậm chí có một số vị làm phù chú chữa bệnh rơi vào sự mê tín dị đoan làm sai lạc giáo lý ban đầu của đạo. Cho đến năm 1902, tại vùng kinh Vĩnh Tế xuất hiện một nhà sư vóc dáng gầy ốm, ăn mặc kiểu đàn bà, chèo thuyền vừa đi bán khoai vừa giảng đạo "Sấm giảng người đời" được một thời gian thì mất dạng. Dân trong vùng gọi là Sư Vãi bán khoai. Tín đồ TÂHN cho đó là hậu thân cúa Phật Thầy Tân An tái xuất hiện để giảng đạo cứu đời.
3) Ðạo Hòa Hảo :

Người lập ra đạo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ, sinh năm 1918 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh An Giang (có sách nói sanh năm 1919). Theo tín đồ đạo Hòa Hảo thì họ tin ông là hậu thân của Phật Thầy Tây An đã nhiều lần chuyển kiếp qua đức Bổn sư Ngô Lợi (1831) (TÂHN), đức Phật Trùm 1868 và Sư Vãi Bán Khoai (1902). Ông lập đạo Hòa Hảo năm 1939 và cũng vừa đi chữa bệnh vừa đi giảng đạo. Ông bị Pháp bắt năm 1940, cho vào nhà thương điên Chợ Quán, sau họ đưa ông về giam Bạc Liêu. Khi Nhật hất Pháp (1945), quân đội Nhật cứu ông Huỳnh Phú Sổ mang về Sài Gòn và trả tự do cho ông năm 1944, từ đó ông tiếp tục đi khuyến nông và giảng đạo trong khu vực Hậu Giang... Năm 1945, ông Huỳnh Phú Sổ có tham gia UBKCNB (Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ) và sau đó mất tích trong một trường hợp khó hiểu vào tháng Tư 1947 tại Ðốc Vàng (Ðồng Tháp Mười) mà tín đồ Hòa Hảo ngày nay cho rằng ông tạm vắng mặt (?).
Ông Huỳnh Phú Sổ được tín đồ tôn là Huỳnh Giáo chủ, vẫn lấy giáo lý Tứ Ân làm căn bản nhưng chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, bỏ lệ cúng kiến, gõ mõ tụng kinh và không vẽ hình đúc tượng. Ông soạn ra một số kinh sách như : Sấm giảng người đời, Thi văn giáo lý... Tại mỗi thôn ấp đều có Ðộc giảng đường để giảng giáo lý Hòa Hảo.
Cuối năm 1944, ông Huỳnh Phú Sổ lập ra Việt Nam Nghĩa sĩ đảng (đảng Dân xã), Mặt trận Quốc gia thống nhất và Mặt trận Quốc gia liên hiệp nhằm mục đích cũng cố địa vị của hoạt động này trong hoạt động chính trị.
Sau khi ông Huỳnh Phú Sổ biệt tích, một số đệ tử như Năm Lửa (Trần văn Soái), Phàn Lê Huê (Nguyễn thị Gấm - vợ Năm Lửa), Hai Ngoán (Lâm Thành Nguyên), Ba Gà Mổ (Nguyễn Giác Ngộ), Chín FM, Trương Kim Cà đua nhau tập hợp tín đồ, thành lập lực lượng vũ trang riêng, cát cứ từng vùng để "mưu đồ bá vương", bóc lột lớp tín đồ nông dân sùng đạo, và có khi họ đánh lẫn nhau. Số chức sắc này hợp tác với Pháp và sau đó lại về đầu hàng Diệm - Nhu (Nguyễn Giác Ngộ được phong thiếu tướng, Ba Cụt trung tá). Nhưng sau ít lâu họ lần lượt bị Diệm - Nhu sát hại hoặc thanh toán bằng cách này hay cách khác. Trong chế độ thực dân cũng như tay sai của đế quốc, một số người đầu cơ chính trị đã lợi dụng đạo Hòa Hảo để truyền bá mê tín, lừa dối nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, đưa họ vào những hành động sai trái đối với Tổ quốc như Hai Lực chỉ huy nóm Dân vệ Hòa Hảo, nhóm Hai Bành... Thế lực đế quốc ngoại bang cũng đã âm mưu lâu dài gây ảnh hưởng văn hóa - kinh tế trong vùng nhân dân Hòa Hảo bằng nhiều biện pháp kinh tế và văn hóa, đặc biệt là đã thành lập Viện đại học Hòa Hảo và cho nhiều sinh viên, trí thức Hòa Hảo đi du học ở Mỹ, Pháp, Nhật...để gây cơ sở và uy tín trong giới trí thức.
Từ 1954 tới ngày giải phóng miền Nam, một số đông anh em binh sĩ trong các trung đoàn của Ba Cụt cũ (trung đoàn Nguyễn Huệ, Lê Quang) ở vùng Ðồng Tháp Mười đã cùng với những cán bộ kháng chiến cũ thành lập lực lượng vũ trang chống Diệm - Nhu từ 1957 và những đơn vị này đã tham gia tích cực vào cuộc đồng khởi ở Ðồng Tháp năm 1960.
4 ) Ðạo Cao Ðài :

Nếu những đạo giáo khác như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo phát triển trên cơ sở nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long thì đạo Cao Ðài lại mang bản thể hoàn toàn khác hẳn. Ðạo này được lập ra do một số công chức hạng trung của chế độ thực dân Pháp và những đại diện chủ nghĩa tư sản và công chức của Pháp (từ tri huyện đến thông phán, ký lục, hội đồng...) và phát triển chủ yếu ở Sài Gòn, các đô thị và thị trấn miền Ðông Nam bộ, nơi có tòa thánh Cao Ðài Tây Ninh. Sau đó phát triển ra miền Trung ở Quảng Ngãi và có một thánh thất ở Hà Nội. Ðạo này có tham gia những cuộc họp tôn giáo ở nước ngoài và có lập thánh thất tại Phnom Pênh. Một số bà con Khmer ở Tây Ninh cũng vào đạo Cao Ðài.
Ðạo Cao đài được thành lập là do Ðức Cao Ðài giáng cơ cho ông Ngô Văn Chiêu lúc đang làm Tri phủ ở Phú Quốc vào năm 1921. Năm 1925 ông được đổi về Sài Gòn và cùng lúc đó nhóm của một số công chức của Pháp như Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư... cũng cầu được cơ của Ðức Cao Ðài tìm đến và bàn nhau lập đạo. Sở dĩ đạo có tên gọi "Tam kỳ phổ độ" là vì đã có hai kỳ thượng đế đã lập đạo, nay Cao Ðài là lần thứ ba và lấy thiên nhãn làm biểu tượng.
Ðạo Cao Ðài chủ trương thống nhất các tôn giáo :
Phật giáo : Thích Ca Mâu Ni
Tiên giáo : Lão Tử
Nho giáo : Khổng Tử
Thánh giáo : Jésus Christ
Thần giáo : Mahomet
Việc lãnh đạo giáo hội do ba cơ quan là Bát quái đài, Hiệp thiên đài do Hộ pháp cai quản và Cửu trùng đài do Giáo tông cai quản. Phía trước Tòa thánh Tây Ninh có vẽ thiên nhãn và một bảng hiệu trong có ghi hàng chữ : Dieu, Humanité, Amour, Justice (Thượng đế, Nhân loại, Tình thương, Công lý) và hình ba vị thánh là Tôn Dật Tiên, Victor Hugo và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài ra đạo Cao Ðài còn thờ các vị thần, thánh của các tín ngưỡng và tôn giáo khác như : Brahma, Civa, Krishna (Vishnou), Khương Thái Công, Quan Công, Lý Thái Bạch, Quan Thế Âm. Về kiến trúc, điêu khắc, cách thờ phụng, y phục, kinh kệ của đạo Cao Ðài là sự pha tạp, hỗn hợp của đủ các thứ tín ngưỡng và tôn giáo Ðông, Tây, kim, cổ ; do đấy được mệnh danh là đạo hỗn hợp (Syncrétisme). Ðạo Cao Ðài có xu hướng thân Nhật ngay từ đầu và suốt từ 1945 đến 1954, lúc thì họ hợp tác với Nhật để đánh Pháp (Trần Quang Vinh chỉ huy quân lực Cao Ðài), lúc thì họ hợp tác với Pháp để chống lại nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (lực lượng Cao Ðài của Nguyễn Thành Phương, Lê văn Tất). Sau hiệp định Genève (1954), họ lại hợp tác với Diệm -Nhu (Trịnh Minh Thế, Nguyễn Thành Phương...). Cũng có một số tín đồ Cao Ðài đã giác ngộ Cách mạng và tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, liên hiệp hành động với MTDTGPMNVN như lực lượng Cao Ðài của thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng đã liên hiệp hành động với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trong thời kháng chiến chống Mỹ.
Tín đồ Cao Ðài phần lớn ở khu vực Tây Ninh, Bến Tre và thành phố Hồ Chí Minh. Tới nay đạo này đã phân hóa thành nhiều nhóm và không thống nhất với nhau. Số tín đồ toàn Nam bộ lối một triệu người. Ðạo Cao Ðài chia ra nhiều chi phái như Cao Ðài Nguyễn Ngọc Tường, Cao Ðài Câu Khe, Minh Ký...
5 ) Ðạo Dừa :

Ðạo Dừa do ông Nguyễn Thành Nam sanh năm 1909 tại Phước Thạnh (Bến Tre) lập ra. Ông đậu kỹ sư hóa học ở Pháp, đã có vợ con. Ðến năm 1943, ông bỏ gia đình vào núi Thất Sơn tu khổ hạnh. Một thời gian sau, ông trở về và ở nhiều nơi để tu đạo, từ Sài Gòn tới Mỹ Tho, Bến Tre. Ðến năm 1964 ông dựng tại cồn Phụng thuộc tỉnh Bến Tre một đài bát quái cao 18 mét để ngồi tu, người ta đồn rằng hàng ngày chỉ uống nước dừa để sống, do đấy có tên là Ðạo Dừa. Ông cũng có ăn thêm trái cây và đặc biệt vài năm mới tắm có một lần và ở trên đầu tóc đanh lại. Ðạo Dừa chủ trương thờ cả Phật Thích Ca lẫn Chúa Jésus, không dựng cốt Phật, chỉ dựng Cửu trùng đài và theo cả giáo lý Phật, Lão, Nho. Sau mỗi lần tụng niệm (những bài tụng do ông viết ra) đều đọc Nam Mô A Di Ðà - Amen. Ông tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình Nam Nguyễn Thành, và nơi tu tại cồn Phụng có tên là chùa Nam Quốc Phật. Ông mua một chiếc tàu cũ, sửa lại và đặt là thuyền Bát nhã (nay là nhà hàng nổi của Công ty Ăn uống tỉnh Bến Tre), lấy làm nơi tu hành. Trong thời chiến tranh chống Mỹ, có một số người Mỹ đến tu với ông Ðạo Dừa, trong số này có con trai của nhá văn J. Steinbeck với những lý do không bình thường. Tín đồ Ðạo Dừa ngày càng phân hóa thành nhiều nhóm nhỏ đi các nơi lập chùa miếu như nhóm Ðạo Chín Hồng ở Thủ Ðức, nhóm Nguyễn Văn Sự ở Long Thành, nhóm Hòa đồng tôn giáo của Lý Văn Thạnh ở Chợ Lớn... mang nặng tính mê tín dị đoan. Số tín đồ Ðạo Dừa không đông lắm, chỉ tập trung tại cồn Phụng và không có ảnh hưởng tới nơi khác.
6 ) Những nhóm đạo giáo khác :

Ngoài những tôn giáo lớn và đạo giáo kể trên tại Sài Gòn và Nam bộ, còn có nhiều nhóm đạo giáo khác được hình thành, nhất là sau hiệp định Genève 1954.
Ta có thể kể đến :
- Hội Thông thiên học.
- Ðạo Ba-hai (Baha'i-gốc ở Arab).
- Ðạo Subud (gốc ở Indonesia).
- Việt Võ Ðạo.
- Hồng môn Minh đạo.
- Tổ tiên Chính giáo.
- Thiên khai Huỳnh đạo.
 và v.v...
Những nhóm đạo giáo này không phát triển rộng rãi và chỉ có một số ít đồng bào theo đạo vì tin vào "phép lạ", thần quyền và mê tín dị đoan. Sau ngày giải phóng miền Nam (30.04.1975), những nhóm đạo giáo này phần lớn đã tự giải tán. Ðể ổn định và hóa giải những sự tồn tại trong các đạo giáo kể trên, điều quan trọng là chúng ta phải thấy đại đa số tín đồ các đạo này là nông dân nghèo, chưa có trình độ văn hóa và khoa học nên dễ bị ảnh hưởng về dị đoan mê tín, thần quyền. Ðồng thời bà con nông dân đều có tinh thần yêu nước nồng nàn, có tâm hồn chất phác, cần cù chịu khó, hào hiệp và có truyền thống bảo vệ văn hóa dân tộc.
Giải quyết vấn đề ở đây cơ bản vẫn phải là nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, đưa khoa học kỹ thuật vào cuộc sống, chống quan liêu, tham nhũng, bóc lột, dù bất cứ dưới dạng nào. Vấn đề công bằng xã hội, tự do tín ngưỡng phải được bảo đảm triệt để, để bảo đảm thực thi chính sách, đường lối của Nhà nước./.

Phan Lạc Tuyên
Nguyệt San Giác Ngộ số 30-32 (tháng 9/1998)
Nguyên Ninh đánh máy
( Xin xem tiếp bài 2 - dienbatn ).

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_24.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_06.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_08.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_13.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_22.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_16.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_19.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/06/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

Read more…

ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.BÀI 6

3/15/2011 |
ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.


PHẢN HỒI.
dienbatn xin giành riêng bài này để đăng những phản hồi từ bài viết.
Kính chào Dienbatn và Quý Phật tử!
Trước tiên chúng tôi xin chân thành cảm ơn dienbatn, người trực tiếp gặp gia đình tôi trước khi cho đăng tải bài này và các quý Phật tử đã đọc và hồi âm về cuốn sách. Tôi rất xúc động khi đọc được những cảm nhận và đóng góp  chân tình của Quý Phật tử.
 Cho phép tôi và tất cả thành viên trong gia đình được có đôi lời phúc đáp về câu chuyện xung quanh “Huyền thoại PHẬT ĐỊA MẪU giáng trần về một gia đình dòng họ Nguyễn” mà đại gia đình tôi đã viết và được Dienbatn đăng tải.
   Qua 5 bài viết mà dienbatn đã đăng tải:
          Bài 1: dienbatn đã giải thích với quý vị PHẬT ĐỊA MẪU là ai, quyền năng của Đức Phật Mẫu. Và sự tích hớn rước Diêu Trì.
          Bài 2: Dienbatn đã đưa toàn bộ nội dung trong quyển Địa Mẫu chân kinh.
           Bài 3 và bài 4: Dienbatn đã đăng toàn bộ quyển “Huyền thoại PHẬT ĐỊA MẪU giáng trần”. Những bài này chúng tôi mong quý vị đọc và suy ngẫm.
Riêng bài 5 chúng tôi xin có chút ý kiến riêng của mình, xin được thảo luận cùng quý vị. .
        Trong bài này Dienbatn đã đăng tải một đoạn  của báo Giác Ngộ nói về Kinh Địa Mẫu. Bài báo này tôi cũng đã đọc từ lâu rồi nhưng nghĩ rằng đó là sự nhận thức và hiểu biết của “Những vị lãnh tụ tinh thần” như dienbatn đã viết nên cũng không có ý kiến gì. Nay đúng là nhân duyên mà dienbatn đã đăng tải để tất cả chúng ta cùng thảo luận. Theo những gì đã xảy ra với đại gia đình tôi từ năm 2008 đến nay, tất cả thành viên trong đại gia đình chúng tôi hiểu được những điều sâu xa trong KINH ĐỊA MẪU và tôi tin rằng tất cả những ai đã  hành trì Kinh Mẫu (đúng đường) đều hiểu được con đường mà MẪU dạy. Vậy “ Những vị lãnh tụ tinh thần “ của Báo Giác Ngộ dựa vào đâu để nói rằng  Kinh Địa Mẫu “lợi dụng kinh Phật và ảnh hưởng Phật giáo để chiêu dụ những Phật tử sơ cơ và không nên đọc tụng?”. Xin quý vị nhớ cho rằng dù tôi hay quý vị cũng chỉ là những con người bình thường, không nên phán xét bất cứ chuyện gì khi chúng ta không biết được chân tướng. Riêng chúng tôi cảm nhận được rằng kể từ khi chúng tôi được hành trì theo Kinh Địa Mẫu và được sự dạy dỗ, dẫn dắt bằng tâm linh của đức Hộ Pháp,ông bà,cha mẹ thì tất cả thành viên trong đại gia đình chúng tôi đều thay đổi theo hướng thiện. Và chúng tôi xin lưu ý quý độc giả rằng, theo con đường của Phật Mẫu thì trước hết phải là chữ Hiếu. Nếu mỗi con người chúng ta sinh ra đối với Ông bà, cha mẹ mình mà không có chữ hiếu thì chúng ta sẽ chẳng làm được điều gì tốt đẹp cho xã hội. Chúng tôi hàng ngày kiểm điểm bản thân mình và sửa chữa những lỗi lầm, sống vị tha và tất cả lấy chữ Nhẫn làm đầu. Dĩ nhiên là còn tùy duyên nghiệp của mỗi người mà chúng tôi giác ngộ nhanh hay chậm.  Phật Địa Mẫu đang hướng gia đình tôi trước tiên là theo con đường Phật dạy. Bằng chứng là vào thời điểm Phật Mẫu giáng về gia đình tôi thì cùng lúc đó Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam - nơi anh Vương, cháu Hùng và cháu Hương công tác và học tập được tặng 1 bộ kinh Phật gồm 72 quyển của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh. Hiện nay  gia đình tôi đang đọc tụng bộ KINH A HÀM và bộ KINH ĐẠI BÁT NHÃ. Có thể quý vị cho rằng đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng chúng tôi thì không nghĩ thế. Về tâm linh thì không có gì là ngẫu nhiên và cũng không có gì là rõ ràng cả, chỉ có những người có tâm linh mới nhận được điều này. Một điều nữa chúng tôi muốn nói là đức Hộ Pháp về dẫn dắt đại gia đình tôi  là ai, có phải là ở trong ngôi tam bảo của các chùa chiền không? Nếu là như vậy thì có sự liên quan gì giữa Phật Mẫu và Đạo Phật? Có đúng như dienbatn nói ở phần trước: PHẬT MẪU là Mẹ của vạn linh và chư vị Phật đều là con cái của NGƯỜI? Và giờ đây trong thời kỳ mạt pháp này NGƯỜI mới đích thân xuống phàm trần để cứu vớt những đứa con quay đầu hướng thiện. Về phần này chúng tôi muốn nói rất nhiều nhưng xin để dịp khác. Chúng tôi chỉ muốn gởi đến “Những vị lãnh tụ tinh thần” của Báo Giác Ngộ “giác ngộ” ra những điều mình đã viết. Và xin gởi đến quý vị Phật tử nỗi niềm của chúng tôi. Chúng tôi muốn minh oan cho quyển ĐỊA MẪU CHÂN KINH. Chúng tôi tự hào là những người con của Phật Mẫu. Suốt thời gian những điều  chúng tôi cảm nhận được là vô cùng quý giá cho tất cả những ai hành trì Kinh Mẫu nói riêng và Phật tử nói chung.
Tới đây tôi xin mạn phép có đôi lời với các độc giả đã góp ý kiến trên diễn đàn này.   
   Thứ nhất là ý kiến của một người bạn rất thân của dienbatn mà tôi không được hân hạnh biết tên. Những dòng tâm sự của bạn, những hiểu biết về tâm linh và cả những lo lắng của bạn  cho đại gia đình chúng tôi, chúng tôi cảm kích vô cùng và xin bạn cứ an tâm. Chúng tôi biết mình vẫn là những con người bình thường. Chỉ khác là giờ đây chúng tôi làm việc gì cũng đều cân nhắc kỹ lưỡng, chọn những điều thiện mà làm. Vâng có lẽ không nhờ đức Hộ Pháp và ông bà các cụ dạy bảo giờ đây chúng tôi không đi đúng đường được đâu. Bởi vì con đường tu rất khó, tu theo Kinh Mẫu lại càng khó hơn. Vì vậy rất nhiều người tu theo kinh Mẫu khi nghiệp phải trả họ rất sợ mà họ không biết rằng đó là phước đức rất lớn vì nếu không trả nghiệp làm sao được giải thoát. Và trên con đường tu Ma vương luôn song hành. Nếu bạn biết bộ phim Tây Du Ký thì bạn sẽ hiểu con đường của chúng tôi cũng trải nghiệm gần như thế ấy. Chỉ có điều phim ảnh họ phóng đại lên và thần thánh hơn thôi. Sự trải nghiệm hai năm qua về cái thiện và cái ác trong đại gia đình giúp chúng tôi vững vàng hơn trên con đường mà chúng tôi đã chọn. Những lời giáo huấn của đức Hộ Pháp và ông bà, cha mẹ. Chúng tôi không bao giờ quên và lấy đó làm hành trang để đi tiếp trên con đường tu của mình. Chúng tôi sẽ không để cho tâm mình mụ mị và trở thành mê tín dị đoan đâu. Xin bạn yên tâm nhé.
Về ý kiến của độc giả Thichquangnhân, chúng tôi xin lỗi vì không biết xưng hô thế nào cho phải, nhưng nghe cái tên tôi thiết nghĩ có lẽ là một vị hòa thượng hay chí ít cũng là Thầy Tăng hay Phật tử. Những điều mà ông nói là những sự hiểu biết rất sâu xa trong đạo Phật. Và cũng đúng với những gì Phật Mẫu đã và đang dẫn dắt chúng tôi. Xin cảm ơn ông.
Và một độc giả khác chỉ có đôi dòng cảm xúc mà làm cho chúng tôi xúc động thật sự. Bạn nói rằng đọc quyển sách  huyền thoại này mà muốn khóc hoặc khóc  thì chính bạn  là người rất có thiện tâm và sự nhạy cảm. Vì khi đọc một câu chuyện của một gia đình xa lạ mà rưng rưng muốn khóc điều đó không phải ai cũng thế đâu.  Còn những quý vị không có tín tâm, không tin vào tâm linh và trời Phật thì tôi không có gì để nói vì con đường của bạn không phải là con đường của chúng tôi và con đường của chúng tôi không phải là con đường của bạn.
Xin kính chào.
Chúc Dienbatn và các quý Phật tử một ngày an lành!         
Nguyễn Văn Vương.




* Giao
17:26 12-03-2011
Đọc lời phê của các vị chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho kinh Địa Mẫu mà nản quá, huynh à !
Giao

04:23 18-03-2011
Đức Hộ Pháp mà bạn nhắc đến, rồi cho rằng đó là đức hộ pháp ở trong các ngôi chùa thường thấy, nhưng theo thiển ý của tôi, đó có thể là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc,
Kinh thì là Phật Mẫu Diêu Trì, đấng giáng xuống cũng là Phật Mẫu Diêu Trì, và bây giờ thêm chi tiết về Đức Hộ Pháp, vậy có thể bạn được tiếp dẫn tới Đạo Cao Đài.
Giao.

Read more…

ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI. BÀI 5.

3/12/2011 |
ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI. BÀI 5.

PHẦN CUỐI : CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI

PHÁT NGUYỆN :
 Con không xin vào Niết bàn ,
Mà nguyện hướng về Địa ngục .
Cầu cho ngọn lửa ngục hóa Sen vàng .
Con không xin vào cõi Phật ,
Mà nguyện hướng về đao sơn ,
Cầu cho gươm giáo hóa Đạo tràng .
Con không vào Tịnh Quốc ,
Mà nguyện làm chiếc đò ngang ,
Ngày đêm chở hết nỗi trái oan ,
Tâm như Đại hải ,
Tâm như Kiều thuyền .
Con nguyện ở lại .
Cõi Ta Bà lửa ngút máu oan khiêm ...
Trải lòng thương xót khắp nẻo ưu phiền .
Địa ngục xuống lên ,
Luân hồi qua lại ,
Quán Kỳ âm thanh - Con nguyền tự tại .
Xem tiếng kêu mà phiền não độ qua .
Bao giờ Địa ngục còn ma ,
Muỗi mòng còn khổ - Ta Bà còn QUÁN ÂM .

 Phật pháp có tới bốn vạn tám ngàn Pháp môn , tuỳ duyên chúng sinh mà biến hiện . Những gì mà dienbatn đã nghe, đã thấy tại gia đình anh Vương , dienbatn tin đó là sự thực. Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu , là một vị Phật Mẫu theo tín ngưỡng dân gian của loài người , không có trong danh mục các vị Phật của Phật Giáo. Trên khắp thế giới này , tục thờ Phật Địa Mẫu đã có từ rất lâu trước khi đức Phật Thích ca ra đời. Miền Bắc Việt Nam từ ngàn xưa đã có phong tục thờ Địa mẫu như việc thờ cúng Tứ Phủ ( Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa phủ). Tại vùng Luy Lâu ( Bắc Ninh ) từ thời Tì ni đa lưu chi (580) cũng đã thấy xuất hiện thờ Phật mẫu Man Nương. Ngay từ thời các Thế Đại Vương triều Hùng Vương đã có sự tích báng chưng bánh dày dâng lên thờ cha mẹ ( Trời tròn - đất vuông ). Người Chăm cũng thờ Pô inư Naga ( Bà Chúa Xứ - Một biến hiện của Phật Địa Mẫu), tại núi Sam - Châu Đốc có Miếu Bà Chúa Xứ rất linh thiêng, hàng năm có hàng vạn người về lễ hội. Tại toà Thánh Tây Ninh, hằng năm, vào đêm rằm Trung Thu (15 tháng 8 âm lịch), tại Báo Ân Từ, Đền Thờ tạm Đức Phật Mẫu trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh có tổ chức một buổi lễ long trọng gọi là Hội Yến Diêu Trì Cung, trong đó có buổi tiệc dâng Tam Bửu : Hoa Quả, Rượu, Trà lên Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Như vậy ta có thể thấy rằng : tín ngưỡng thờ Cha Trời - Mẹ Đất là một tín ngưỡng dân gian , có trước cả khi Phật gíáo ra đời. Phật lịch năm 2011 là 2555, như vậy không có nghĩa là 2555 năm trước không có Phật.
 Việc hiểu và cảm nhận về đức Phật Địa Mẫu như thế nào là do phước báu của từng con người, tuỳ cơ địa của từng người mà nhận biết. Ngay cả Báo Giác Ngộ là tiếng nói của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng có bài giải thích sai lầm về Đức Mẹ Địa Mẫu : " Đọc xong Tuyển tập kinh - Kinh Địa Mẫu, tuy kinh được phát hành dưới dạng “lưu hành nội bộ” để ấn tống, không có tên người hoặc đơn vị chủ trương, không có tên nhà xuất bản nhưng chúng tôi vẫn xác định được rằng kinh này của ngoại đạo, không nằm trong danh mục kinh sách Phật giáo. Nội dung kinh tập trung giới thiệu sự tích, quyền năng và công hạnh của đức Diêu Trì Kim Mẫu (còn gọi Phật Mẫu Diêu Trì) cùng với những lời khuyến cáo tin tưởng, răn nhắc tu hành.
Theo Cao Đài Từ điển, soạn giả Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng, Phật Mẫu là hóa thân đầu tiên của Đức Chí Tôn (Ngọc hoàng Thượng đế) chưởng quản khí Âm quang và toàn thể càn khôn vũ trụ. Hết thảy vạn linh, tất cả sự sự vật vật đều do Phật Mẫu tạo ra. Phật Mẫu được tôn xưng với nhiều danh hiệu khác nhau như: Phật Mẫu (mẹ thiêng liêng của vạn linh và chúng sanh), Diêu Trì Kim Mẫu (vì Phật Mẫu ngự tại cung Diêu Trì), Kim Bàn Phật Mẫu (vì chưởng quản Kim Bàn - nơi Phật Mẫu dùng chứa các nguyên chất để tạo Chơn thần cho con người nơi cõi thiêng liêng), Cửu Thiên Huyền Nữ (Phật Mẫu ngự tại từng thứ 9 trong Cửu trùng thiên), Mẹ thiêng liêng, Đại từ mẫu, Thiên hậu, Địa mẫu, Mẹ sanh.
Phật giáo luôn tôn trọng các tín ngưỡng và tôn giáo khác. Tuy nhiên, Tuyển tập kinh - Kinh Địa Mẫu sử dụng rất nhiều yếu tố Phật giáo, có thể khiến cho những người Phật tử sơ cơ nhầm lẫn đây là kinh Phật nên chúng tôi phải miễn cưỡng bàn luận. Trước hết, bìa kinh in hình Diêu Trì Kim Mẫu rất giống hình Bồ tát Quán Thế Âm, lại ghi Phật lịch 2552, khá giống với quy cách của kinh sách Phật giáo. Thứ đến, phần mở đầu Nghi thức tụng kinh Địa Mẫu có đủ các chân ngôn của Phật giáo như: Tịnh pháp giới, Tịnh tam nghiệp, Phổ cúng dường. Phần xướng lễ Phật-Pháp-Tăng, tuy nội dung không phải là kính lễ Tam bảo của Phật giáo nhưng cũng khiến cho những người chưa mấy am tường về Tam bảo nhầm lẫn.
Đặc biệt Phật A Di Đà và Phật Di Lặc (hai vị Phật quá khứ và tương lai của Phật giáo) cũng được kinh này xưng danh hiệu và kính lễ. Nhất là sau phần chánh kinh (Địa Mẫu chơn kinh, Địa Mẫu diệu kinh), đến xướng lễ Lạy Địa Mẫu (tr.63-64, sđd) có đoạn: “Nam mô Địa Mẫu ân độ sanh vô lượng/Ân bảo trì cứu tử lại vô biên/Mẹ của nhân gian, mẹ Thánh mẹ Hiền/Hàng Phật tử chúng con nguyền ghi nhớ” (lạy 1 lạy) và “Nam mô Địa Mẫu xin mẹ ban ân lành/Cho Việt Nam Phật giáo thịnh hành/Được tôn nghiêm mầu nhiệm với viên thành/Cho con mẹ bốn phương đều kính mẹ” (lạy 1 lạy). Ở hai đoạn này có hai từ quan trọng là “Phật tử” và “Việt Nam Phật giáo” đã đề cập trực tiếp đến Phật giáo Việt Nam. Thiết nghĩ, trong kinh điển Phật giáo không tôn thờ vị Phật hay Bồ tát nào tên Địa Mẫu (Diêu Trì Kim Mẫu) cả. Ở đây có một sự gán ghép hết sức khiên cưỡng, thiếu thành ý và không thể chấp nhận của người biên soạn Tuyển tập kinh - Kinh Địa Mẫu. Quan trọng hơn, Tuyển tập kinh - Kinh Địa Mẫu đã sử dụng nguyên văn Tâm kinh Bát nhã (tr.66, sđd), thần chú Vãng sanh lồng ghép, chắp nối vào nhằm lạc dẫn người đọc là kinh Phật. Tiếp theo sau thần chú Vãng sanh, bài Xưng tán có đoạn: “Chúng Thích tử kiền thiền xưng tán/Đấng Mẫu nghi vô lượng lợi sanh”. “Chúng Thích tử” là một thuật ngữ Phật giáo, chỉ cho Tăng Ni và Phật tử đệ tử của Đức Phật. Và rõ ràng ngay trong lời quy nguyện đầu tiên, “Quy y Phật không quy y trời, thần, quỷ vật” nên “chúng Thích tử” không ai kiền thành xưng tán “Đấng Mẫu nghi” cả.
Như vậy, dù Tuyển tập kinh - Kinh Địa Mẫu chỉ lưu truyền dưới dạng “lưu hành nội bộ” nhưng tác giả kinh này khi biên soạn đã có chủ ý lợi dụng kinh Phật và ảnh hưởng Phật giáo để chiêu dụ những Phật tử sơ cơ. Do đó, hàng Phật tử không nên đọc tụng, lưu hành và ấn tống kinh này. Mỗi khi gặp những kinh lạ, hàng Phật tử phải thỉnh ý chư Tăng Ni duyệt lãm trước khi đọc tụng, hành trì để tránh lầm lạc, rơi vào tà kiến và những hậu quả đáng tiếc.
Chúc bạn tinh tấn!
TỔ TƯ VẤN
http://www.giacngo.vn/tuvan/2009/07/27/734602/"

Thật đáng tiếc cho một hiểu biết hời hợt và nông cạn đến như vậy của "những vị lãnh tụ tinh thần" của Phật Giáo ngày hôm nay. Các bạn nên thấy rằng , không chỉ riêng Phật Giáo mà nhiều Đạo Giáo khác khi truyền bá vào Việt Nam đều có sự dung hoà với tín ngưỡng bản địa của Việt Nam. Ngay như bản thân Đạo Phật cũng dung hòa rất nhiều lý luận của Đạo Hindu ( tiếng Phạn: sindhu, tiếng Ba Tư: hindu, tiếng Hy Lạp: Indós), nhưng chắc rằng không một ai dám nói rằng " sử dụng rất nhiều yếu tố Phật giáo, có thể khiến cho những người Phật tử sơ cơ nhầm lẫn đây là kinh Phật nên chúng tôi phải miễn cưỡng bàn luận" - " nhưng tác giả kinh này khi biên soạn đã có chủ ý lợi dụng kinh Phật và ảnh hưởng Phật giáo để chiêu dụ những Phật tử sơ cơ. Do đó, hàng Phật tử không nên đọc tụng, lưu hành và ấn tống kinh này"Híc.Thật hết biết.

Ngay cả "những vị lãnh tụ tinh thần" của Phật Giáo ngày hôm nay vẫn còn chấp như vậy, nên dienbatn cũng không bàn luận gì thêm về ý kiến của những người đọc bài này. Ai ăn người ấy no -Ai tu người đó chứng. Tuy nhiên , dienbatn cũng xin gửi đến các bạn một vài ý kiến để các bạn có thể tham khảo và tự mình chứng đắc.

1/ Một người bạn rất thân của dienbatn : " Em đã đọc bài này và có một vài cảm nhận như sau:
1. Chuyện tâm linh có thể nói LINH TẠI NGÃ, BẤT LINH TẠI NGÃ, Phật, Thánh ở tại tâm của ta, Ngài giáng trần hiển linh ở rất nhiều hình thái.
Em nghĩ ở những bậc chân tu sự hiện diện đó toàn diện hơn, đầy đủ hơn. Nhưng thời loạn lạc này Thần Phật giáng trần ở nhiều dạng thức hơn, nhiều hình thái hơn nhằm cứu chúng sinh qua cơn bĩ cực. Vậy mới có chuyện mà họ gửi anh.
Về tâm linh, những cái đó là có thực, nhưng minh định là vị nào về, về lúc nào, như thế nào là một câu chuyện khá phức tạp và cần kiểm chứng thật kỹ lưỡng.
Theo em, các Ngài về chỉ bảo đường tu tập, hướng đạo, định hướng cho hành xử đối với một số người nào đó có căn duyên là điều hoàn toàn có thể xảy ra, tuy nhiên, phàm là con người còn nặng căn quả, việc các Ngài giáng linh về với những ảo giác của chính người đó đôi khi bị đánh đồng lẫn với nhau. Các dạng thức, tâm thức đó có thể diễn ra liên hoàn, liên tục và làm cho người ta có thể có những nhìn nhận chưa chắc đã đúng về sự việc. Cũng khó mà có ai đủ công phu tu tập mà nhận thức rõ lúc nào Ngài giáng, khi nào Ngài thăng, vậy nên có thể khi Ngài thăng rồi mà bản nghã, tâm tưởng của người trần mụ mị cứ thăng hoa mà nghĩ mãi là Ngài vẫn ngự, lời người trần nói đôi khi lại được cho là lời Thánh Nhân nói.

2. Trong câu chuyện có nhiều tình tiết chứa đựng khá nhiều ý chí chủ quan của những thành viên trong gia đình. Có hai, thậm chí là ba dạng tâm thức nhập vào người nhà họ cần quan tâm:
a. Bậc Thánh Nhân; các bậc hộ bộ của Đức Phật lai giáng vào họ..
b. Các vong về nhập vào họ;
c. Chính bản thân họ bị huyễn hoặc về một đối tượng nào đó đang ở trong mình.
Khi mình là mình, tức là mình chủ động nhìn nhận sự việc, tin nhưng không mê thì mình sẽ hành xử đúng đắn, không bị ma đạo làm hại, quấy nhiễu, vì ma đạo xâm nhập được vào thần thức ta chính khi mà tâm ta giao động, ta không làm chủ được thần thức của mình, phải vậy chăng?
Em nghĩ gia đình nhà đó cũng đặc biệt. Có thể trong nhà có những thành viên có linh căn nên có người cõi Trên về chỉ bảo cho đường tu tập phù hợp với căn duyên của họ từ tiền kiếp. Chính căn quả kiếp trước của họ và những duyên lành ở kiếp này cho họ có được một số khả năng nhất định, và đặc biệt khai mở cho họ có những mối giao cảm được với thế giới âm nên mới có hiện tượng gặp được người nhà của họ như thế (nhưng chưa xác thực có gặp được người âm bất kỳ như thầy đồng hay không). Việc gặp gỡ người nhà như thế có thể có cái lợi là: con cháu được nghe lời chỉ bảo, dạy bảo của tiền nhân, nhưng nếu như si mê lầm lẫn có thể hoang tưởng và chuyển sang mê tín – tự họ nghĩ ra cứ suy diễn là tiền nhân dạy bảo, chỉ bảo thế, nếu có một số hiện tượng ngẫu nhiên trùng lặp xảy đến phù hợp với suy luận của họ rất dễ làm cho họ trở nên mê mị hơn anh ạ. Có thể khi đó các cụ không về mà họ cũng tưởng là các cụ về (như là các bậc Thần Phật hiển linh có kỳ thôi nhưng khi được chứng họ lại mê mị và khó tự chủ được là khi nào các Ngài giáng hạ…) nên có thể nói chưa đúng, chưa chuẩn (theo nhận định chủ quan của họ).
Em nghĩ, là con người trên biết kính trọng Trời Đất, Phật Thánh, gia tiên, dưới ăn ở thuận hòa nhân đức với nhau, hành động phù hợp với luật Người Nhân – Quả thì sẽ không phạm vào luật Trời Đất. Nếu do vô tình, vô minh mà chưa trọn đạo nhưng có căn tu tập tốt sẽ được Phật Thánh gia trì mà chỉ bảo cho con đường đạo mà tu tiếp.
Việc trong nhà âm dương có thể có ý nọ ý kia nhưng vẫn không ngoài các chữ HIẾU – ĐẠO – NHÂN – NGHĨA. Cứ lấy những cái đó mà soi đường thì chả sợ đi lạc lối phải không  anh. Ông bà cha mẹ khi mất đi cũng phải tu tập tiếp chứ không vì mấy chuyện cỏn con trần tục mà làm những điều bậy bạ chỉ để mong phù hộ cho con cháu giàu thực giàu, sang thực sang, cũng chả có cụ nào hại con hại cháu cả.
Cũng có thể con cháu sẽ cảm thấy hoang mang không biết mình làm cái này, cái kia, thờ cúng vậy đã đúng chưa… nhưng nếu có duyên, dù làm chưa đúng sẽ có nhân duyên được người biết chỉ bảo cho, hoặc có những sự kiện làm cho mình tự nhiên lĩnh hội được một số kiến thức mà làm cho đúng. Ngay kể cả khi việc thờ phụng thực sự chưa đúng nhưng con cháu có tâm các cụ vẫn chứng cho như thường.

Chuyện họ viết lại khá dài, nhưng tựu trung lại có mấy vấn đề này:
1. Phật Thánh có giáng trần truyền đạo không? Có, điều này hoàn toàn có thể xảy ra – nhưng cụ thể như thế nào cần phải nghiên cứu thực kỹ xem liệu bản thân của người có căn duyên có đủ công phu mà phân biệt khi nào Ngài giáng, khi nào Ngài thăng không? Ngài giáng thì ban độ những gì??? Và làm thế nào để duy trì được mãi khả năng này?? Làm gì để hiện tượng này thực sự mang lại phúc đức cho nhà họ, sự hiển linh kia được nhìn nhận đúng để truyền bá rộng rãi đức tin cho các Phật tử vào Phật Pháp và sự nhiệm màu của Phật Pháp?
2. Gia tộc nhà họ có căn duyên mà linh ứng báo cho con cháu biết trước các sự việc huyền cơ hay không? Có thể có, nhưng không phải là toàn bộ những huyền cơ đều lộ được vì bản thân họ cũng chỉ là các vong, not Thần Thánh mà nắm được huyền cơ. Những gì họ chỉ dạy cho con cháu chưa chắc đã là của họ 100% mà có thể có khả năng là con cháu SÁNG TẠO ra do quá tín tâm mà trở nên thiếu tự chủ. Phải thế chăng? Và nếu thế thì nên làm gì để tránh được sự mê mị đó?
3. Quan trọng hơn nữa,. những hiện tượng trên dù có diễn ra, còn diễn ra thì làm sao để cuộc sống làm người ở cõi này không bị ảnh hưởng, bởi trước khi họ thực hiện sứ mệnh nào đó, họ vẫn là con người, có cuộc sống bình thường của một con người. Họ cần phải hành xử sao cho những khả năng của họ không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại. MUỐN TU ĐẠO GIẢI THOÁT TRƯỚC HẾT HÃY LÀM TRỌN ĐẠO LÀM NGƯỜI, CHƯA TRÒN ĐẠO NGƯỜI THÌ ĐẠO TRỜI HÃY CÒN XA LẮM.
"

2/ Ý kiến của một độc giả : " Xin kính chào đại gia đình các Phật tử theo nhà Phật. Tôi là Thíchquangnhân, có thể đây là cái duyên của đại gia đình quý Phật tử chăng? và cũng có thể là cái duyên của Thíchquangnhân tôi được biết câu chuyện này.
Trước hết cho Thíchquangnhân tôi được có một vài cảm nghĩ thông qua câu chuyện mà quý vị đã đăng lên đây.
Cái điều đã đến với gia đình quý Phật tử được gia đình quý Phật tử đón nhận như vật thật đáng chân trọng.
Chỉ có thể là cái duyên mới được như vậy.
Xong quý Phật tử cũng phải hiểu rằng, đã là Duyên thì chỉ có thời hạn mà thôi. Vũ trụ luôn vận động luôn thay đổi...nên cơ hội để có duyên như thế còn phải dành cho những chúng sinh khác nữa.
Phật không đâu xa lạ cả, mà ở ngay trong ta đó thôi. Mỗi người đều có Đức Phật của mình.
Hãy giác ngộ chính mình, làm điều thiện, bỏ những thói hư tật xấu, giúp đỡ chúng sinh khi hoạn nạn. Sống có Đạo với đấng tối cao, có hiếu với tổ tiên, ông bà cha mẹ, có nghĩa có tình với anh em, làng xóm...
Đó chính là thiện căn mà đức Phật muốn chúng ta làm.
Các huynh cũng đừng cố gắng tìm những điều quá xa vời trong khi điều trước mắt các huynh không làm được. Vô tình các huynh đã đánh mất thiện căn mà người đã ban cho đó.
Để làm tròn kiếp của một con người là vô cùng khó, cả đời mấy ai được thế đâu, hãy cố gắng sống và gìn giữ cái ân huệ mà người đã ban cho ta được sống, nếm chải sự sung sướng, đau khổ...của kiếp người. Bởi chỉ khi có nếm chải được những điều đó thì con người chúng ta mới giác ngộ được.
Hôn nay, Thíchquangnhân tôi chỉ có thể nói chút ít coi như một ý kiến với quý phật tử như vậy. Hôm khác chúng ta sẽ cùng nói cụ thể hơn về câu chuyện của quý Phật tử đã đưa lên đây.
Thíchquangnhân xin chúc quý Phật tử an lành
. "

3/ Một độc gỉa khác : " delete replybgone1969 wrote on Mar 10
Không có gì diễn tả được, đọc xong thấy cảm động quá, ngồi giữa văn phòng mà tôi cũng muốn khóc.... bgone1969 "

4/ " Gã khờ10:02 12-03-2011 .
Hahaha, sao lại như thế này rồi? Hôm nay dân Việt lại xuất hiện những chuyện mê tín đến cùng cực như thế này hay sao?"(
http://vn.360plus.yahoo.com/dzjao/article?mid=6543)

Còn cảm nhận của các bạn ra sao ? dienbatn sẽ xin cập nhật ý kiến của các bạn hàng ngày.

Thân ái. dienbatn.

MỘT CHÚT TƯ LIỆU TỪ " BỬU SƠN KỲ HƯƠNG" CỦA VƯƠNG KIM.

Nhìn vào nền Phật giáo khắp nơi, người ta không khỏi phàn nàn Đạo Phật có nhiều chi phái quá, nào là Tiểu-thừa, nào là Đại-thừa, nào là Mật-tông, nào là Hiển tông… mỗi phái mỗi chủ-trương khác nhau, mỗi nơi có mỗi sắc thái riêng biệt. Cũng đồng bắt nguồn từ Phật-giáo nguyên-thủy ở Ấn Độ thế mà Phật-giáo của Nam-tông khác hơn Phật-giáo của Bắc-tông và ngay trong hệ thống Đại-thừa, Phật-giáo Trung Hoa cũng không giống Phật giáo Nhật Bản. Phật giáo Đại Hàn khác hơn Phật-giáo Việt-Nam.
Người ta muốn sao Phật giáo phải được thống nhất cả hình thức lần tinh thần, xoá bỏ những đặc tính địa phương riêng biệt. Nhưng người ta quên rằng giáo-lý của Phật-giáo không phải là một thứ giáo điều cố định bất biến như giáo lý của các tôn giáo khác mà là một thứ giáo pháp luôn luôn phát triển theo thời gian, thích ứng với căn cơ và hoà hợp với thổ-nghi phong-tục của mỗi địa phương dân-tộc.
Đức Phật đã từ hoàn cảnh và căn khi của chúng sanh mà nói ra các pháp, không thời kỳ nào giống thời kỳ nào. Tri giả Đại-sư đã phân ra làm năm thời kỳ thuyết-pháp là:
1. Thời-kỳ Hoa-nghiêm; 2. Thời kỳ A-hàm; 3. Thời kỳ Phương-đẳng; 4. Thời kỳ Bát-nhã; 5. Thời kỳ Pháp-hoa. Đến như giáo pháp thì có pháp quyền, pháp thiệt, pháp đốn, pháp tiệm, pháp hiển, pháp mật… cao thấp khác nhau. Sở dĩ giáo pháp không đồng, thời kỳ hoằng hoá có khác, ấy chẳng qua là do hoàn cảnh sinh hoạt, căn cơ của chúng sinh mà ra vậy.
Thế nên, phàm căn cơ có khác, thời đại có khác, địa phương có khác thì lý ưng giáo pháp, cho được thích đương thế tất không sao cùng một khuôn, một rập. Ngay như việc dạy học, người ta còn tùy theo địa phương nóng lạnh, mưa nắng khác nhau, trình độ của học sinh cao thấp mà giờ học, ngày nghỉ cùng chương trình giáo dục mỗi nơi mỗi khác, thì sao đối với Đạo Phật là một nền đạo vô cùng linh động, phong phú nhựa sống thích nghi, lại bắt nó trụ mãi ở hình thái nguyên sơ cằn cỗi.
Ngày nay đạo Phật rọi ánh từ quang gần khắp mặt địa cầu, qui tụ gần phân nửa số nhân loại, nếu thiếu tính chất thích nghi hòa đồng thì chưa hẳn đã thu phục lòng tin tưởng của nhân dân dễ dàng như thế. Từ trước đến nay, bất cứ một cuộc chinh phục nào cũng phải cậy vào vũ lực uy hiếp mọi sự chống đối. Đến như Đạo Phật, chỉ nhờ tính chất thích nghi mà sự bành trướng không hề gặp phải sự phản kháng nào đến đỗi làm đổ máu sinh linh.
Các dân tộc Á đông tiếp đón Đạo Phật như tiếp đón một ngọn đèn vào nhà đang kém ánh sáng. Mặc dù là một ngọn đèn mới, nhưng chẳng vì nó sáng hơn mà chủ gia dẹp hết các ngọn đèn cũ kém sáng nhưng đã thân yêu, Người ta đặt ngọn đèn sáng mới nơi xứng đáng, có khi cùng đặt chug với mấy ngọn đèn cũ để cùng hoà quang nhau đem lại ánh sáng chung cho cả gian nhà.
Giáo pháp của Đạo Phật thẳng diệu là ở chỗ đó. Nó đến với dân tộc nào là nó hòa hợp với dân tộc tinh của dân tộc ấy.
Nhờ ánh sáng đó sáng hơn nên trong chỗ hoà hợp nó đồng hòa các ánh sáng cũ thành một ánh sáng Phật-giáo dân tộc hay có mang tính chất Phật-giáo . Sự hiện diện của nó, bởi cần thiết cho sự củng cố nền tảng quốc gia, vì nó đồng hoá để mà bổ sung hơn là để tiêu diệt hay truất ngôi, nên dân tộc nào cũng không cảm thấy bị mất gốc hay mất thể diện khi tiếp nhận nó.
Nhìn vào các nước Phật-giáo, ta thấy quốc gia nào cũng có những sắc thái Phật-giáo riêng biệt về hình tướng cũng như về hệ thống giáo lý. Đồng là Phật-giáo cả, nhưng mỗi nơi mỗi khác, khác từ sự kiến trúc chùa chiền đến lễ nghi trang phục. Những cái sắc thái riêng biệt ấy thích hợp với đời sống của quốc dân, với cá tính của dân tộc. Do đó đạo Phật đã trở thành, ở các quốc gia Phật-giáo, một nền Phật-giáo dân tộc.
Như ở Nhật Bản, hòa hợp với Thần đạo và Vũ sĩ đạo, Phật-giáo đã trở thành một nền Phật-giáo Nhật Bản. Mặc dù chịu ảnh hưởng Phật-giáo Trung Hoa, các Đại đức Thiền sư Nhật Bản như Đạo Nguyên, Thân Lan, Nhật Liên đã biến Phật-giáo Trung Hoa thành Phật-giáo của dân tộc Nhật. Từ mái chùa cho đến chiếc áo cà-sa mỗi mỗi đều có những sắc thái khác biệt, phù hợp với cá tính Nhật Bản. Cũng thời là Thiên Thai tông nhưng Thiên Thai tông của Nhật lại hòa hợp với Mật. Thiền. Đến Tịnh độ tông và Thiền tông cũng thế. Ở Nhật hai tông ấy biến đi rất nhiều từ tinh thần lẫn hình thức. Nói tóm lại, đạo Phật một khi du nhập vào Nhật bản thì hòa hợp với tinh linh dân tộc Nhật mà có những sắc thái riêng biệt, không còn giống với thoát thai của nó là nền Phật-giáo Trung Hoa.
Đến như Phật-giáo Trung Hoa, tiếp nhận ngay Phật-giáo Ấn Độ, đáng lẽ không có biến thái nhiều, thế mà vì tính chất thích nghi nên đã cách tân từ việc tụng niệm trang y cho đến cách chia tông lập giáo. Có thể nói Phật-giáo Trung hoa là một nền Phật-giáo hoàn toàn xây dựng trên cơ bản mới, khác hẳn Phật-giáo nguyên thỉ.
Vả chăng sau ngày Phật nhập diệt độ khoảng 500 năm. Ấn Độ bị Hồi giáo xâm lăng, đạo Phật cơ hồ không còn. Những tăng ni theo giáo lý Tiểu thừa thì di cư xuống miền Nam, lập thành Phật-giáo Nam tông hay Tiểu thừa giáo; còn những học giả Đại thừa thì chạy sang Đông độ. Thành thử cõi Chấn Đán tức Trung Hoa đã trở nên tổ quốc của Đại thừa giáo. Cái hệ thống "Tổ tổ tương truyền" bắt đầu từ Đại đức Ca Diếp cho đến vị tổ thứ 28 thì chấm dứt ở Ấn độ, nhưng lại được tiếp tục ở Trung Hoa.
Chẳng những thừa tiếp giáo pháp Đại thừa vừa mới khai sáng nhưng chưa kịp phát triển ở Ấn độ, Trung Hoa còn chỉnh đốn các tông tổ thành hệ thống thích hợp với cả linh dân tộc và đồng thời sáng tạo thêm ba tông hoàn toàn Trung Hoa. Đó là: Hoa nghiêm tông, Thiên Thai tông và Thiền tông.
Trong sách Ẩm băng thất, khi đề cập đến sự thành lập các tông Phật-giáo ở Trung Hoa. Lương Khải Siêu có viết: "Về Câu xá tông, tuy Thế Thân có tạo một bộ luận được học giả Ấn Độ tranh nhau học tập, nhưng chưa chính thức lập nên một tông. Tông này được thành hình là chính tự Trung Quốc. Còn về Thành thực tông thì từ Ma lê bạt ma về sau không thấy Kinh sách nào ở Thiên trúc nói đến mà chỉ riêng ở Trung Quốc thì rất thịnh. Tam luận tông ở Ấn Độ tuy truyền bá hơi rộng nhưng cũng không bằng ở Trung Quốc. Đến như Hoa nghiêm thì bản Kinh ấy ở Ấn Độ đã chìm lặn trong chỗ mờ mịt. (cứ theo truyền thuyết thì sau Phật diệt độ 700 năm, Long Thọ Bồ Tát dùng thần lực nhiếp thủ Kinh Hoa nghiêm ở Hải long cung. Bản Kinh lưu hành là bắt đầu từ đó. Truyền thuyết thần bí này tuy chẳng đủ tin nhưng đủ thấy ở Ấn Độ tung tích Hoa nghiêm còn mờ mịt lắm). Thế thì làm gì có Hoa nghiêm tông ! Lúc Bấy giờ ở Ấn Độ chỉ có hai bộ luận: Đại bất tư nghị và Thập địa xiển minh nghĩa Hoa nghiêm còn kỳ dư thì không thấy đâu nói đến. Nhưng dựa vào Hoa nghiêm để lập giáo, thật ra chỉ bắt đầu từ các ngài Đỗ Thuận, Hiền Thủ, Thanh Lương, Khuê Phong. Cho nên có thể nói rằng Hoa nghiêm tông là do Trung Quốc trước tiên sáng lập. Đến như Thiền tông, tuy rằng Ấn Độ có 28 vị tổ, nhưng sự truyền nhau lại quá mật, giữa tiền tổ với hậu tổ chỉ trong khoảnh khắc, không thể biết được uyên nguyên cho nên việc chân ngụy hẳn khó mà phân biệt. Ấn Độ cho rằng chân nhưng trong khoảng hơn một ngàn năm, ngoài 28 tổ ra thì không có thể nói là có Thiền tông, ấy chẳng qua chỉ vì sau khi vừa nhận y bát thì vị tổ trước đã nhập diệt. Thành thử trong khoảng không hơn một ngàn năm ấy, chẳng từng có được 2 người cùng một lúc hoằng dương chính pháp Thiền tông. Như vậy có thể nói Ấn Độ không có Thiền tông cũng nên. Tuy nhiên, Phật-giáo nhờ có Lục tổ mà bắt đầu có Thiền tông , cũng như Gia tô giáo nhờ có Luther mà bắt đầu có Tàu giáo. Như pháp môn chỉ quán "Thiên Thai Tam muội" là đặc sáng của riêng Đại sư Trí giả; trước đó chưa có mà ngay trong thời của Đại sư cũng không ai dạy thì đủ rõ. Do đó có thể nói rằng trong mười tông, duy có Luật tông. Pháp tướng tông. Chân ngôn tông. Tịnh độ tông là thịnh hành ở Ấn Độ, còn ký duy là do Trung Quốc sáng lập."
Lương Khải Siêu còn khoái cảm hạ bút rằng: "Đẹp thay nước Trung Quốc của ta ! Chẳng thọ ngoại học thì thôi, bằng đã thọ thì phát huy rộng sáng ra, biến thành một thứ đặc sắc. Hãy nhìn vào nền Toán học và Phật học của nước ta đủ thấy. Phật học của Trung Quốc là phật học của Trung Quốc, chứ không còn là Phật học thuần nhiên của Ấn Độ ."
Ấy đó, Phật-giáo một khi du nhập vào Nhật bản và Trung Hoa thì hoà hợp với dân tộc tinh của mỗi nơi mà có những sắc thái riêng biệt, biến thành một nền Phật học dân tộc. Nước Việt Nam chúng ta cũng đồng thấm nhuần giáo lý Phật đà, một mặt trực tiếp du nhập từ Ấn Độ, một mặt gián tiếp chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, có lý nào chẳng gây dựng một nền Phật-giáo phù hợp với dân tộc tinh Việt Nam như Trung Hoa và Nhật Bản hay sao ?
Nhìn vào nền Phật-giáo nước nhà, chúng ta không đến đỗi thất vọng như khi nhìn vào đại hạt Nho học. Các danh tăng Việt Nam từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần luôn luôn cố gắng tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc. Cũng thời tiếp nhận Thiền tông của Trung Hoa truyền sang, nhưng các danh tăng đời Trần đã thành lập một phái Thiền đặc biệt của mình, không khác Chân tông và Nhật liên tông ở Nhật. Đó là phái Trúc Lâm Yên tử do ba vị tổ: Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang sáng lập. Bắt nguồn từ giáo lý Thiền tông nhưng phái Trúc Lâm Yên tử chủ trương có khác. Cho được hoà hợp chủng tính Việt Nam, phái Trúc Lâm xây dựng Thiền lý trên căn bản Nhập thế và Xuất thế, trong lúc ấy Thiền tông Trung Hoa chỉ thuần có một mặt xuất thế mà thôi. Nhờ có dung hợp cả hai phương diện Nhập thế và Xuất thế, đạo Phật đời Trần cũng như đời Lý gây được tinh thần sùng mộ đạo đức và tính khí thanh tao thoát tục, chẳng những trong dân gian mà cả trong hàng quan khanh vua chúa.
Một khi đã thấm nhuần Thiền lý, các vua quan nhà Trần, mặc dù lăn lộn trong chỗ quyền môn vẫn không mang nặng cái bệnh tham danh trục lợi. Thế nên, khi mọi việc an bày, có nhiều vị vua quan nhường ngôi cáo lão để đi tu. Nhờ đã hoàn thành giai đoạn nhập thế nên họ dễ tiến lên con đường xuất thế.
Đến như những danh tăng đã xuất thế, cũng không vì đã xuất thế mà chẳng trở lại nhập thế khi quốc gia hữu sự, dân chúng đảo điên. Trường hợp của Tuệ trung Thượng sĩ, khi nghe giặc Nguyên xâm lăng nước ta từ chốn Thiền lâm cởi áo ca sa mặc lấy chiến bào ra trận, và khi giặc Nguyên đã bình, bèn vứt chiến bào mặc lại áo ca sa, đủ cho ta thấy cái đặc tính dân tộc của phái Trúc lâm Yên tử. Nhờ kiêm cả hai phương diện nhập thế và xuất thế, Thiền tông Việt Nam còn dung hợp với Tịnh độ tông để cùng điều hòa và trợ trưởng nhau trong pháp tu vừa tự lực vừa tha lực.
Nhưng trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, tịnh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần cùng theo thời gian mà mở dần trong dĩ vãng. Thừa lúc loạn loạc Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi tiếp theo thực dân đô hộ non một thế kỷ, tinh thần dân chúng hoang mang mất cả tự tin, những lối tu yếm thế, mê tín dị đoan pha màu phương thuật lại được dịp xây dựng cơ đồ, làm nền Phật-giáo dân tộc phải thối triều trong khoảng thời gian ngót năm thế kỷ.
Nhận xét về nguyên nhân suy bại của Phật-giáo ở xứ ta, ông Hoàng Nhiên có nêu ra mấy điểm trọng yếu:
1. Phái tăng già ở xứ ta phần nhiều tu mà không học
2. Người minh hay trọng sự lạy lục cúng dường theo lối mê tín dị đoan.
3. Không biết trọng sáng kiến của người khác.
4. Không biết giúp đỡ, tán dương người tài trí, nhà hiền giả, bậc chân tu.
5. Cố chấp về văn tự, theo tư tưởng Hán nho mà không rộng xem các sách khác (1)
Về nguyên nhân suy đồi Phật-giáo ông Thanh Sĩ cũng nhận rằng:
Cùng một cảnh huống đạo Khổng tử, đạo Phật Thích Ca ở xứ ta hồi thời nhà Đinh, Lê, Lý, Trần rất thịnh đạt, không những trong dân chúng mà luôn đến hàng vua chúa cũng cùng một tin tưởng mạnh mẽ. Các vua thời ấy, thường hay nhường ngôi cho con để đi tu, hoặc lên non núi lập chùa chiền qui tụ cả muôn tăng cả muôn tăng lữ lo viêc tu hành, hoặc xây cất am tự gần thành quách của mình để truyền bá đạo Phật, nhất là hồi thời nhà Trần vua Nhân Tôn tu được chứng quả, đạo hiệu của Ngài là Điều ngự Giác hoàng Đại Đầu Đà Người thời ấy tôn Ngài làm đệ nhất tổ của phái Thiền tông ở Việt Nam. Hàng quan tướng lúc bấy giờ xem gương của vua Nhân Tôn mà họ cũng lần lượt lánh rồi cuộc công danh phú quí lo tu hành rất đông, như con của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Tảng. Lúc Trần Quốc Tảng mới mười bốn tuổi vừa đi học về nghe cha bị quân Nguyên vây tại thành Thăng Long thì ông mới nhất thân nhất mã ra giải vây cho cha. Chừng ông được hai mươi tuổi đã đi tu, ngộ được Phật chỉ đạo, hiệu của ông là Tuệ Trung Thượng sĩ. Còn những hạng tu hành chứng quả ở thời đó không kể xiết.
Nhưng kể từ khi các vị Tổ bên Trung hoa ngưng việc truyền y phó bát đến nay, phái Trần Tú càng lúc càng thêm mạnh, không những ở Trung Hoa mà còn truyền qua xứ ta, họ bày ra cách thờ cúng đầy thinh, âm, sắc, tướng (đờn, đẩu, trống, phách, lầu, phướn, sá hạc v.v…) làm việc hữu hình, hữu ảnh, dân chúng xứ ta dần dần theo đó mà xa lần mối đạo vô vi chánh pháp của Phật, Nền chánh giáo từ đó càng ngày càng mờ lu, các ngôi chùa miễu phần nhiều chỉ là cái vỏ để các tà sư làm mê hoặc thập phương, lợi dụng việc lo cơm ấm áo vậy thôi, chớ họ không chú vào việc dắt người đến chỗ sáng sủa giải thoát. Cũng bởi phần đông hành đạo không chánh đáng, nên cả ngàn muôn người tu mà chỉ có một số ít người đắc đạo; do đó mà gần đây có người lên án cho cảnh chùa là chỗ chứa những phần tử ăn bám của xã hội, chỉ là tổ chức mê hoặc lòng dân, không có tinh thần tiến hoá, thật là một con sâu làm rầu nồi canh.
Dầu vậy, tinh thần dân tộc vẫn không lịm hẳn trong Phật-giáo. Vào đầu thế kỷ thứ 19. Đức Phật Thầy Tây An xuất hiện lập nên giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương. Khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật, chẳng những khôi phục cái thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần mà còn xây dựng lên một nền Phật-giáo hoàn toàn dân tộc. ....
Nhìn vào lịch sử Phật-giáo Việt Nam, chẳng sử gia nào không nhìn nhận rằng chẳng có thời kỳ nào đạo Phật hưng thịnh bằng đời Lý đời Trần. Trong nước từ quan chí dân đều một lòng sùng mộ việc tu hành, kẻ đủ điều kiện tu giải thoát thì xuất gia, người còn bận việc đời thì giữ phần cư sĩ.
Khắp nơi trong nước, cảnh già lam được nhiệt liệt dựng lên, ở mỗi gia đình, ngoài việc thờ phượng tổ tiên, còn có ngôi thờ Tam bảo. Có thể nói xã hội Việt Nam ở đời Lý đời Trần đã thấm nhuần tinh thần đạo Phật cả hai phương diện xuất thế và nhập thế.
Do đâu đạo Phật đời Lý đời Trần hưng thịnh hơn các triều đại khác? Hẳn phải có nguyên nhân? Nhiều sử gia cho rằng Việt Nam cho đến đời Lý, chủ quyền quốc gia mới thật điện định. Nhờ được trấn an bờ cõi, các vua quan đời Lý có đủ thì giờ lo nghĩ việc mở mang dân trí. Đương nhiên Phật-giáo cũng như Khổng giáo và Lão giáo là ba nền đạo đề cao nhân cách, đào dưỡng tinh thần hướng thượng của chúng sinh, hẳn được nhà cầm quyền vun bồi và trợ trưởng. Đó là cơ hội thuận tiện cho Phật-giáo hưng thịnh.
Xét ra thì sự nhận định trên đây chỉ dừng trên phương diện, ngoại duyên. Chớ chưa phải tìm động nhân chính. Thì như có một miếng đất tốt, thích hợp cho sự trồng tỉa mà ngay hột giống không tốt, không có sức phát triển thì cũng không làm sao có kết quả tốt đẹp. Miếng đất tốt chỉ là ngoại duyên, còn hột giống mới là nội nhân. Một nền triết học hay giáo lý cũng thế, mặc dù gặp hoàn cảnh thuận tiện cho sự phát triển nhưng nếu nội dung của nó không phù hợp với đời sống cùng trình độ của mọi người thì cũng không tài nào hưng khởi lên được.
Thế nên cái động nhân để làm phát triển một nền học thuật hay giáo lý, chính là những khả năng thích nghi sẵn có của nó. Thiếu những khả năng ấy thì dù hoàn cảnh có thuận tiện cũng không sao phát triển được.
Sở dĩ đạo Phật hưng thịnh nhất ở đời Lý đời Trần là cũng nhờ các danh tăng lúc bấy giờ biết làm phát triển cái khả năng thích nghi sẵn có của đạo Phật để được phù hợp với dân tộc tinh và cơ duyên của chúng sinh trong nước. Thay vì mô phỏng mù quáng theo các danh tăng dời Lý đời Trần khéo biến Thiền tông Trung Hoa thành một môn Thiền Việt Nam, phối hợp tu xuất thế và nhập thế. Các Ngài Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đời Trần thành lập một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam lấy tên: phái Trúc Lâm Yên Tử.
Với danh hiệu hoàn toàn Việt Nam, với pháp tu phù hợp với trình độ và căn tính của dân trong nước. thảo nào đạo Phật chẳng được phát đạt và toàn dân sùng mộ.
Chính cái nội nhân thích nghi của đạo Phật mới là cái động cơ chính làm phát triển đạo Phật khắp nơi. Đó chẳng phải là cái thông lệ riêng của Việt Nam mới có, mà bất cứ ở nơi nào, nếu người đứng ra hoằng dương giáo pháp biết làm phát triển cái nội nhân thích nghi ấy cũng đều thâu hoạch kết quả như thế.
Thử lấy Thiền tông để chứng minh, ta sẽ thấy ngay ở Ấn Độ là nơi xuất phát Thiền tông ; nhưng chính ở đấy trong khoảng thời gian một ngàn năm, Thiền tông chưa lập thành hẳn tông phái. Mãi khi du nhập vào Trung Hoa, các danh tăng cõi Chấn dân, biến nó thành một môn Thiền Trung Hoa, gây nên một thịnh huống vô cùng náo nhiệt mở rộng khắp nơi trong nước, đâm chồi nảy tược ra làm ngũ gia thất tông, Ngũ gia là: Lâm tế, Tào động, Qui Ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn, Về sau phái Lâm Tế có thêm hai chi Dương Kỳ và Hoàng Long; do đó mới gọi là Ngũ gia Thất tông.
Đến như Thiền tông ở Nhật Bản, mặc dù do hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên cầu pháp ở Trung Hoa, nhưng khi du nhập vào Nhật lại dung hợp với Thần đạo và Võ sĩ đạo lập thành một Thiền phái hoàn toàn Nhật Bản. Nhờ thích ứng với dân tộc tinh Nhật, Thiền tông phát triển rất mạnh ở đảo Phù tang và sau hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên, còn phân ra khá nhiều chi phái, giáo nghĩa thêm đủ dầy, lợi ích càng sâu rộng.
Cứ xem đó thì một nền giáo lý cho được phát triển, cái động cơ chính là các nhà truyền giáo phải biết làm cho thích hợp với dân tộc tinh và trình độ của dân trong nước. Cái nguyên nhân giúp cho đạo Phật hưng thịnh ở đời Lý đời Trần chính là ở chỗ đó.
Các danh tăng Việt Nam đã biết phối hợp đạo Phật với dân tộc tinh nên gây được lòng sùng mộ của toàn thể nhân dân, nhưng cái thịnh huống ấy không thể duy trì lâu dài, khi cuộc Nam Bắc phân tranh nổi lên và tiếp theo đó dẫn khởi cuộc đô hộ của quân Pháp, khiến cho tinh thần dân tộc phải một phen tiềm tàng, cơ hồ mai một.
Trong những lúc hỗn loạn làm xáo trộn cả giá trị tinh thần, chính là lúc rất thuận lợi cho các mê tín dị đoan nảy mục đâm chồi. Lịch sử Trung Hoa đã chứng minh rằng vào đời Lục Triều và Tam Quốc, trong nước không dứt loạn lạc, chính là lúc phái phương sĩ, một biến thể của đạo Lão phát triển mạnh mẽ nhất. Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau đời Hậu Lê cũng diễn ra những cảnh huống loạn lạc tương tợ Phái Trúc Lâm Yên Tử không sao tránh khỏi cảnh suy vi thất lạc, trong lúc tư tưởng của dân trong nước đang thối triều. Ban sơ Thiền phái Việt Nam chưa suy lạc cho lắm, nhưng trải qua một thời gian hàng mấy trăm năm loạn lạc, các tập tục mê tín ngoại lai thâm nhập càng nhiều làm cho bản chất thuần lý phù hợp với dân tộc tinh phai lạc đi.
Nay muốn trấn hưng đạo Phật, tất phải làm sống lại tinh thần dân tộc. Nếu mãi nô lệ ngoại quốc, cứ nhất nhất mô phỏng những điều chỉ thích hợp với nước người mà không chịu áp dụng đúng với tinh thần dân tộc và phù hợp với căn cơ của dân trong nước thì những giáo lý ấy dù có được tiếp nhận chăng nữa cũng không gây được sự ngưỡng mộ nồng nhiệt của toàn dân. Một giáo lý thiếu tinh chất thích nghi là một giáo lý cằn cỗi ngưng đọng, mất bản tính chất Phật giáo.
Ý thức được cái động nhân tiến triển của đạo Phật, nên chỉ khi ra đời Đức Phật Thầy Tây An không đạp theo dấu của các nhà sư lúc bấy giờ chỉ biết bắt chước và tai hại hơn nữa là Ấn Độ tùng xướng khởi lối tu mê tín dị đoan của Thần Tú. Để đề khởi tinh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần. Ngài noi gương các vị tổ của phái Trúc lâm Yên tử mà sáng lập một tông phái phù hợp với dân tộc tinh Việt Nam và tương xứng với trình độ của dân chúng trong thời kỳ mạt pháp. Ngài thành lập phái Bửu Sơn Kỳ Hương và xướng xuất pháp môn Tu Nhân học Phật.
Bửu- Sơn Kỳ- Hương là một tông phái hoàn toàn Việt Nam. Kiểm điểm các danh tông của Phật giáo Ấn độ và Trung Hoa hay bất cứ nền Phật-giáo của một nước nào ta thấy Bửu- Sơn Kỳ- Hương là một danh từ đặc biệt Việt Nam, không có trùng tên hay trùng ý với một tông phái nào khác.
Nước Trung Hoa lấy làm hãnh diện về sự sáng lập Thiên thai tông là một tông hoàn toàn Trung Hoa, thiết tưởng chúng ta cũng không đến đỗi thiếu sáng kiến hay tự ty mặc cảm khi có tông phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Nhật Bản tự hào có Nhật liên tông một đặc sáng Nhật Bản nhưng thật ra Nhật liên tông chẳng qua là một thoát thai của Thiên thai tông Trung Hoa, do Thượng tọa Nhật Liên, sau một thời gian tu tập bên Trung Hoa trở về nước sáng lập.
Đến như Bửu- Sơn Kỳ- Hương thì không thế. Nó chẳng những Việt Nam ở danh từ màcòn phù hợp với dân tộc tính Việt Nam ở phương diện hành đạo. Có thể nói Bửu- Sơn Kỳ- Hương là hoá thân hay hậu thân của Trúc Lâm Yên Tử, nhưng có điều khác hơn Trúc Lâm là Bửu- Sơn Kỳ- Hương, cho được phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ Hạ Nguơn mạt pháp, không còn là một thiền phái chú trọng nhiều về mặt xuất gia và chủ trương vừa xuất thế và nhập thế, mà là một tông phái trú trọng về cư sĩ tại gia và chủ trương chỉnh bị giai đoạn nhập thế để tiến dẫn đến xuất thế. Sở dĩ Bửu- Sơn Kỳ- Hương về pháp môn hành đạo có chỗ không giống Trúc Lâm Yên Tử, chẳng qua vì căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh của thời kỳ có khác. Nhưng trên phương diện dân tộc và sự phấn phát đã đem lại cho nền Phật-giáo Việt Nam thì Bửu- Sơn Kỳ- Hương không khác Trúc Lâm Yên Tử

( bản diện tử của THEGIOIVOHINH.NET )
Xem thêm : http://vn.360plus.yahoo.com/lythienhuonghn/article?mid=236
dienbatn


Read more…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *