KHỞI ĐỘNG CHUYẾN TỪ THIỆN SƠN LA MÙA ĐÔNG 2010. BÀI 2.

1/19/2011 |
KHỞI ĐỘNG CHUYẾN TỪ THIỆN SƠN LA
MÙA ĐÔNG 2011
( Đang cập nhật từng giờ )

Sau hơn một tháng chuẩn bị, giờ đây công việc cần thiết cho chuyến đi thăm và tặng quà cho các em học sinh nghèo Trường Tiểu học Chiềng Kheo - Mai Sơn - Sơn La đã tạm hoàn tất. Thứ Sáu này cả đoàn chúng tôi sẽ lên đường.

Không thể không nhắc đến sự nỗ lực không mệt mỏi của các thành viên trong đoàn, chẳng quản ngày nắng hanh háo, ngày gió mùa rét mướt đi thu gom bằng xe máy những bao tải quần áo, chăn màn cũ đến địa điểm tập kết rồi lại ngồi sàng lọc, phân loại trẻ em, người già, đàn bà, đàn ông với mong muốn các em cũng như phụ huynh của các em không chỉ nhận những món đồ tuy rằng không còn mới nhưng phải sạch sẽ. Các thành viên trong đoàn ai cũng hy vọng mang đến những món quà tuy nhỏ bé nhưng chứa đựng tấm lòng thơm thảo của bao người với tinh thần tương thân, tương ái, đồng thời, các thành viên trong đoàn cũng ý thức được rất rõ và tập trung xét lại quần áo cố gắng để tránh những sự cố đáng tiếc có thể làm tổn thương tấm lòng người nhận. Các thành viên phải kể đến là anh Bình, chị Sớm (viện Khảo cổ) chị Hằng, chị An (đội thi công số 4, Công ty CP xây lắp Bưu điện); chị Liên Luật sư; anh Hoàng (Bưu điện Trung tâm).. và bao người nữa tuy không trực tiếp nhưng đã chung tay làm nên thành công của chuyến đi này.


Phân loại đóng gói quần áo. 
Các bạn Nguyễn Thị Thanh Hằng , Nguyễn Hồng An   ở Công ty CP xây lắp Bưu điện, Đội thi công xây dựng số 4.
Dưới đây là danh sách các thành viên đóng góp:

I/ DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ỦNG HỘ TIỀN:

1. Cửa hàng Phong thủy Diệu Pháp Liên Hoa Vô Vi 222 Hàng Bông - Hà Nội: 3 triệu đồng;
2. Quách Thị Sớm – Viện Khảo cổ: 1 triệu đồng;
3. Nguyễn Thị Thanh Hằng: 1 triệu đồng;
4. Em trai Hằng là Nguyễn Anh Việt - CB kỹ thuật cho hãng Viettel, hiện đang công tác tại Cam Pu Chia: 2 triệu đồng;
5. Trần Yến Ngọc - Cty TNHH Dịch vụ Kiểm toán Kế toán Tư vấn thuế AAT: 1 triệu đồng;
6. Nghiêm Sỹ Minh – GĐ công ty Bất động sản Việt – Bình Minh: 20 triệu đồng;
7. Nhóm Giám đốc 3M: 10 triệu đồng.
Toàn bộ số tiền trên sẽ được mua áo rét cho toàn bộ các em học sinh của trường từ lớp 1 cho đến lớp 5 (350 em).Hiện đã mua xong 360 bộ quần áo lạnh = 33.000.000đ + o1 dàn vi tính kèm theo USB 3G = 4.500.000đ tặng các thày cô giáo trong trường soạn bài.

II/ NHỮNG NGƯỜI ỦNG HỘ HIỆN VẬT .
1. Mẹ của Nguyễn Thị Thanh Hằng đã gửi cho chúng tôi 02 bao khăn quàng cổ và một số quần áo trị giá 1 triệu đồng;
2. Anh Trần Ngọc Thanh (Bộ đội) gửi cho chúng tôi 06 chăn bông và một số áo ấm các loại;
3/ Nguyễn Thanh Nga - 01 chuyến xe tải chở hàng.
Cảm ơn các anh Lưu Dương hiện đang công tác tại Sài Gòn, anh Phạm Lộc Ninh (Cty cổ phần Công nghệ và Thương mại LIÊN THÀNH - 49A, TỔ 19, NGỌC HÀ, BA ĐÌNH, HÀ NỘI) đã là những người đồng tổ chức, hết sức nhiệt tình trong công việc quyên góp anh em, bạn bè cho các cháu học sinh Sơn La trong đợt này.


dienbatn và anh Phạm Lộc Ninh - Cty cổ phần Công nghệ và Thương mại LIÊN THÀNH - 49A - TỔ 19 - NGỌC HÀ - BA ĐÌNH - TP. HÀ NỘI .
Anh NGHIÊM SĨ MINH - GĐ. CT bất động sản VIỆT - BÌNH MINH- Anh Lưu Dương.
Nhóm Giám đốc 3M
Riêng anh Phạm mạnh Duy - Công ty TNHH Buổi sáng (278 Lê Lợi - TP. QUẢNG NGÃI) đã hứa ủng hộ 20 triệu đồng cho các cháu học sinh mà đến nay vẫn chưa thấy gì, mong rằng anh Duy sẽ nhớ tham gia đợt từ thiện sau để lời hứa của anh - chủ một doanh nghiệp - trở thành hiện thực.

III/ DỰ KIẾN THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM KHỞI HÀNH:

- Thời gian khởi hành : 20h ngày thứ sáu - 21/1/2011 (Tức ngày 18/12/Canh Dần).
- Xe tải sẽ chở hàng đi từ chiều.
- Địa điểm tập trung : NHÀ SỐ 124 – Đường K2, Tổ 14, Cầu Diễn, Mỹ Đình 2, Từ Liêm, Hà Nội (CÔNG TY ANH ĐÀO APHACO). Các bạn có thể đi sát cầu Diễn (Chưa qua cầu, rẽ trái là đường K2, đi đến cuối đường, đối diện nhà văn hóa tổ 14).
- Về phương tiện có 01 xe 05 chỗ (anh Ninh cho ủng hộ đoàn) và thuê một xe 16 chỗ.
Chi phí các thành viên trong đoàn như sau:
- Tiền xe: 4.300.000 đồng chia đều cho các thành viên trong đoàn (đi về sẽ tính tiền xe), tạm thời chị Ngọc ứng tiền này;
- Tiền ăn: 100.000 đồng/người/ngày.
Liên hệ:
1. Phạm Quang Bình (0168.44 44 922);
2. Bùi Quốc Hùng (094 26 27 277).
________________

CẬP NHẬT :

4G30 xe tải đã chất hàng xong và đã lên đường .

Xem chi tiết…

DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY. BÀI 3.

1/07/2011 |
DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY.

5/ TỤC THỜ CHƯ VỊ 5 ÔNG Ở LONG THỊ B - TÂN CHÂU- AN GIANG - MỘT LỄ HỘI HÀNH XÁC CỦA NGƯỜI VIỆT.
TỤC THỜ CHƯ VỊ 5 ÔNG Ở LONG THỊ B - TÂN CHÂU- AN GIANG - MỘT LỄ HỘI HÀNH XÁC CỦA NGƯỜI VIỆT.

Bên sông Hậu tại Thị xã Tân Châu - An Giang.


Am thờ chư vị 5 ông ( Dương Công - Bửu Công - Lãng Công - Hoá Công - Chí Công ) tại ấp Long Thị B - Thị xã Tân Châu - An Giang.




Người phụ nữ này đang kể lại cho chúng tôi những sự việc trong " lễ Xuyên quai " ngày trước.



Chiếc ghế đóng đầy đinh nhọn hoắt được dùng để các chư vị ngồi trong " lễ đâm xuyên quai "



Một trong những chiếc trống còn lại của lễ hội.


 Những chiếc vòng này dùng choàng qua người các chư vị.


Những dụng cụ còn lại được để trên bàn thờ.


TẠI QUAN ĐẾ MIẾU.

Ghế ngồi của các chư vị tại Quan Đế Miếu.

Đoạn sông ngày xưa là mặt trước và nền Quan Đế Miếu.


Một số video clip do dienbatn thực hiện.




Thân ái - dienbatn .

Xem chi tiết…

DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY. BÀI 2.

1/07/2011 |
DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY.
3/ THĂM CÁC HUYNH ĐỆ TRONG ĐẠO TỨ ÂN HIẾU NGHĨA VÙNG BA CHÚC - TRI TÔN - AN GIANG.
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, còn có tên là Đạo Lành, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa, do Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp, nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng.

Hơn 140 năm hình thành và phát triển, đạo Hiếu Nghĩa đã qui tụ gần 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh, thành thuộc Nam Bộ, nhưng nhiều nhất là ở huyện Tri Tôn. Đây là đạo thuần túy nội sinh, tín đồ đa phần là nông dân.
Cũng như Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương), Ngô Lợi chú trọng phát triển Phật giáo theo hình thức "cư sĩ", nghĩa là tín đồ không cần "ly gia cắt ái" hay "đầu tròn áo vuông", tín đồ mặc áo vạt hò, quần lá nem, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được... Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc "Tu Nhân - Học Phật" làm nền tảng cho sự hành đạo.
 Tôn chỉ
• Tu Nhân: được thể hiện qua việc kính thờ và phụng sự tứ ân:
• Tứ đại trọng ân bao gồm: đất, nước, gió, lửa.
• Tứ trọng ân bao gồm: ân tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.
Ngoài việc kính thờ trên, người tín đồ còn phải hành xử việc "Hiếu" (hiếu thảo với ông bà tổ tiên) và việc "Nghĩa" (nghĩa vụ với đất nước, đồng bào và nhân loại).
• Học Phật:
Là học những điều Phật giáo hóa chúng sanh, thành tâm phụng thờ và trì niệm Phật để cầu được giảm “tội, nghiệp”, được cứu độ và giải thoát.
Ngô Lợi tức Đức Bổn sư dạy:

Một lòng giữ vẹn tứ ân,
Phụng thờ khuya sớm ân cần đừng sai.
Gắng công niệm Phật hôm mai,
Trì tâm thì đặng thiếc mài nên kim.
hay:
Việc làm cho Phật, phước nhiều
Cũng như hoa lại mai chiều nở vun.
(Sám giảng Ngũ giáo).

Mặc dù phát triển từ nền tảng của tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng đạo Hiếu Nghĩa còn chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác nữa:
• Phật giáo: Về tâm linh, đạo Hiếu Nghĩa chịu ảnh hưởng của Lâm Tế tông và Thiên Thai tông.
Đức Bổn sư viết:
Phật dạy lý chân không
Vì sợ người chấp có.
Bằng người lại chấp không,
Như chụp thỏ buông ó.
Người chấp vô thường tướng,
Phật nói hữu thường tâm.
Chẳng dè phương tiện pháp.
Ao xuân hiện lỗi lầm...
Yếu lý này thể hiện nhiều trong kinh giảng cùa đạo Hiếu Nghĩa.

Kinh Phật giáo được tín đồ đạo Hiếu Nghĩa trì tụng, đó là: "Bát Dương kinh", "Di Đà kinh", "Kim Cang thọ mạng kinh", "Phổ Môn kinh" và "Bổ khuyết Tâm kinh" (được tín đồ đọc tụng thường xuyên). Đức Bổn Sư cũng cho phép, người ít hiểu biết chỉ cần tụng "Linh Sơn hội thượng kinh" cũng đủ. Ngoài ra, ông cũng khuyến khích tín đồ trì niệm chú, ấn pháp theo Mật Tông.
Đàn, ấn, chú là pháp chư Phật
Người làm theo sẽ được hộ trì.
• Nho giáo: Quan niệm "Tu Nhân" chịu ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng Khổng Mạnh.
Chữ "Tu" ở đây hiểu theo nghĩa "Mạng trời gọi là tính, nương theo tính trời gọi là đạo, sửa mình theo đạo gọi là "giáo" (Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo. Trung Dung). Vậy, Tu Nhân tức là sửa mình theo "đạo làm người" (nhân đạo), mà đạo làm người không hề xa với "đạo trời"...
Trong sinh hoạt của tín đồ, có những việc có liên quan đến đạo Nho, như:
Thờ cúng đất trời. Xây dựng chùa chiền, nhà cửa theo số vị vận hành của Kinh Dịch. Các lễ tế, hôn sự, tang ma theo thể thức của Nho giáo. "Thập Nhị lệ sự" tức 12 điều lệ mà tín đồ phải tuân theo, được mô phỏng từ khuôn mẫu của đạo Nho.
• Đạo Lão: Tư tưởng Lão giáo cũng là tư tưởng chủ đạo trong giáo thuyết của đạo Hiếu Nghĩa.
Người tín đồ phải nằm lòng những bài kinh sau: "Tâm Ấn kinh", "Động cổ kinh", "Tam mao chơn kinh". Trích:

Động cổ kinh.
(dịch nghĩa)
Có động cũng xuất nơi không động.
Hữu vi cũng xuất nơi vô vi.
Vô vi thời thần về, thì muôn vật yên lặng.
Bất động thì khí điều hòa.
Khí yên lặng điều hòa, thì muôn vật không sanh.
Tóm gọn, pháp môn tu hành của đạo hiếu Nghĩa là:
Trì niệm theo Thiền tông
Xử sự theo Nho giáo.
Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo.

Trong đạo chia làm 24 Gánh nội thôn và 15 Gánh ngoại thôn, chỉ có ông Gánh (tức trưởng Gánh) mới có quyền thu nhận tín đồ, nhưng không quá cách biệt giữa giáo phẩm (ông Trò, ông Gánh)[3] và giáo dân (tín đồ). Người tín đồ ngoài việc hành xử theo "Tứ trọng ân" và "Thập nhị giáo điều" (còn được gọi Thập Nhị lệ sự), còn phải lễ lạy (vào hai thời: sáng từ 5 giờ đến 7 giờ sáng , và chiều từ 5 giờ đến 7 giờ tối), công phu (tụng kinh có chuông mõ. Kinh đọc được rút ra từ bộ "kinh Siêu độ" của đạo) và niệm pháp (lần chuỗi bồ đề).
Trong nhà của tín đồ thờ nhiều thứ, như: trên cùng thờ Quan Thánh, bên dưới thờ Hội đồng gồm Phật, Thánh, Tiên. Dưới nữa thờ Thập Vương, bàn Hộ pháp Vi Đà. Bên trái thờ Cửu phẩm, bên phải thờ Tam giáo v.v... Trước cửa nhà tín đồ có bàn thờ thông thiên hai tầng, tầng trên thờ "Chánh đức thiên La thần" và tầng dưới thờ "Thổ Trạch Long thần".
Và trong nền đạo Hiếu Nghĩa, sự thờ cúng được coi là nguồn ân phúc thiêng liêng, giúp tín đồ tăng thêm lòng chánh tín, lấy hình thức chuyển vào nội tâm, đem nghi lễ hướng con người đến việc thực thi phúc lợi chân chánh.
• Cúng Phật: bằng hương, đăng, hoa, trà, quả, các món chay. Phẩm cúng có ý nghĩa nhất là ngọt (chè xôi nước) và dẽo (xôi nếp)...
• Cúng Thần: vật phẩm như cúng Phật, có thêm món cá, không được cúng các thức ăn từ thịt ngoài loài thủy tộc.
• Cúng giỗ người mất: vật phẩm như cúng Thần.
Ngoài ra, tín đồ còn phải thường tham gia các lễ cúng chính ở chùa miếu, thành tâm cầu nguyện cho quốc thới dân an, cầu cho ông bà tổ tiên được siêu thăng tịnh độ v.v...
 Nhận xét
Tuy cốt lõi trọng "Tứ Ân", chuộng "Vô vi" (tôn chỉ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương), nhưng đạo Hiếu Nghĩa vẫn còn "ham chuộng hình thức: nhiều buổi làm chay, đến nghe thuyết pháp, lãnh bùa mà đeo, có chuông mõ, quì lạy quá nhiều, thờ Quan Công, có thêm ngôi Long Đình, dành cho người khuất mặt sắp xuất hiện (ám chỉ vua Hàm Nghi), cổ xuý ngày tận thế sắp cận kề, sắp đổi đời, ma quỷ đã hiện ra đầy đường và vẫn là núi Cấm sắp mở hội "Long Hoa" 
Về mặt thờ phượng, đạo Hiếu Nghĩa theo mô hình "trước miễu, sau chùa". Miễu thờ thần cựu trào, gồm bá quan văn võ. Riêng chùa Phi Lai ở núi Tượng là điện, thờ đấng tối cao là Ngọc Hoàng Huyền khung Cao thượng đế, tượng trưng với tấm vải đỏ, không hình tượng (gọi trần điều). Một bàn thấp hơn dành cho “tứ đại thần châu”, tức bốn hòn đảo của cõi tiên. Đúng là tu tiên, đạo Lão...Những điều đó cho thấy, hướng đi và việc làm của Ngô Lợi không thoát khỏi tư tưởng phong kiến và thần quyền, như câu ca dao còn truyền tụng ở vùng Núi Tượng:
Ai về nhắn với áo dà,
Sửa sang khăn áo đặng mà chầu vua.
Nhưng khách quan mà xét, về mặt đạo, Ngô Lợi động viên được tín đồ cùng nhân dân phát huy tinh thần yêu nước. Về mặt đời, ông đã liên kết với Khả và Ong cùng khởi nghĩa ở Cai Lậy năm 1878, qui tụ được những người từng tham gia kháng Pháp, từ những phong trào như của Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân thiết lập được mối quan hệ với phong trào kháng Pháp của ông hoàng Si-Vatha ở các tỉnh phía Nam nước Campuchia và những người dân tộc Khmer vùng Bảy Núi (Thất Sơn).
Trong một bài viết trên website của Thông tấn xã Việt Nam có đoạn:
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một đặc trưng của văn hóa Nam Bộ, trong quá trình hình thành và phát triển luôn gắn liền với quá trình di dân, khai hoang lập làng, xây dựng căn cứ kháng chiến, hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích “Học Phật tu thân”, “Tứ đại trọng ân”, “Hòa hợp đoàn kết dân tộc”, lấy công tác xã hội từ thiện làm mục tiêu hoạt động.

Chùa của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa canh chân núi Tượng - Ba Chúc.
  



Núi Tượng còn được gọi là Liên Hoa Sơn, nằm tại thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Núi Tượng thấp nhỏ, chỉ cao 145 m và chu vi 3.825 m. Nhiều người cho đây là một trong Thất Sơn. Từ xa, hình núi trông giống hình dạng con voi nên có tên là Núi Tượng.

Nhà văn Sơn Nam viết:

Vùng Ba Chúc (quanh núi Tượng), thung lũng nhỏ, cổ kính, có cảnh “trước miễu, sau chùa”, miễu (là đình làng độc đáo, thờ trăm quan đại thần) cất phía trước, chùa phía sau, kề sát nhau. Câu ca dao khá xưa, dễ gợi giây phút lâng lâng:
Dạo chơi trước miễu sau chùa.
Đụng người mua bán quê mùa thiếu chi.

Ở miền đất này đã xảy ra một số sự kiện:
 Đạo nạn
Trước năm 1870, vùng núi này hãy còn hoang vu, nhưng kể từ năm này, nhờ ông Ngô Lợi , người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa), dẫn dắt một số đệ tử vào vùng núi Tượng khai hoang lập những thôn ấp, mà sau này trở thành làng An Định, An Hòa, An Thành, An Lập; dựng chùa Tam Bảo, chùa Phi Lai khiến nơi đây ngày một trở nên đông đúc.
Chỉ tính trong 12 năm (1876 - 1888), quân lính Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”. Đơn cử năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, nhưng bị Pháp nhanh chóng đưa quân vào trấn áp rồi còn cho đóng đồn dọc kênh Vĩnh Tế để dễ theo dõi, chế ngự. Lần đạo nạn này, Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vườn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Đến khi trở về, nhà cửa, chùa chiền chỉ còn lại những đống tro tàn. 

CHÙA TAM BỬU Ở NÚI TƯỢNG-BA CHÚC.
(Trần Thế Vinh )

Là ngôi chùa do ông Ngô Lợi, tức Đức Bổn Sư-Người sinh trưởng ở Trà Tân(Cai Lậy), một đạo sĩ chống Pháp nhiều lần ở Mỹ Tho thất bại, dẫn hơn bốn trăm hộ gia đình khắp lục tỉnh lên Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), một trong bảy địa danh của Thất Sơn, thuộc tỉnh Châu Đốc lúc bấy giờ. Ông hướng dẫn số “tín đồ” trảm thảo khai hoang, thiết lập chùa miếu và thôn ấp mới - đặt Thôn An Định, và khai sáng đạo Tứ An Hiếu Nghĩa vào giữa cuối tháng giêng năm Bính Tý- 1876 - trích dẫn Lịch Sử An Giang của nhà văn Sơn Nam.
Nhưng thực sự ngôi chùa Tam Bửu, được xây dựng vào ngày 26/6 năm Nhâm Ngủ-1882. Nằm về phía Đông vách núi Tượng và cách chân núi hơn ba mươi mét . Khởi đầu dựng lên bằng cây lá đơn sơ, nhưng chắc chắn bởi các loại cây núi giá trị như cam đàn,căm xe,cà chất… nhưng sau đó phải trãi qua nhiều lần bị lính Mã Tà đốt phá, trong gần l0 năm đến 7 lần Pháp nạn ! – Người xưa, truyền miệng kể- Chúng ( tức Pháp và chính quyền thuộc địa ) đưa lính tráng vào đuổi dân làng, cướp giật nhiều thứ, từ heo, gà…cho đến vật dụng quý, trong đó có ngôi Long Đình của bổn Chùa- do tên Trần Bá Lộc lấy đi và sau đó đưa vào Bảo tàng SàiGòn, chúng xem đây là vùng căn cứ tự trị do Ông Ngô Lợi cầm đầu trong suốt thời gian từ 1876 đến năm 1888.Theo sử liệu của tủ sách sưu khảo PG.Bửu Sơn Kỳ Hương do Hà Tân Dân biên soạn và những vị cao đồ địa phương, thì đến năm 1885 chùa tái thiết lại và vào tháng 2/1888 chính quyền Pháp mới cho Thôn An Định sáp nhập vào xã Ba Chúc của người Miên, thuộc tỉnh Châu Đốc bấy giờ, và chùa Tam Bửu mới được trùng tu khang trang. Năm 1890 Ông Ngô Lợi viên tịch, giao lại cho các Ông Trò, Ông Gánh duy trì thờ phượng. Đây là ngôi chùa Trung tâm ( Thánh địa ) của tôn giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Mãi đến năm 1971, Ngôi Long Đình quý hiếm mới được chính quyền Sài Gòn- Nguyễn Văn Thiệu trao trả lại bổn chùa.
Thăng trầm trên 125 năm, ngày nay chùa Tam Bửu vẫn còn nét cổ , chùa dựng nhiều mái, nhiều gian, lợp ngói cổ, nóc chóp cao… và hằng năm đều được ngành Bảo Tàng tôn tạo, sửa chửa…nằm trong một khuôn viên rộng trên 3 hecta. Ngoài ngôi chùa chính ,còn có nhiều gian phụ như nhà khách, tiếp tân, nhà bếp, gian nghỉ ngơi rộng, có sức chứa cả trăm người qua đêm…Tam Bửu Tự cổ kính, và theo hành đạo của tôn giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là Tứ Đại Trọng Ân, nên thờ cúng trên 30 bàn thờ từ gian chính điện ra tận ngoài cột phướng. Trong chính điện thờ Quan Thánh Đế Quân(Quan Công,Quan Bình,Châu Xương), thứ hai là thờ Hội đồng thượng Phật, kế bên là Cửu huyền bá tánh, thập Vương, Hộ pháp, phía trong là Chánh Tăng, Phật Vương, Phật Thầy, Phật Trùm…Trước tiền sảnh tạc 4 rồng đeo 4 trụ, ngoài gần cột cờ phướng thờ Thiên, Địa thần, Thổ Trạch… Việc cúng bái rất nhiều lễ, ngoài rằm ,ba mươi hằng tháng, còn những đại lễ khác như Đức Bổn Sư viên tịch (13/10 âl), rằm tháng 7(Trai đàn), Cúng hội Chánh đán, Đoan ngủ, Giỗ cúng tập thể thường niên ngày 16/3 al cho trên 3.017 nạn nhân bị bọn diệt chủng PônPốt, Iêngsary sát hại ngày 16/3 âl năm 1978. Trong chùa Tam Bửu còn có thờ Ngôi Long Đình, một cổ vật do Đức Bổn Sư thiết kế,và được làm bằng gỗ quý ( Cây Cam Đàn ở Thất Sơn), cách nay hơn 115 năm.
Tam Bửu Tự là ngôi chùa trung tâm của trên tám chục ngàn tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không chỉ riêng ở thôn An Định- Núi Tượng, hay các thôn lân cận như An Hòa, An Thành, An Lập, An Phước…mà người theo đạo khắp cả miền Tây, do Ông Ngô Lợi-Đức Bổn Sư sáng lập, nay thuộc thị trấn Ba Chúc,Tri Tôn, An Giang. Vừa có kiến trúc cổ kính, mang dấu ấn lịch sử thời khai mở vùng Thất Sơn huyền bí. Được nhà nước công nhận di tích lịch sử kiến trúc cấp quốc gia hơn 20 năm qua, là một địa chỉ danh tiếng ở vùng Thất Sơn ,An Giang. Hiện nay thu hút mỗi ngày hàng trăm người hành hương trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái theo tua từ Chùa Bà –Núi Sam, vào Núi Cấm rồi đến Núi Tượng-chùa Tam Bửu-Nhà mồ Ba Chúc…

 Lần này, đoàn của dienbatn tới thăm một người bạn là Mười Trác ( Nguyễn Ngọc Trác ) là trưởng gánh trong 24 gánh tại thôn An Định nơi Thánh Địa của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Từ sáng sớm , thày Mười đã điện cho chúng tôi hẹn về sớm để ăn cơm cùng một đoàn từ thiện từ TP. HỒ CHÍ MINH mới xuống. Loanh quanh mãi bên Châu Giang , Thị xã Tân Châu , mải mê nghe chuyện về lễ hội " đâm xuyên quai " mãi tới tối mịt chúng tôi mới tới được Tam Bửu Gia là ngôi chùa do Thày Mười trụ trì. Thày Mười là Trưởng gánh ở khu vực này , có nhiệm vụ ghìn giữ mối Đạo trong vùng và làm những công việc về Quan - Hôn -Tang- Tế cho đồng bào trong khu vực. là một người đàn ông trạc ngoài 40 cao lớn , tráng kiện và rất đẹp trai. Gia đình Thày Mười đã nhiều đời nắm giữ mối Đạo trong khu vực này. Đón chúng tôi hết sức niềm nở thân tình , Thày chỉ cho chúng tôi chỗ tắm rửa thay đồ và giục người nhà dọn cơm cho chúng tôi ăn. Chùa này sở dĩ có tên Tam Bửu Gia là do nằm dưới sự chỉ đạo của Tam Bửu Tự như dienbatn đã giới thiệu ở phần trên. Ngày xưa Đức bổn sư Ngô Lợi có 24 vị đệ tử ruột cận kề cho đến khi viên tịch và là trưởng gánh của 24 gánh. Sau này do chiến tranh ly tán , chỉ còn khoảng 5,6 gánh là đúng theo danh chính ngôn thuận , còn các gánh khác chưa thực sự là những gánh theo đúng ý nghĩa của ngày trước. Hiện nay có khoảng 6 Tam Bửu Gia còn đang hoạt động, giữ ghìn riềng mối Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong vùng. Cơm xong , chúng tôi ngồi quanh bàn trà đàm Đạo thật vui vẻ. Thày Mười là một người có tư chất hành Đạo , thông minh , tế nhị và hiểu biết rất sâu về bổn Đạo của mình. Ngồi một chút , dienbatn thấy Thày có điện thoại liên tục do những người dân trong vùng gọi tới kêu Thày làm giúp các việc Quan , Hôn , Tang , Tế. Thày kể cho chúng tôi nghe công việc hàng ngày của mình. Có nhiều lần mấy Thày trò phải nhảy xe đò đi giúp những đám tang , khi xong do thân chủ quá nghèo lại tự bỏ tiền ra đi về . Là người chăm sóc phần tâm linh trong một khu vực nghèo như Ba Chúc , Thày và các vị phụ tá vẫn phải tự làm ruộng nuôi thân hành Đạo . Cách đây vài năm , Thày Mười đã một thân một mình sang thăm các vị Thánh Tổ tại dãy núi Tà Lơn bên Cămpuchia. Nhiều chuyện ly kỳ và nhiều ân sủng của Thày Tổ đã đến với Thày Mười.Hàng ngày Thày và các đồng Đạo tại đây vẫn công phu ngày bốn thì : Tý - Ngọ - Mão - Dậu hết sức nghiêm túc. Đêm đó , dienbatn và Thày Mười gần như không ngủ để đàm đạo . Sáng hôm sau , vì Thày bận công chuyện giúp một đám tang cho bà con trong vùng , chúng tôi cùng Thày lên chùa chụp ảnh kỷ niệm và lại tiếp tục lên đường. Thày Mười tặng cho dienbatn mấy cuốn sách hay được Thày sử dụng trong công việc của mình.


Thày Mười Trác cùng các thành viên trong đoàn du khảo.

4/VỀ THĂM MỘ PHẬT TRÙM
Phật Trùm (? - 1875) tên thật: Tà – pênh, người Việt gốc Khmer, ở ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm

Phật Trùm, từ nhỏ đến lớn, sống như một người bình thường. Khi trưởng thành, ông cưới vợ và có được bốn cô con gái. Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm), theo như mấy câu sám giảng của ông còn lưu truyền:
Ở đời hạ giới yêu ma,
Phật cho Thầy xuống để mà giảng dân.
Tuy là phần xác của Miên,
Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời.
Từ đấy, Phật Trùm bắt đầu giảng giáo lý toàn bằng tiếng Việt. Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Phật Trùm cho biết ông có để lại một cuốn kinh bằng tiếng Việt, nhưng Tà-Sao là cháu của Phật Trùm đã đem nạp cho Pháp, bởi vậy chỉ có thể biết được một phần nội dung:
Thương đời ta phải bị đày,
Phật môn vạn pháp không ngoài cái Tâm.
Hạ ngươn sanh chúng lạc lầm,
Nên đem diệu lý âm thầm độ sinh.
Tu Nhân, Học Phật khá gìn,
Long Hoa đến hội, Phật tiên đến gần..
Và cũng tương tự lối hành đạo của Đoàn Minh Huyên, Phật Trùm cho phân phát “lòng phái”, trổ tài trị bệnh thật lạ thường. Người ta kể rằng Phật Trùm thường dùng đèn sáp đốt lên, bảo bịnh nhơn ngửi hơi khói mà hết bịnh, nên ông còn được gọi là Đạo Đèn.
Cái tên ấy, đã được nhắc đến trong sám giảng của ông:
Lâm san nghe tiếng Đạo Đèn,
Gần xa thiên hạ ngợi khen vô cùng.
Kẻ thời đến lãnh giấy thông,
Người thời đến lãnh phù ông đem về...
 Mộ Phật Trùm trên lưng chừng núi Sàlon, ấp Sàlon, xã Lương Phi.Khoảng năm 1870, lúc này tín đồ người Việt theo ông đã khá đông. Thấy vậy, một số người Việt gốc Khmer trong xóm vu cáo là ông mượn chuyện đạo, chuyện trị bệnh để quy tụ, để cổ xúy nhân dân nổi loạn, nên nhà cầm quyền Pháp cho bắt giam ông rồi kết án tù đày.
Trong tù, ông chăn heo. Sau vài năm, Pháp thấy ông hiền lành, không có biểu hiện gì chống đối, nên ông được trả tự do. Về lại quê nhà, Phật Trùm tiếp tục hành đạo, có khi rao giảng đạo sang tận bên nước Campuchia.
Ngày 13 tháng 3 âm lịch năm Ất Hợi (1875), Phật Trùm viên tịch.
Hiện mộ Phật Trùm nằm lưng chừng núi Sàlon, một núi nhỏ, thấp thuộc ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Mộ không đấp nấm, theo chủ trương của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.
( Theo vi.wikipedia.org )
Đường vào mộ Phật Trùm


Cánh đồng lúa tại ấp Sa Lôn.


Hai viên ngọc của Phật Trùm người ta mới tìm được hơn một năm nay khi sửa miếu Phật Trùm.


Trong miếu Phật Trùm tại ấp Sa Lôn - Xã Lương Phi - Tri Tôn - An Giang.


Giếng nước của Đức Phật Trùm dùng để chữa bệnh khi bắt đầu được tu sửa lại .
Giếng nước do Phật Trùm sai đào nay mới được sửa lại.



Thông tin thêm : "Thực hư chuyện "ngọc cổ" chữa bá bệnh ở An Giang
Trước thông tin bà Neáng Bét (72 tuổi, ngụ ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, H.Tri Tôn, An Giang) có cặp “ngọc cổ” trị được bá bệnh gây xôn xao phố núi, ngày hôm qua (4/8/2010), chúng tôi đã xuống tận chùa Tà Pol (Phật Trùm) xã Lương Phi (Tri Tôn – An Giang) để tìm hiểu thực hư sự việc.
Theo lời tường thuật của Châu Nhươn (35 tuổi), con bà chủ chùa Neáng Bet, cháu đời thứ 5 của ông Phật Trùm: Vào ngày 9/1/2009 (âm lịch) anh nằm mơ thấy ông Phật Trùm về báo có 2 viên ngọc ở dưới bàn thờ. Châu Nhươn đã đào sâu xuống khoảng 1 mét thì gặp hộp gỗ. Ở trong có hai viên đá lớn bằng quả trứng gà gói trong giấy đỏ.
Khi đem lên, chiếc hộp gỗ đã hư mục và miếng vải đỏ cũng rã hủy. Miếng vải đỏ hiện nay là mới thay mới. Anh cho biết thêm là sau khi đào đem đá lên, 2 tháng sau anh mới cho bà mẹ Neáng Bet hay. Từ đó bà con mới biết và đến xem nhiều.
Tuy nhiên, khi được hỏi bà Neáng Bet lại cho biết, cách đây khoảng tám tháng, trong lúc công nhân đang đào đất để xây rào bảo vệ gò mối trong chùa thì phát hiện mảnh vải gói hai viên giống như đá hình tròn để trong một cái hộp vuông. Khi chúng tôi nhìn kỹ nơi đào đất, thấy “láng lơ”, không có để lại dấu tích gì của việc bị đào lên xây lại.
Trao đổi với chúng tôi, ông Huỳnh Công Toại, quản lý chùa cho biết: Ngày 3/8, ông Hồ Văn Hiệp - Bí thư huyện ủy Tri Tôn vào xem và cho biết, hai viên ngọc người ta đồn chỉ là hai mẫu đá được tìm thấy trong quá trình tu sửa ngôi mộ của ông Tà Pol.
Hai mẫu đá có phát quang khi đưa ra ánh sáng, khả năng viên đá có chứa thạch anh, tuy nhiên, vẫn là đá chứ không phải là ngọc. Hiện nay, nhà chùa đã cam kết với chính quyền là không được cho ai xem, không được bán và không được làm mất.
Hiện tình trạng an ninh khu vực trở lại bình thường. Chùa Tà Pol là ngôi chùa do dòng họ Tà Pol lập ra để thờ cúng những người trong họ chứ chưa thuộc hệ thống chùa của Giáo hội Phật giáo tỉnh An Giang. "
Bà Neáng Bet cầm 2 viên đá ra soi nắng.

Xin đọc tiếp bài 3 -Thân ái - dienbatn

Xem chi tiết…

DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY. BÀI 1.

1/04/2011 |
DU KHẢO CÙNG THẾ GIỚI HUYỀN MÔN MIỀN TÂY. BÀI 1.


Sau tết đương lịch 2010, dienbatn quyết định cùng một số Huynh đệ tỷ muội trong giới Huyền môn làm một cuộc du khảo để khảo sát thực trạng về Bùa - Ngải của miền Tây - Việt Nam. Chuyến du khảo này cũng bắt đầu một cách hết sức hữu duyên. Ngày trước , cũng do hữu duyên , dienbatn quen biết với một tỷ và qua tỷ đó biết một Thày tu luyện trên núi Cô Tô. Cũng nhờ trùng trùng duyên khởi , dienbatn cùng một số anh chị em đã vượt qua những đỉnh dốc khúc khuỷu, trơn trượt của Cô Tô , lên chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những vồ trên núi , thấy được những cây vạn tuế hàng mấy trăm năn tuổi trên đỉnh núi Cô Tô. Trên hai vồ Thượng và trung , hàng năm có rất nhiều người trong giới Huyền môn về đây ngồi nhận điển . Tại khu vực này , điển rất mạnh , mà theo đánh giá của nhiều người trong Huyền môn , ngồi tịnh ở đây một đêm bằng nhiều tháng ở nhà. Chương trình dự định sẽ khảo sát vùng Chà Châu Giang , khảo sát các loại Ngải tại vùng thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Nơi này theo Phayant đã viết có các loại ngải đen là : Xà mo - Tà náp - Cau na xăt. Vùng này cũng là trung tâm của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và có Chùa Phi Lai nằm đối diện chùa Tam Bửu, tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, cách núi Tượng khoảng 200m về hướng Đông ( dienbatn đã có bài viết về ngôi chùa này ). Ngoài ra chương trình còn nghé thăm một số Huynh đệ trong giới Huyền môn miền Tây và ghé thăm lại núi Cô Tô nơi sư Thày cùng đoàn tu luyện.

1/ Khảo  sát Bùa Ngải  của  người Chà Châu Giang .

" Ngó lên Châu Đốc.
Ngó xuống Vàm Nao
Sóng bổ lao xao
Em thương anh mà ruột thắt gan bào
Biết anh có thương lại
Biết anh có thương lại
Chút nào hay không ! 

Châu Giang là một xã đối diện với châu thành huyện Châu Phú, nằm bên kia bờ sông Hậu thuộc tỉnh An Giang, có đông đảo người Chăm sinh sống. Châu Giang là tên gọi Hán-Việt do người Kinh dùng để chỉ một cù lao giữa dòng Cửu L ong do phù sa bồi đắp. Châu Giang gợi lên vẻ đẹp sông nước thơ mộng, êm đềm đồng thời cũng là trung tâm giao thương của nghề trồng dâu, ươm tơ, dệt lụa vốn là nghề truyền thống của người Chăm trong tương quan trao đổi hàng hoá với người Việt, Hoa, Khme và các cư dân thuộc quần đảo Mã Lai. Ngoài Châu Giang, các làng Chăm khác vẫn in đậm dấu vết pha trộn ngôn ngữ của cư dân có nền văn hoá đa sắc tộc : Đa Phước (Koh Kabõa), Katambong, Phum Soài, La Ma, Đồng Cô Ki, Tam Hội.

Ngược dòng lịch sử về những thiên niên kỷ trước, những triều đại Chăm pa suy vong trên đường Nam tiến đã dừng lại ở Tây Ninh, Châu Đốc và sang tận vương quốc Campuchia : Vua Pô Chơn là vị vua cuối cùng của vương quốc Chămpa theo Hồi giáo khi sang lánh nạn ở Campuchia đã lôi cuốn đa số người Chăm theo Hồi giáo rời quê hương. Và chính họ đã dừng chân lập cư bên bờ Châu thổ !
CHĂM hay CHÀM ?

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về thăm non nước giống dân Hời...

Cứ mỗi lần đến thăm những cổ tháp, đền đài Chăm hiu quạnh, tôi lại nhớ đến nhà thơ Chế Lan Viên. Ông yêu mến nền văn hóa Chămpa, mỗi chữ trong mỗi bài thơ của ông dường như được đúc bằng những viên gạch Chàm kỳ bí. ấy vậy mà trong một khúc ca bi tráng, ông đã dùng chữ Hời để chỉ dân tộc Chămpa ! Chữ Hời ở miền Trung phát nguyên từ chữ hời dùng để gọi nhau giữa người Chăm, nhưng với chính người Chăm thì chữ Hời biểu lộ một dụng ý khinh miệt. Cư dân Chămpa tự gọi mình là Chăm chứ không phải Chàm, vốn là một từ tiếng Việt. Tại Ninh Thuận, Bình Thuận, người ta còn gọi là Chăm Chuh và Chăm Bani để phân biệt người Chăm theo Bà-la-môn và người Chăm theo Hồi giáo - một tôn giáo chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ thứ X ở Chămpa. Theo tác giả Dohamide, cách gọi này cũng giống như người Việt phân biệt lương và giáo - chỉ những cư dân theo đạo Cơ Đốc.
Một điều cũng cần phải biết là người Chăm Châu Đốc không bao giờ thích người khác gọi mình là Chà hay Chàvà (Java). Chà là xuất xứ từ chữ Ja kèm theo tên để gọi nhau thân mật trong giới trẻ đồng trang lứa tương tự như "thằng" trong tiếng Việt. Ví dụ như Hô Sanh, Su Lây Man thì trong câu chuyện thay vì gọi nguyên tên thì những âm đầu bị bỏ mất đi, chỉ giữ âm chót và ghép với Ja: Ja Sanh, Ja Man. Chà ở đây hoàn toàn không phải là cách gọi tắt của Chà và như nhiều người vẫn nhầm tưởng. Trẻ em Việt chơi với trẻ em Chăm phát âm trại Ja thành Chà. Cũng như người miền Trung đọc trại khách trú (người Hoa) thành các chú. Chà và là tiếng có nguồn gốc từ Java để chỉ những thương nhân người ấn hoặc người Hồi quốc ở Sài Gòn hoặc một số tỉnh lỵ Nam Bộ khác, còn riêng tại Châu Đốc thì có một bộ phận cư dân được gọi là Java ku - cư dân Mã Lai nói tiếng Khme. " ( http://www.nguoicham.com )
Thày Kim Cang Trí đã viết về vùng này như sau :  "Về phần thư , thuốc đa số người Miên (khơ-me krom) và Chà châu giang ở miền tây và miệt 7 núi đều tinh thâm , ở miệt Thất sơn từ núi Bà (núi Sam) qua ông Cấm , ông Tô , núi Tượng , núi Dài v.v......Tri tôn , Xà tón và xuống cả miền Hà tiên , Lục sơn qua Miên đều có sử dụng.

Bùa phép của người Khơ-me dùng tiếng Nam phạn (pali) bắt nguồn từ miền Nam Ấn độ , do ảnh hưởng du nhập của Phật giáo nguyên thủy giống như các nước lân bang : Lào , Thái , Tích lan v.v...và cộng thêm tín ngưỡng balamôn giáo thời các vương quốc Phù nam , Chămpa nên huyền thuật của họ rất đa dạng , kỳ bí và lắm tông nhiều phái được người Miên gọi chung nôm na là BÀLÂY (pali) ". 
Thông thường , những người lạ có ý muốn tìm hiểu chuyện Bùa Ngải , thư ếm ở vùng này rất nguy hiểm , bởi ở đây hầu hết mọi người từ nhỏ đến lớn  đều biết làm Bùa ngải , thư ếm.

Cũng may trong chuyến đi lần này , trong đoàn có mấy tỷ có những người thân đáng tin cậy và có chức sắc trong vùng nên dienbatn cũng yên tâm được phần nào.
Khởi hành từ TP.HỒ CHÍ MINH lúc 5g, sau 4 tiếng chạy xe , chúng tôi đã qua phà Vàm cống và có mặt tại Thành phố Long Xuyên.Nơi đây là nhà của gia đình tỷ trong đoàn. Chị T đã điện về nhà trước , nói con bê từ trên gác xuống tặng dienbatn một chậu Ngải Tổ.

Trên phà Vàm Cống.




Chậu Ngải Tổ dienbatn được tặng . 



Loại Ngải Tổ này theo Phayant viết như sau : "
Cây ngãi tổ .

Các bạn đọc xem hình của cây nầy,tôi chụp tại vườn ngãi ,vì mùa nóng nên cây được trồng xen với các loại khác cho mát ,hình cây ở giữa trung tâm hình ,lá dài như lá cây trinh nữ hoàng cung ,có 2 hình là chụp hoa của nó ,hoa lớn cở đầu ngón chân cái ,có màu 3 màu vàng trắng đỏ xen vào nhau ,rất hiếm ra ,khi ra thì đôi ba ngày mới tàn ,hoa nầy được người tin tưởng dị đoan phơi khô để vào bóp đựng tiền lấy hên khi giao dịch.

Còn gọi là cây ngãi quấn hay ngãi Thái ,sở dĩ có tên gọi như vậy là mô tả theo hình dáng của cây và xuất xứ của nó .
Năm 2006 cây ngãi nầy được tìm thấy tại Thái Lan ,có sự chú ý về mặt dược tính của nó trong vấn đề y học ,về bó liền xương ,tạo dựng lại mô cơ và gân sớm cho người bị nạn .Cây ngãi nầy được mang về Việt Nam và trồng tại Cần Thơ trong 1 vườn thuốc nam ,tuy nhiên có lẽ vì lí do phong thổ không phù hợp nên cây phát triển yếu ,và dược tính cũng giảm đi khá nhiều .
Để tìm cách khôi phục dược tính của nó ,các vị thầy thuốc đã đem nó lên miền Thất Sơn An Giang ,nơi đây nổi tiếng là ở ngọn núi Cấm (Thiên Cẩm sơn) từ xưa nay tương tụ vô số ,có thể nói là hàng trăm loại nam dược kì bí lừng danh …với hy vọng phát triển mạnh hơn về loại cây quí hiếm nầy .
Có lẽ vì do thổ cư phù hợp nên cây ngãi quấn phát triển khá tốt , đem áp dụng sau khi trồng trên 1 năm với phần củ ,thì thấy ứng dụng khá tốt trong việc bó lành gân xương phục hồi mau chóng.
Năm 2008 ,tại vườn thuốc trên núi Cấm có trồng độ 30 cây đem từ Thái Lan về , được chia 2 tốp ,1 trồng trong chậu ,2 trồng thẳng xuống đất lên liếp vồng,kết quả là cây trồng thẳng xuống đất mau ra cây con và phát triển mạnh hơn ,nhưng tánh linh ít hơn cây trồng trong chậu sành.
Tuy nhiên có phát triển nhưng số lượng ít và chậm nên cây được bán với giá khá cao .
Tại điểm gốc nầy ,cây được bán với giá (thời điểm 2008) là 2triệu năm trăm ngàn cho 1 cây ….Đương nhiên không bán đại trà ,chỉ bán cho người biết nghề thuốc hay nghề huyền bí ,theo lời vị chủ vườn thì giá như vậy đã là rẻ…Vì cớ đem từ Thái Lan về rất khó khăn ….Không tin, ai cứ đi Thái mua bất kì cây kiểng về đây xem sao , đem được lên phi cơ là cả 1 vấn đề khó khăn khúc mắc !...Còn lí do nữa là cây tại bên ấy bán cũng không rẻ …đem về đây lại khó trồng cho tốt để sanh cây non …khó phát triển đại trà .
Cho nên vị thầy thuốc tại đó nói bán như vậy là củng làm phước rồi ….Vì khi 1 củ ngãi ấy bó liền xương cho người bị nạn ,công thầy và công thuốc có thể lên đến hàng chục triệu hay 12 triệu là chí ít(hiện nay chỗ nầy không còn bán nữa ,vì đa số cây ở đây đã được các thầy thuốc mua và gởi trồng tại đây ,chỉ còn tại nơi các thầy khác từng thỉnh về trồng cho sanh thêm con.Nhưng điều nầy rất khó ,vì có khi trồng đôi ba năm mà cây vẫn không nhảy con …Vì vậy các thầy bán với giá khá cao như 7-8 triệu là chuyện thường ,thậm chí còn hơn …nhưng có nghĩa gì với 1 doanh nhân khi 1 tháng không kiếm ra 10 triệu hay 100 triệu? Cho nên đó vẫn là cái giá hời cho những ai biết coi trọng giá trị của cây ngãi giúp cho mình) .

Nếu biết cách dùng ,cây nầy bó gãy xương nhanh và mạnh hơn ngãi nàng Rế ,hay ngãi Hổ trên núi Cấm ….Đặt biệt không để lại dị dạng cho tại chỗ bị thương .

Thực tế ít thầy thuốc Việt Nam biết về công năng của cây ngãi quấn nầy ,vì lẽ nó mới du nhập vào Việt Nam vài năm nay và không hề có tên hay ảnh trong danh mục sách thuốc nam từ trước đến nay .
Nói về hình dạng thì cây giống như 1 phiên bản của cây đại tướng quân thu nhỏ lại ,cây thuộc loại thân mềm ,lá bẹ ,cây già lá lớn dài non 1 mét ,cao độ 7 tấc ,trồng mấy năm khó thấy ra hoa ,chắc là loại hiếm ra hoa như cây phát tài ở Việt Nam .
Đặc điểm có một không hai , để nhận dạng nó là ,các lá của cây quấn xoay xoắn vào nhau khi bắt đầu mọc ra từ thân cây ,có khi 2 hay 3 lá cùng xoắn vào nhau như ta se chỉ vậy ….Nhưng khi lá bắt đầu phát triển thì tự động các các tự dần dần xoay ngược chiều xoắn lúc ban đầu để tự tách riêng biệt ra(cây ngãi xanh củng có lá mọc kiểu nầy ,nhưng là loại họ ngãi hổ,có công dụng khác ,thân cây như loại nga truật)
Đúng ra thì cây trông có vẻ vừa giống như cây đại tướng quân lại vừa có lá tựa hồ giống cây trinh nữ hoàng cung ….Lại nghe có thầy nói cây quí ở chỗ trị vô sinh cho đàn ông "

dienbatn xin bổ xung thêm những điều sau :  ngoài những giá trị về Huyền môn thì còn là một vị thuốc rất công hiệu trong việc chữa trị những khối u, ung nhọt , nhất là những khối u bên trong cớ thể. Đã có một số trường hợp ung thư đại tràng hay có khối u trong ruột đã được chữa khỏi nhờ cây Ngải Tổ này. Cách dùng đơn giản nhất là hàng ngày ta lấy chừng 5 cm lá tươi , nhai nuốt hoặc những lá già đem thái nhỏ ra phơi khô uống thay cho trà. Đặc điểm khi mới uống hay ăn lá Ngải Tổ thường có cảm giác nhợn trong họng, lúc đó ta cố nuốt vào và một chút sau cảm giác đó sẽ mất đi.
TẠI BẾN PHÀ CHÂU GIANG


Qua phà Châu Giang

Một Thánh đường Islam của người Chăm - Châu Giang.

Một ngôi nhà đặc trưng của người Chăm - Châu Giang.

dienbatn tại UBND Xã Châu Giang.

dienbatn cùng chị SARÓ , chủ tịch hội phụ nữ xã Châu Giang - là người hướng dẫn đoàn du khảo văn hoá Chăm tại Châu Giang.


  dienbatn cùng anh Chánh văn phòng xã Châu Giang


Thăm Thánh đường Islam MASJID AL. NÌA MAH - CHÂU PHONG.


Koh Taboong là một trong 7 làng Chăm Châu đốc. Ngoài Koh Taboong là làng chôn nhao cắt rún của chúng tôi, còn có 6 làng người Chăm khác là Mat chruk, Koh Kaboak, Plây Kênh, Plao Ba, Koh Ghoi, Koh Kaghia, Sabâu, với địa danh Việt tương ứng là Châu Giang, Đa Phước, Châu Phong, La Ma hoặc Vỉnh Trường, Bún lớn hoặc Bún Bình Thiên, Đồng Cô Ky…..., địa thế không liền nhau, nhưng cùng nằm dọc theo hai bên bờ sông Cửu Long trải dài đến giáp giới với Kampuchea.

Phần lớn các địa danh tiếng Chăm kể trên khởi đầu bằng từ “Koh” có nghĩa là cù lao, cho thấy phần lớn các làng Chăm Châu Đốc đều nằm trên các cù lao trên ven sông Cửu Long:
-Gọi là Koh Kaghia vì cù lao này được đánh dấu bằng hàng cây sao, một giống cây, gỗ rất chắc mà người Chăm dùng làm cột nhà sàn hoăc đóng ghe xuồng.
-Về Koh Goi, có vài lối diễn dịch khác nhau tại địa phương, cần được nghiên cứu xác định sau này.
- Sở dĩ gọi là Koh Kaboăk vì xóm này chuyên dệt và mua bán tơ lụa, hầu hết dân cư đều từ Plây Kênh ở bên bờ đối diện chuyển qua, do nạn bên lỡ bên bồi của dòng sông Cửu Long.
Về địa danh Plây Kênh, dịch nghĩa là “xứ con kênh”, do nhà cửa làng này nằm dọc hai bên bờ một con kênh đào dẫn nước từ bờ Hậu giang trổ ra phía Tân Châu. Trong dân gian, người ta thường gọi là Gah Kênh thay vì Plây Kênh; Gah là “bên”. Cùng thuộc Gah kênh này, có một ấp nằm ngoài bờ sông cái gọi là Puk Pa-ok; Pa-ok tiếng Chăm là cây xoài, nên trong tiếng Việt gọi là “Hàng xoài”. Và cũng từ tiêu chuẩn để nhận diện bằng hàng cây xoài này, mà tên làng Plây kênh thời Pháp thuộc mới được ghi trên giấy tờ hành chánh là Phum Soài (“soài” viết s). Phum là từ ngữ khmer có nghĩa là làng, cho thấy xuất xứ Khmer của làng này. Địa danh Phum soài, về sau, đã dược đổi thành tên Việt là Châu Phong. Trong số các tên làng kể trên, có lẫn lộn Mat Chruk là chữ Khmer chớ không phải chữ Chăm, có nghĩa là “mõm con heo”, do địa thế của làng này nằm ở một bên bờ sông Cữu long đổ từ Nam Vang xuống, tẽ ra làm hai nhánh, khiến một bên bờ trông tợ như mõm con heo vậy. Mặc dầu người Chăm không ăn thịt heo, trong dân gian vẫn dùng tên gọi này. Sự lẫn lộn từ ngữ khmer vào tên gọi làng Chăm càng gợi thêm cho tôi sự tò mò tìm hiểu, để biết rằng đất Mat Chruk cũng như các làng Chăm khác tại đây ngày xưa là vùng đất Thủy Chân Lạp và từ “Mat Chruk” là địa danh đã sẵn có từ trước khi người Chăm đến định cư. Vì làng Châu giang nằm bên kia bờ Hậu giang đối diện với Châu Phú, tỉnh lỵ Châu Đốc, nên trong dân gian, người Việt còn gọi chung người Chăm Châu đốc là “Chà Châu giang”. Ai cũng rõ, cách gọi này không đúng, vì Châu Giang chỉ là tên một làng bao gồm xóm dưới có Masjid Al Azhar gắn liền với uy danh của cố Hakim Umar Aly.
Vị này là người Chăm đầu tiên đã học đạo nhiều năm tại Thánh địa Mecca, A Rạp Sau-Đi, về nước, đã có công đào tạo nhiều thế hệ các Tuôn tức các giáo viên dạy giáo lý Islam tại các thôn ấp Chăm. Hakim al-Haji Umar Aly là vị Mufty đầu tiên đứng đầu cộng đồng Chăm Islam tại Việt Nam. Tương truyền, Masjid al-Azhar được cất ban đầu hình thức thô sơ có mái lợp như một ngôi đình làng Việt Nam, dưới thời trấn nhậm của Thoại ngọc Hầu, do người Chăm đã góp công đảm trách hữu hiệu về mặt an ninh, yểm trợ công trình đào con Kênh Vĩnh Tế khai thông đường nước từ Châu Đốc thoát ra vùng bờ biển Hà Tiên. Cho đến khoảng năm 1860, ngôi masjid này được dỡ và dời từ chỗ gần sát đường vào bên trong cách đó 30 thước, ở vị trí hiện nay. Dưới thời Hakim al-Haji Abdorrohman, vào khoảng năm 1880, masjid mới chánh thức lấy tên al-Azhar và xây một đài tháp cao bên cạnh theo mô hình đài tháp của các masjid vùng Trung Đông. Đến năm 1959, dưới thời Hakim al-Haji Umar Aly, masjid al-Azhar lại được tái thiết với kiểu dáng hiện đại cho đến nay. Sau khi Haji Umar Aly qua đời vào năm 1981, Hakim al-Haji Ismael Fickry thuộc Jam’ah Plây kênh (Châu Phong) đã được cử lên kế nhiệm, và cũng đã qua đời vào năm 2000; cho đến nay, khi chúng tôi hoàn tất tập sách này, cộng đồng Chăm Islam Việt Nam không có Mufty. Làng Châu Giang còn có một Jam’ah khác thường được gọi là “xóm trên” ngăn cách với “xóm dưới” al-Azhar bằng một xóm người Việt. Jam’ah xóm trên này mang tên Mubarak với một masjid cùng mang tên Mubarak, bao gồm phần lớn là người Java Ku một thời gắn bó với cội nguồn Mã lai và gắn liền với tên tuổi của cố Hakim al-Haji Idriss, cũng như Hakim al-Haji Umar Aly, là một vị có tiếng uyên thâm giáo lý Islam, nguyên đã trải qua nhiều năm học đạo tại Malaysia (cũng đã qua đời năm 2002). Khi nói đến Jam’ah Mubarak, người ta liên tưởng ngay đến một giáo đường nằm ngay bến phà từ bên kia bờ thị xã Châu Phú.
Hai Jam’ah tức tập thể có cơ cấu lãnh đạo Islam, al-Azhar và Mubarak cùng nằm bên bờ Hậu giang, nối liền nhau bằng một con lộ, ngăn cách nhau bằng xóm Hòa Lạc của người Việt, khoảng cách chỉ khoảng một cây số ngàn tức không xa nhau mấy, nên trên nguyên tắc, chỉ có thể lập thành một Jam’ah có chung một giáo đường mà thôi. Việc lập thành hai Jam’ah với hai giáo đường đã đưa đến hệ quả, không biết lễ nguyện tập thể ngày thứ sáu ở giáo đường nào sẽ có giá trị xét về mặt giáo lý Islam. Người xưa đã giải quyết sự việc bằng cách cho đào một con kênh lịch sử trong dân gian gọi là kênh Sa-lat ngăn đôi hai jam’ah, đồng thời sử dụng cho hệ thống thoát nước vào mùa nước nỗi. Tên Sa-lat là do chữ đọc trại ra của chữ Salamat có nghĩa là an vui, tươi đẹp.
(Trích từ "Bangsa Champa: Tìm về với cội nguồn cách xa"- Dohamide và Dorohiêm )

MỘT SỐ PHONG TỤC CỦA NGƯỜI CHĂM - CHÂU GIANG.
( video clip do dienbatn thực hiện )











Tại nhà của một Pháp sư người Chăm - Châu Giang . Các bạn chú ý vành khăn trên đầu biểu thị là người này đã hành hương về Mecca hay Makkah ( Makkah al-Mukarramah ) - Thánh Địa Đạo Hồi.


MỘ CÔ NĂM CHÂU ĐỐC.

Những người hành hương về Thất Sơn - Châu đốc , những lái xe đường dài qua vùng này , không ai là không biết đến sự hiển linh của " Cô Năm Châu Đốc ". Sự hiển linh của Cô mạnh đến mức nhiều người mỗi lần ghé Miếu Bà Chúa Xứ , không bao giờ quên ghé mộ cô Năm Châu Đốc để thắp nhang cho cô. Vậy sự tích về " Cô Năm Châu Đốc " như thế nào ?
Tục truyền rằng : Ngày xưa , tại vùng Núi Sam - Châu Đốc có một cô gái con nhà nghèo thường đi bán chè trong vùng. Cô gái , thứ năm trong gia đình rất đẹp người đẹp nết được bà con trong vùng quý mến. Năm cô 18 tuổi , trong một lần đang đi bán chè cô bị Ngũ Hành bắt ( Ngày nay ta gọi là đột quy ) . Trong khi người nhà và chòm xóm làm lễ tang cho cô ở nhà thì người ta lại thấy cô ra chợ mua những đồ tang lễ về tẩm liệm cho mình . Sau này cô thường hiển linh vào ban ngày . Mộ của Cô Năm được táng gần Lăng của Thoại Ngọc Hầu . Sau này , Những người lái xe đò ở Châu Đốc thường thấy một cô gái rất đẹp xin quá giang xe. Nếu tài xế đứng đắn thì không có chuyện gì xẩy ra , nhưng nếu tài xế nào có tính dê , buông lời chọc ghẹo thì y như rằng ngày hôm đó bị đau bụng quằn quại , ói mửa chịu hông nổi . Qua những giá đồng , Cô Năm báo cho biết tài xế đó phải ra mộ cô tạ lỗi bằng con heo quay thì cô mới tha cho. Cũng qua những giá đồng , cô Năm cho biết cô đã được Mẹ Quán Thế Âm cho đi tu và từ đó cô thường hiển linh giúp những người khốn khó trong vùng . Khi cô mất , vì lúc đó gia đình khó khăn không có hình cô để thờ . Một bữa , cô hiển linh tại nhà một thợ chụp ảnh trong vùng và bảo người thợ chụp ảnh cho cô . Tấm ảnh cô đứng bên chiếc xe hơi , tay cầm điếu thuốc lá , hiện được nhiều gia đình ở Châu Đốc thờ tự. Cô cũng báo cho mọi người biết là nếu ai lễ cô vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm thì cô sẽ độ cho. Từ đó trong dân gian truyền tụng nhau , cúng tế Cô Năm Châu Đốc vì sự hiển linh của cô. Mộ của cô được che mái như trong nhà , bên cạnh còn có một số ngồi mộ khác của gia đình cô và đặc biệt có thêm mộ của Cậu Bé mà dienbatn đang tìm hiểu thêm. Những người đi lễ hội vía Bà Chúa Xứ hàng năm thường ghé mộ Cô Năm Châu Đốc thắp hương và bày tỏ nguyện vọng. Nhiều người đã được chứng nên họ may tạ cô những bộ quần áo rất đẹp để dâng lên tượng của cô. Ngày nay cả một tủ lớn quần áo người ta dâng tặng cô Năm Châu Đốc còn được trưng bày bên khu mộ.




( Xin xem tiếp bài 2 - dienbatn ).

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *