ĐỊA MẠCH YÊN DŨNG - BẮC GIANG VÀ THỦY LONG TỰ ĐỒNG VIỆT.BÀI 1.
Ghi chú : Vừa rồi, dienbatn và một số ACE trong Đạo tràng DPLHVV được mời đi tầm Long tróc mạch để xây dựng một ngôi chùa và một ngôi đình làng tại Yên Dũng - Bắc Giang. Đây là một vùng có dày đặc Huyệt kết với mạch Long đi cuồn cuộn , bất tận. Có khá nhiều chuyện lý thú trong những ngày đi khảo sát. Xin kể lại cùng các bạn. Thân ái. dienbatn. Trước hết , dienbatn xin ghi lại những nguồn tư liệu đã có sẵn trên internet mà dienbatn quên nguồn : * " Yên Dũng là một huyện của tỉnh Bắc Giang, Việt Nam. Huyện nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang, Yên Dũng có núi Nham Biền chạy theo hướng Đông-Tây. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh với ranh giới là sông Cầu, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Lục Đầu, phía Bắc giáp huyện Lục Nam và phía Tây giáp thành phố Bắc Giang. Đây là một vùng đất cổ có bề dày về lịch sử văn hoá và truyền thống khoa bảng. Yên Dũng tự hào là một vùng đất thiêng với huyền thoại 99 con chim phượng hoàng hốt cấu tạo nên dãy Nham Biền kỳ vĩ; có chốn tổ Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) ( xã Trí Yên) của thiền phái Trúc lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ XIII, chùa được coi là trường Đại học phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Yên Dũng tự hào là nơi sinh ra hai cha con tiến sĩ Đào Toàn Mân và Trạng nguyên Đào Sư Tích ( xã Song Khê), nơi ẩn chứa và phát tích tinh hoa của nhiều thế hệ; một vùng đất đã biết lấy câu trong sách thánh hiền để dạy con cháu: " Thiên kim di tử, bất như nhất kinh", nghĩa là để cho con ngàn vàng không bằng một quyển sách. Bởi vậy từ xưa Yên Dũng đã sinh ra và nuôi dưỡng hàng chục tiến sĩ làm nên niềm tự hào của một vùng quê hiếu học. Đến nay truyền thống ấy đã và đang được các thế hệ người Yên Dũng kế tiếp. Huyện có diện tích 213km2 và dân số là 163.000 người (năm 2004). Huyện ly là thị trấn Neo cách thành phố Bắc Giang khoảng 15km về hướng đông nam. Chảy xuyên qua huyện Yên Dũng là con sông Thương uốn lượn cung cấp phù sa cho các xã Tân Tiến, Xuân Phú, Tân Liễu, Tiến Dũng, Chí Yên, Lão Hộ. Tỉnh Bắc Giang nối tiếng với ba con sông lớn chạy xuyên qua tỉnh là sông Lục Nam, sông Thương, và sông Cầu. Cả ba con sông này đều chảy qua huyện Yên Dũng và hội tụ tại Kiếp Bạc, Hải Dương..." * "Thị trấn Neo. Một âm tiết đơn lẻ, mộc mạc quá! Neo đây là neo đậu, là giữ lại. Bạn tôi giải thích như một hướng dẫn viên du lịch. Cái tên gợi nhắc một thời xa xưa liên quan đến bến với thuyền. Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. Những con thuyền sau bao bôn ba lênh đênh trở về neo đậu bến quê. Kiếp người cũng mong vậy, sau muôn vàn thăng trầm chìm nổi, khao khát hồi hương, neo vào nơi chôn rau cắt rốn. Neo cũng chính là tên gọi nôm của dãy núi Nham Biền đồ sộ chạy từ làng Cổ Dũng Núi, xã Cổ Dũng, tổng Cổ Dũng đến làng Bài Xanh, xã Vân Cốc, tổng Hoàng Mai, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc xưa. Núi Neo còn có tên tự Cửu thập cửu phong sơn, nghĩa là núi chín mươi chín ngọn. Truyền thuyết kể: ngay từ thời hồng hoang, một đàn phượng hoàng trăm con bay đi tìm đất đế đô và chúng đã chọn nơi này. Mỗi phượng hoàng chọn một ngọn núi để đậu. Rất tiếc, còn thiếu một ngọn núi cho con chim thiêng thứ một trăm nên cả đàn lại vỗ cánh bay đi. Nham Biền không trở thành kinh đô của đất nước. Bạn tôi rành rọt kể như từng sinh ra và lớn lên ở chốn này. Chúng tôi đã đến chốn Tổ - chùa Vĩnh Nghiêm của Thiền phái Trúc lâm do vị hiền minh Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ XIII. Đây chính là một Đại danh lam cổ tự nổi tiếng trong cả nước. Ngôi chùa hơn bảy trăm năm với những đường nét kiến trúc khiêm cung mềm mại từ ngoài vào trong thể hiện đậm đà và sâu kín sự hài hòa giữa hồn Việt và tính Phật nằm yên bình giữa cỏ cây hoa lá xanh tươi. Thời Trần, Vĩnh Nghiêm là trung tâm Phật giáo lớn của Đại Việt, nơi ba vị Trúc lâm Tam tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang từng trụ trì và mở trường thuyết pháp. Có thể xem đây là Trường Đại học Phật giáo đầu tiên ở nước ta. Những bản mộc bằng gỗ thị khắc Kinh phật lưu trữ tại đây là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia. Tất cả đã được gìn giữ truyền thừa qua nhiều thế hệ. Hơn bảy thế kỷ như còn lưu dấu nơi đây, trên nền đất linh thiêng, trong hàng cây cùng tuổi với ngôi chùa vẫn xanh màu lá, trong những hoa văn tạc khắc trên rường cột, trong câu Thánh hiền Thiên kim di tử, bất như nhất kinh (Cho con ngàn vàng không bằng một quyển sách) dạy con cháu bao đời. Hơn bảy thế kỷ rồi nhưng ánh sáng tinh túy của Trúc lâm Thiền phái vẫn lan tỏa. Việc khôi phục dòng Thiền Trúc lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông khai mở đang là nhu cầu tình cảm của nhân dân. Dự án Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng đã phác thảo ra một danh thắng mới nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa tâm linh ở trên dãy núi Nham Biền thuộc địa phận xã Nham Sơn của Yên Dũng. Có một nhà phong thủy khi lên núi Phượng Hoàng (thuộc dãy Nham Biền) đã sửng sốt trước địa thế nơi này. Theo ông ta thì đây mới thực là một linh địa để kiến tạo nên Thiền viện. Vùng đất này vô cùng đắc địa vì được Nhâm sơn - Bính hướng, Tổ sơn cao dày. Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng sẽ được xây dựng ở đây và trên đỉnh Đền Vua còn nên dựng Tam tổ Trúc lâm nữa để tạo phúc cao dày cho con cháu mai sau. " Đường vào khu Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng ( Ảnh của dienbatn .
Mô hình khu Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng ( Ảnh internet).
* "Theo dự án, Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng là một Thiền viện tu theo Thiền phái Trúc lâm với tinh thần: Thiền giáo song hành; Tam giáo đồng nguyên; Tức tâm tức Phật; Nhập thế; Dân tộc; Độc lập tự cường và Hướng đến cuộc sống an lạc giải thoát. Những tinh thần ấy đã được khai mở từ hơn bảy trăm năm trước bởi Phật Hoàng Trần Nhân Tông nay sẽ được nghiên cứu, bảo tồn lưu giữ và vận dụng vào đời sống đương đại của con người. Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng sẽ trở thành một nét nhấn trang nghiêm, thanh thoát cao đẹp cho vùng quê Yên Dũng đất thơm người lành nói riêng và cho Bắc Giang nói chung. Có phải, đó chính là điều tốt, điềm lành đang đến với Yên Dũng, với Bắc Giang?. Tương truyền, vào năm 1226 vua Trần “giáng Huệ Hậu xuống làm Thiên cực công chúa, gả cho Trần Thủ Độ và lấy châu Lạng ban cho làm Thang mộc ấp”. Thực chất, buổi đầu thay nhà Lý nắm giữ vương quyền, mọi quyền hành triều Trần đều nằm trong tay Thái sư Trần Thủ Độ. Ông đã “ban” Thang mộc ấp cho phu nhân của mình là Linh Từ Quốc Mẫu tại vùng đất phía bắc dòng Nguyệt Đức, sát với dãy núi nham biền, trấn giữ con đường Thiên lý chạy từ ải Nam Quan về kinh đô Thăng Long không vì mục đích thu lợi về kinh tế mà vì mục đích quân sự (được che chắn bằng kinh tế). Căn cứ vào câu nói truyền tụng trong nhân dân vùng này về Thang mộc ấp: “Hữu Nham biền sơn tuấn/Tả Nguyệt Đức giang thanh/An Hồng chi tú lĩnh triều tiền/ Đương Mại chi nhiêu khê nhiễu hậu” (phía bên phải (Thang mộc ấp) dựa vào dãy núi Nham Biền/Phía bên trái có dòng Nguyệt Đức (sông Cầu) trong xanh/phía trước là ngọn núi đẹp ở An Hồng chầu về/Con suối thuộc xã Đương Mại chạy bao quanh” thì địa giới của Thang mộc ấp này có hình chữ nhật: chiều đông-tây khoảng 3 km và chiều bắc-nam khoảng 2km, thuộc phạm vi 3 xã: Yên Lư, Nham Sơn, Thắng Cương thuộc tổng Hương Tảo và xã Cảnh Thụy, tổng Tư Mại trước đây. Trần Thủ Độ muốn xây dựng một hành doanh ở nơi này vì, vào đầu thời Trần có hai thế lực quân sự khá mạnh là đội quân của Nguyễn Nộm và đội quân của Đoàn Thượng luôn luôn chống lại vương triều Trần. Trần Thủ Độ đã nhiều lần mang quân đi đánh dẹp. Sử cũ chép, vào cuối tháng 8 năm Bính Tuất (1226), Thang mộc ấp được ban cho Linh Từ Quốc Mẫu, thì tháng 2 năm sau, Trần Thủ Độ đem quân đi đánh Nguyễn Nộm, Đoàn Thượng và các Man… Vào những năm trước đấy, nhân triều Lý vào buổi suy yếu, giặc cướp tụ tập nhiều, Nguyễn Nộm chiếm cứ Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm giữ Hồng Châu. Trần Thủ Độ điều động các quân đi dánh dẹp. Thế nhưng, binh lực của Nguyễn Nộm còn mạnh, chưa dễ hàng phục, nên Thủ Độ (nhân danh Triều Trần) phong cho Nguyễn Nộm làm Hoài Đạo vương, chia cho các huyện Bắc Giang Thượng, Bắc Giang Hạ, Đông Ngàn. Như vậy, Trần Thủ Độ cho lập Thang mộc ấp nhằm khống chế Hoài Đạo vương Nguyễn Nộm. Cùng với đó, ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ XI, trong lần đem quân xâm lược nước ta (1075-1077), dưới triều Lý, quân Tống do tướng Quách Quỳ chỉ huy đã thiết lập một phòng tuyến ở vùng đất này. Phòng tuyến của quân Tống dọc theo bờ bắc sông Nguyệt Đức (sông Cầu), chạy từ địa phận huyện Hiệp Hòa, qua huyện Việt Yên, đến chân dãy núi Nham Biền ở huyện Yên Dũng. Rồi lại chạy lên phía đông bắc đến nam ngạn sông Thương. Phòng tuyến chính dài khoảng 30km, chạy từ bến đò Như Nguyệt đến núi Nham Biền. Điều này cho thấy, vùng đất dưới chân dãy núi Nham biền là vùng đất đắc địa cho việc đóng quân và đồn trú. Có thể nói, Trần Thủ Độ chọn nơi đây làm Thang mộc ấp để “ban” cho vợ mình, thực chất là để bí mật xây dựng một hành doanh, một đồn tiền tiêu khống chế vùng đất phía bắc, địa bàn hoạt động của Nguyễn Nộm-một thế lực quân sự tương đối mạnh mà vị Thái sư đầu triều Trần luôn cảm thấy lo lắng. Sâu xa hơn nữa, ông muốn có một hành doanh, một tiền đồn bí mật để phòng sự bất trắc trước sự nhòm ngó, âm mưu thôn tính nước ta của giặc Bắc..." *"Cách Hà Nội 40km, cách thành phố Bắc Giang khoảng 10km, dãy núi Nham Biền nhìn từ trên cao tựa như hình cánh cung. Dãy núi có tổng chiều dài khoảng 12km một đầu nằm trên Xã Tiến Dũng huyện Yên Dũng, đầu kia giáp xã Vân Trung huyện Việt Yên, kế bên con suối Tóp. Suối Tóp là một trong những con suối có phong cảnh thiên nhiên đẹp và có dòng thác rất lý tưởng, ví như là chị em sinh đôi với suối Mỡ của huyện Lục Nam. Dãy núi có tất cả chín chín ngọn lớn, nhỏ hợp thành đan xen vào nhau. Đỉnh cao nhất là đỉnh Non Vua, có độ cao tới hơn 300m. Ai đã từng leo lên tới đỉnh, hẳn sẽ thấy cái nóng, cái mệt bỗng đâu tan biến bởi được những cơn gió mát lạnh từ trong hang đá mang theo hơi nước từ những con suối, những dòng thác, bên trên sườn núi thổi vào. Phóng tầm mắt ra xa là cả một màu xanh rộng khắp của những cánh rừng trồng rồi tái sinh và những cánh đồng bát ngát thẳng cánh chân trời. Nhiệt độ trung bình giữa mùa hè ở đây là khoảng 28-30oC. Phía tây sườn núi có rất nhiều hồ nước, được tạo bởi những ngọn núi nhỏ dưới thấp quây thành. Một trong số hồ đẹp nhất ở đây phải nói đến hồ Bờ Tân. Hồ ở trên sườn núi nên nước hồ có màu xanh thăm thẳm, màu xanh của núi, của rừng. Mặt hồ luôn phẳng lặng như chiếc gương khổng lồ, luôn in bóng những dặng cây. Nơi đây thực sự là chốn thiên đàng của các loài chim. Cứ mỗi khi chiều tà, từng đàn chim lũ lượt trở về quây quần ríu rít, bận rộn bên tổ ấm và đàn con. Hồ có diện tích khoảng 6ha, diện tích tuy không lớn nhưng nằm trên địa thế vô cùng hấp dẫn, bởi bốn bề là mây, là núi, xung quanh là những rừng cây xum xuê rậm rạp. Nằm trong quần thể dãy núi Nham Biền có nhiều ngọn núi với nhiều tên gọi khác nhau, như: núi Hòn Giữa, núi Cột cờ, núi Ông Đống, núi Trói Trâu, núi Đèo Kim, núi ổ Gà, núi Con Voi... Mỗi cái tên đều mang một huyền tích nào đó. Một trong những ngọn núi có cảnh đẹp nên thơ, phải kể đến núi Một Trong. Núi được hình thành bởi những phiến đá tảng khổng lồ, sắp sếp chồng khít lên nhau. Qua bao thế kỷ, cùng với sự biến động của địa chất, đã chứng kiến biết bao sự đổi thay của lịch sử nhân loại, giờ đây như đã trưởng thành với đầy đủ sức mạnh hiên ngang sừng sững, đầy quyền uy. Mỗi khi có ánh ban mai, cả vùng núi lung linh huyền ảo bởi những con suối nhỏ phản ánh hào quang lên các phiến đá. Ban đêm, nhất là những đêm trăng rằm, ánh trăng soi sáng nhưng ngọn núi, những rừng cây in hình lên vách núi, tựa như những chiến binh bất tử hiên ngang trên luỹ tường thành, mà ông cha ta xưa dựng lên chống giặc ngoại xâm. Tất cả tạo một không gian hư hư, ảo ảo gợi trí tò mò cho những ai luôn giầu trí tưởng tượng. Dãy núi Nham Biền huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang ( Ảnh dienbatn ).
*"Từ Hà Nội qua cầu Như Nguyệt, ta thấy cả một dải núi xanh trải dài bên phải đường Quốc lộ 1A mới, phía sau khu công nghiệp Quang Châu. Núi ấy có tên là núi Bài, một trong hai dãy núi của dãy núi Nham Biền - thuộc tỉnh Bắc Giang. Núi Nham Biền là dải núi lớn nằm trong địa phận Yên Dũng xưa (nay là phần đất của hai huyện Việt Yên và Yên Dũng). Núi có hai dãy chạy song hành nên mới có tên là Nham Biền, tựa như hai câu trong lối văn biền ngẫu xưa.
Núi Bài chạy từ Vân Trung (Việt Yên) tới ngòi Nham Sơn thì dừng. Trong núi, dãy ở địa phận Vân Trung - Nội Hoàng có núi Vua Ngự (cũng gọi là núi Ông Già) đỉnh núi chót vót, khí thế mạnh. Nơi ấy có đèo cổ đi qua. Chân núi có chùa Bài ở phía Nam và chùa Dâu ở phía Bắc, cảnh sắc rất đẹp. Đây là nơi nằm giữa ba khu công nghiệp (Quang Châu - Đồng Vàng - Nội Hoàng) nên tiềm năng du lịch văn hóa rất khả quan.
Núi Neo bắt đầu từ địa phận xã Tiền Phong – Nham Sơn (Yên Dũng) chạy xuôi về tới núi Buồm (xã Tiến Dũng) thì dừng. Thế núi hùng dũng, một mặt kề bên sông Thương, một mặt nhìn ra cánh đồng Yên Dũng, thoải tới tận bờ sông Thương nước chảy lơ thơ. Do có mạch núi Nham Biền nên tạo cho vùng đất Yên Dũng trở thành vùng đất ngã ba sông của tỉnh Bắc Giang. Hai con sông Cầu và sông Thương hợp nhau ở Đồng Việt chính là yếu tố tạo nên địa văn hóa của vùng đất Yên Dũng “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống hiếu học và khoa cử của Việt Nam.
Trong dãy núi Neo, đỉnh cao nhất của nó là đỉnh Vua Bà, nơi này linh khí rất mạnh, chỉ những ngày nắng đẹp mới thấy đỉnh ngọn, còn những khi mù trời đỉnh ấy bị mây mù che phủ. Đỉnh núi Vua Bà cao gần 300m so với mặt nước biển. Núi này đất đá lẫn lộn - đá ở trong khu vực đều là đá cát kết lớn, đá gan trâu, gan gà ghềnh đỏ…. Từ trên sườn núi có những khe nước nhỏ chảy xuống chùa Nguyệt Nham, rồi róc rách chảy vào sông Thương.
Ngày trước, khắp cả khu núi này có các rừng thông mọc lẫn trong các loài cây tự nhiên hoang dã, nên cảnh sắc đẹp lạ lùng. Thời Pháp thuộc ở thế kỷ XX, người Pháp đã cho mở đường để xe zíp lên tới tận đỉnh Vua Bà để ngắm cảnh toàn vùng Lạng Giang - Yên Dũng… Dấu vết đường ấy nay vẫn còn dấu vết. Lên tới đỉnh núi Vua Bà, khí trời trong lành làm cho tâm hồn thật sảng khoái. Ai đã từng lên đây mới thấy cảnh quan của toàn vùng này thật đẹp, thật hữu tình. Phía Đông Nam là cảnh Lục Đầu giang, Phả Lại, chùa Vĩnh Nghiêm. Phía Đông Bắc - Bắc là vùng Lạng Giang xưa, phía Tây Nam - Tây là vùng đất Yên Dũng, Việt Yên và cả Bắc Ninh nữa. Con sông Cầu, sông Thương như dải lụa mềm trải hai bên sườn núi Nham Biền, thực hữu tình. Ở đỉnh núi Vua Bà, nay vẫn còn một ô trũng nhỏ. Tục truyền đó là ao trời, nước tụ quanh năm. Theo như các cụ giỏi phong thủy nói rằng “cao sơn tầm oa trũng, bình dương tầm đột khởi” thì ở đỉnh Vua Bà này đúng là nơi mà các nhà phong thủy cần lưu tâm. Chỗ ấy thực là nơi làm cho núi này thêm linh qúy.
Cái tên núi Vua Bà có từ bao giờ, chẳng ai rõ được, chỉ biết rằng người Việt xưa và cả ngày nay có tục thờ mẫu - mẫu lớn nhất là mẫu mẹ Âu Cơ, bà mẹ sinh ra trăm người con. Người con cả được tôn xưng là Hùng Vương dựng lên nước Văn Lang. Ấy là tổ nước ta vậy, việc vua Hùng tìm đất dựng kinh đô đều gắn với truyền tích 100 con phượng hoàng, hoặc 100 cây thông, 100 con voi. Nơi nào được thì 100 con chim phượng có chỗ đậu…. Núi Nham Biền chỉ có 99 ngọn, thế là 1 con không có chỗ đậu, nên 100 con bay đi. Tuy không phải là vùng đất đóng đô được nhưng đó cũng là nơi đất quí. Có thể cái tên Vua Bà bắt nguồn từ tục thờ mẫu ấy.
Ở chân núi Vua Bà phía bờ sông Thương, xưa có chùa Hang Chàm (tức chùa Nguyệt Nham). Chùa này có nguồn gốc từ thời Trần. Ở chùa Nguyệt Nham đã phát hiện các mảng gốm tháp đất nung thời Trần, đặc biệt mới đây đã phát hiện tấm bia thời Trần, chứng tỏ núi Vua Bà có linh tính xưa để lại. Chân núi Vua Bà phía sông Cầu tạo nên cảnh quan địa thế chùa Kem, xã Nham Sơn - Yên Dũng. Chùa Kem là chùa cổ, qui mô lớn mà trù mật khách thập phương xa gần vẫn về chùa hành lễ. Xưa kia, chùa thuộc thôn Hương Tảo. Thôn này, vào thời Trần là đất thang mộc của Thái sư Trần Thủ Độ. Tục truyền trong núi có mãng xà thường làm hại dân. Trần Thủ Độ về đây giúp dân khai khẩn đất hoang, mở mang đồng ruộng, phát triển đời sống. Thái sư Trần Thủ Độ lập kế giết mãng xà, trừ hại cho dân. Về sau dân lập đền thờ vợ chồng Trần Thủ Độ. Đền ấy gọi là đền Thanh Nhàn. Ngày hội, dân vẫn duy trì tục đánh rắn xưa để tri ân người xưa giúp dân xã trừ diệt xà tinh.
Trong tấm bia thời Trần ở chùa Nham Nguyệt cho biết có một bà hoàng cùng mọi người về núi này tu tạo chùa pháp, công đức lớn lao nên lưu tích ở bia. Bà hoàng ấy lai lịch thế nào chưa rõ, vì bia cổ đó chữ mòn không xem hết được, thế nhưng đấy cũng là một vị vua bà về công đức với vùng đất này, do đó cũng góp phần làm cho núi Vua Bà thêm một nội dung nguồn cội.
Núi Vua Bà là một trong các ngọn núi cao của dãy Nham Biền. Núi tuy không cao như nhiều núi khác, nhưng là núi có linh tích nên là núi thiêng qúy. Trong xu thế phát triển chung, một dải núi thiêng quý như Nham Biền, trong đó có ngọn Vua Bà thế nào cũng được xem xét đến để cho mọi người có chỗ du sơn, du thủy, picnic 2 ngày nghỉ trong tuần, có chỗ cho người Bắc Giang, tỉnh ngoài tới hành hương vãng cảnh...." Một số hình ảnh tại Đền Thanh Nhàn tại thôn Minh Phượng xã Nham Sơn- Yên Dũng do dienbatn chụp.
*"Lịch sử đã ghi lại rằng: Núi Nham Biền hay còn gọi là núi Neo chạy từ làng Cổ Dũng, tổng Cổ Dũng (xã Tiến Dũng hiện nay) đến làng Bài Xanh, xã Vân Cốc, tổng Hoàng Mai huyện Yên Dũng. Núi Neo còn có tên tự nữa là Cửu thập cửu phong (dãy núi 99 ngọn).
Từ thuở khai thiên lập địa có một đàn Phượng Hoàng bay đi tìm đất đế đô. Và chúng đã chọn nơi này. Nhưng rất tiếc, đàn chim Phượng hoàng có 100 con mà dãy núi Nham Biền chỉ có 99 ngọn, những con bay trước lần lượt từ con đầu, mỗi con đỗ trên một ngọn núi, con bay sau cùng thiếu chỗ đỗ, nó liệng nhiều vòng, xải cánh nghiêng ngó tìm nơi đỗ. Nhưng đã thiếu mất một ngọn và rồi nó cũng bay lao đi, cả đàn thấy vậy lại vung cánh rướn chân bay theo con chim thiếu chỗ đỗ ấy. Đàn chim đã bay đi nơi khác tìm đất đế đô nếu không kinh đô của nước ta đã ở đất Nham Biền. Trong “Cửu thập cửu phong sơn”, cao nhất là ngon Chân Voi thuộc địa phận làng Liễu Đê xã Hà Liễu tổng Phúc Tằng sau sang tổng Phấn Sơn (xã Đồng Sơn hiện nay) cao 199m so với mực nước biển sau đến núi Bùi cao 196m, sau nữa là núi Non Vua, Vành Kiệu… Tên núi Non Vua cũng bắt nguồn từ tương truyền thế kỷ thứ 13 thái sư Trần Thủ Độ rước vua Lý Chiêu Hoàng về ngự ở đây xem ngài trừ quái vật rắn thần. Từ đó núi có tên Non Vua. Đỉnh Non Vua có bãi phẳng rộng, có ao chứa nước, tương truyền đó là cung điện vua ngự. Dưới chân núi, đường lối quanh co, lau lách um tùm, có Giếng Tiên, Ngòi Tiên, Ao Tiên, quanh năm nước đầy ăm ắp, cạnh Bàn Cờ Tiên có Suối Tiên, nước chảy róc rách tạo ra những khúc nhạc du dương lòng người. Núi Vành Kiệu có hình tay ngai, tương truyền thái sư đã chọn nơi đây làm nơi chồng kiệu để rước vua, còn núi Cột Cờ là nơi cụ Đề Thám đóng quân tại đây trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Cũng bởi truyền thuyết Phượng Hoàng đậu mà núi cũng còn gọi là núi Phượng Hoàng. Núi này có các khe rạch như Khe Đám, khe Suối Rắn(khe Róc), khe Cổ Cò, các hang như: hang Giàu, hang Tràm, đèo như: đèo Trán Khỉ, đèo Yên Ngựa… đổ nước mưa hàng năm tạo cho cả vùng Nam Yên Dũng thành xô sơn, bạt thủy. Núi này cũng có nhiều sản vật quý, trong đó có thứ cỏ, rễ lấy làm hương đốt lên rất thơm là hương bài. Có một xóm ở chân núi có tên Hương Cảo hay xóm cỏ thơm. Đến đây bỗng thấy cảm xúc thăng hoa, bừng tỉnh nhớ về những câu hỏi ngày nào “ Bà ơi sao làng ta có tên Hương cảo, Kẻ Cáu?". Tích xưa, người xưa, truyện xưa mà hồn nay." * " Nói đến du lịch văn hoá Yên Dũng trước hết phải kể đến ngôi chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Trí Yên, đây là ngôi chùa nổi tiếng, được người dân cả nước biết đến bởi ngôi cổ tự này chứa trong nó những nét trầm tích văn hoá có giá trị lịch sử tâm linh lâu đời, có giá trị vật thể và phi vật thể vượt ngoài không gian quốc gia. Ngôi chùa nổi tiếng này có từ thời Trần (thế kỷ XIII) thuộc thiền phái Trúc Lâm. Chùa toạ lạc nhìn ra ngã ba Phượng Nhỡn, là nơi hội tụ của dòng sông Thương và sông Lục Nam hợp thành hệ thống sông Thái Bình, đây là ngã ba sông nổi tiếng trong huyền thoại Việt. Trông ra xa bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo. Hàng năm, vào dịp 14 đến 17 tháng 2 âm lịch, chùa tổ chức lễ hội rất lớn, nổi tiếng trong cả vùng. Hội thu hút hàng chục nghìn lượt khách thập phương từ các nơi kéo về dự hội, cầu mong mọi sự tốt lành và cùng thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình nơi đây đương độ xuân về. Không gian Chùa luôn làm cho du khách cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng giữa cảnh thiền thanh tao, u tịch. Nằm trong quần thể du lịch văn hoá Yên Dũng còn có các điểm đến để du khách thăm quan như: đền Thanh Nhàn, chùa Kem thuộc xã Nham Sơn, đền thờ Trần Minh Tông xã Đức Giang… Đền Thanh Nhàn toạ lạc tại trung tâm thôn Minh Phượng xã Nham Sơn. Những ngày tháng chiến tranh, đền bị tàn phá nặng nề, nay công trình kiến trúc và cảnh quan đã được nhân dân thôn Minh Phượng, xã Nham Sơn tu bổ lại, vẫn bảo lưu được một số cổ vật quý như lò thiêu hương bằng gang được đúc năm đầu niên hiệu Thành Hoá (1465), cây hương đá, cột đá khắc câu đối mang tính tuyên ngôn về địa lý: “Tây Bắc Yên Hồng tú lĩnh triều tiền/ Đông Nam Đương Mại thâm khê chiếu hậu”, “Tả Nham Biền sơn tú khí địa lý sơn chung/ Hữu Nguyệt Đức giang thánh thiên thiên thư tố định”. Bên cạnh đền Thanh Nhàn là một di tích nổi tiếng: chùa Kem- hay còn gọi là Sùng Nham tự xây dựng từ thế kỷ XV, làm theo lối chữ Đinh, toạ lạc ở chân dãy Nham Biền. Chùa ở nơi khe núi hình cánh cung hướng ra sông Như Nguyệt, tựa lưng vào vách núi Cột Cờ, đồi Đẩu Sơn, trên đỉnh có tháp Thạch Phong chứa xá lị của thiền sư Giác Hải xây dựng từ thế kỷ XVII. Phía tả bên chùa có Hồ Chuông rộng lớn, bên hữu có Bãi Trống, cạnh chùa là Suối Tiên, đường lối quanh co lau lách um tùm, phía sâu bên trong có Suối Nứa, Giếng Tiên, Ngòi Tiên, Ao Tiên quanh năm nước đầy, chảy róc rách tạo khúc nhạc du dương lồng trong hoa lá cỏ cây, trông xa tựa như một bức tranh cổ, ẩn hiện cảnh sắc hư không. Không gian xung quanh ôm lấy ngôi chùa cổ tạo thế vững trãi ngàn năm. Phía trước chùa là vườn tháp chứa xá lị của các thế hệ tăng ni trụ trì bản tự. Chùa cách không xa đường tỉnh 398 nối Bắc Giang với Hải Dương, Bắc Ninh, và liền kề với các di tích cổ như đền Thanh Nhàn- đình Ba Tổng- đền thờ vua Trần Minh Tông. Hội chùa được mở vào vào ngày 21 tháng Tám theo lịch trăng, trùng dịp hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh- Hải Dương), tiện đường giao thông thuỷ bộ, thuyền xe, nên du khách viếng thăm rất đông. Thời gian du khách lưu lại chắc hẳn sẽ rất bổ ích và tâm trí hẳn sẽ không hề bị nhàm chán. Nằm trong trục du lịch văn hoá tâm linh Yên Dũng còn phải kể đến Đình Cáu (Ba vua đình Cáu, sáu vua đình Kem), chùa An Quốc, đền Ngọc Lâm, chùa Hoàng Khánh 99 bậc, chùa Hang Chàm (tên chữ là Nguyệt Nham tự)… đều tựa lưng vào dãy núi Nham Biền. Có thể nói đình, đền và chùa nào ở Yên Dũng cũng gắn với các truyền thuyết, truyền tích văn hoá để người đời sau sưu tầm, nghiên cứu và biên khảo." Một số hình ảnh tại Đền Thanh Nhàn tại thôn Minh Phượng xã Nham Sơn- Yên Dũng do dienbatn chụp.
Lò thiêu hương bằng gang được đúc năm đầu niên hiệu Thành Hoá (1465).
Hoành phi , câu đối của Đền.
Thượng lương ( Mới sau này ).
Cảnh Đền .
Xin xem tiếp bài 2. dienbatn.
ĐỊA MẠCH YÊN DŨNG - BẮC GIANG VÀ THỦY LONG TỰ ĐỒNG VIỆT.
Giới thiệu :Chùa Am - Tên chữ là Diên Quang Tự tại xã Đức Hòa - Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh.Vừa rồi một số ACE của Đạo tràng DPLHVV có đi làm mộ tại khu vực này và phát hiện ra nhiều bí ẩn kỳ lạ. Ngày trước , dienbatn có bài viết về Phong thủy khu vực này ( http://vn.360plus.yahoo.com/lythienhuonghn/article?mid=90), bài này xem như là bài viết tiếp của vấn đề trên.
Người ta đã viết nhiều về ngôi chùa này, dienbatn xin giới thiệu một bài viết tương đối hoàn chỉnh nhất của Phan Bạch Châu như sau :
" CHÙA AM - ĐỨC THỌ, HÀ TĨNH
Sáng nay cả đoàn đến viếng chùa Am.
Chùa có tên chữ là Diên Quang tự, nhưng ít ai biết đến tên gọi này. Hiện nay biển chỉ dẫn đường và người dân đã quen gọi tên chùa là chùa Am, một danh lam giữa phong cảnh thiên nhiên kỳ tú, lưng dựa vào núi Am, lấy Trà sơn làm tiền án, sông Ngàn Sâu làm minh đường. Chùa do hoàng hậu Bạch Ngọc, đời vua Trần Duệ Tông (1373-1377) sáng lập. Theo “Tiền triều phả hệ ngữ lục” do Trần Cao Vân dịch, được trích chép trong Địa dư Hà Tĩnh 1938, hoàng hậu Bạch Ngọc có tên là Trần Thị Ngọc Hoà, con gái ông Trần Công Thiệu, quê làng Tri Bản, xã Thổ Hoàng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Bà được vua Trần Duệ Tông lập làm hoàng hậu. Năm vua 41 tuổi, trong một chuyến đem quân chinh phạt Chiêm Thành, vua không may bị tử trận tại thành Đồ Bàn. Chẳng bao lâu Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, đất nước lâm vào biến loạn. Bà và con gái là Trần Thị Ngọc Hiên (công chúa Huy Chân) cải trang thành người xuất gia cùng 572 gia nhân khác rời khỏi kinh thành lánh về quê cha. Cuộc hành trình gần 50 ngày đêm đầy gian khổ, nhiều người chết rơi rớt dọc đường. Khi đến nơi chỉ còn lại 172 người, trong đó có hai gia thần và hai cung nhân rất mực trung thành. Bà cho dựng trại trên núi Vua (tên núi do nhân dân đặt về sau để tỏ lòng ghi ơn bà), một vùng thâm sơn cùng cốc thuộc dãy Trà sơn. Bà chiêu mộ được gần 3.000 người nghèo khổ rồi cùng họ tiến hành công cuộc phá núi, san đồi, khai hoang, mở đất… Khai hoang đến đâu, bà cho lập làng đến đó. Kết quả có 45 xã thôn, trang ấp được thiết lập trên địa bàn 6 tổng của 4 huyện Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Can Lộc (Hà Tĩnh) với 3.965 mẫu ruộng cùng nhiều kho lẫm dự trữ lương thực. Cũng trên vùng đất này, bà đã cho dựng hai chùa Diên Quang (chùa Am) và Tiên Lữ (chùa Lã). Ngày nay những tên đất, tên làng còn đó như núi Vua, Trà Sơn, Am Sơn, Lâm Thao, Nhân Thi, Cận Kỵ, Thượng Bồng, Hạ Bồng, Thường Nga, Lai Thạch… hầu hết các làng này đều lập đền thờ bà. Trong số đó, có hai ngôi đền tiêu biểu là đền Ngũ Long ở núi Vua (xã Đức Lạc) và đền Cả nằm trước bàu Mỹ Xuyên (xã Đức Lập). Năm Ất Tỵ (1425), khi nghĩa quân Lam Sơn từ Nghệ An tiến vào vùng đất này, biết bà đang khai hoang ở đây, Lê Lợi đã cho đón tiếp bà theo nghi lễ của một bà hoàng. Sau lần gặp gỡ ấy, bà xin hiến lương thực, thực phẩm đã dự trữ bấy lâu cùng nhiều ruộng đất vào công cuộc kháng chiến chống quân Minh đang trong giai đoạn kết và gả công chúa Huy Chân cho Bình Định vương. Lán trại của bà trên núi Vua được nghĩa quân xây dựng thành điện Ngũ Long. Dưới chân núi Phượng, lầu Phượng Hoàng cũng được cất lên cho công chúa Huy Chân ở. Huy Chân đã sinh hạ được một người con gái, đặt tên là Trang Từ. Sau khi hoà bình lập lại, hoàng hậu Bạch Ngọc vào chùa Am xuất gia tu tập. Ít lâu sau công chúa Huy Chân cũng về đây tu hành với mẹ. Còn Trang Từ, khi lớn lên được vua Lê Thái Tổ gả cho Bùi Ban, con trai của tướng Bùi Bị. Về sau Bùi Ban hy sinh trong trận chiến với quân Chiêm Thành, Trang từ tái giá với Khôi quận công Trần Hồng được 5 năm rồi cũng xin về chùa Am tu với mẹ và bà ngoại. Hiện sử sách chỉ cho biết ngày mất của hoàng hậu Bạch Ngọc là 22-6 âm lịch; công chúa Huy Chân là 22-3 âm lịch, năm mất không rõ, nhưng có lẽ đều vào khoảng niên hiệu Hồng Đức (1460-1497). Trang Từ công chúa mất vào ngày 05 tháng 2 âm lịch, niên hiệu Cảnh Thống (1497-1504). Hiện nay chùa Am vẫn còn giữ được kiểu kiến trúc xưa theo lối chữ “Công” với sườn bằng gỗ, tường xây, mái ngói lợp âm dương – kiểu kiến trúc đặc thù của vùng Thanh-Nghệ vào cuối thế kỷ XIX. Những đường nét uốn cong của mái mang âm hưởng nhẹ nhàng lối kiến trúc miền Bắc càng tôn thêm vẻ đẹp của ngôi chùa. Toàn ngôi chính điện được dựng bằng 60 cột gỗ mít, trong đó có 14 cột được thay mới; từ ngoài nhìn vào, là kết cấu liền khối được chia làm ba gian với tổng thể cù giao đan bện vào nhau rất chặt. Nếu nhìn từ hai bên tả hữu hoặc đằng sau, các mái ngói của chính điện được lợp thành nhiều tầng; phần giữa hơi chùng xuống và hai đầu uốn cong dần lên, tổng thể khối nhà như con thuyền đang lướt sóng. Nhiều người đã ví kiến trúc của chính điện chùa Am là con thuyền Bát nhã. Nền chùa được lát bằng đá Thanh. Chính điện thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà và các vị Bồ tát khác. Phía trước có toà cửu long được chạm trổ rất công phu. Bên phải thờ các vị thổ thần và bên trái thờ hoàng hậu Bạch Ngọc. Nằm gần bình phong, bên cạnh các cấp lên xuống chính điện chùa là hai ngôi tháp mộ. Có tất cả bảy ngôi tháp như vậy, mà theo người dân địa phương, đây là nơi chôn cất các vị sư đã từng trú trì chùa trước đây. Hầu hết các ngôi tháp mộ này, ngoài các câu đối, không thấy có văn bia nên rất khó xác định được danh tính. Chỉ có tháp mộ của Hoà thượng Thích Trí Liễn ở phía trước bên trái gần lối đi vào chùa là còn ghi rõ niên đại và danh tánh. Hoà thượng có thế danh là Nguyễn Tất Tố, sinh năm 1868, mất năm 1936. Trước khi xuất gia, cụ có người con trai tên là Nguyễn Tất Toán, từng tham gia hoạt động cách mạng và trở thành đảng viên cộng sản năm 1930-1931, sinh hoạt ở chi bộ Đồng Công, sau cũng về chùa tu cùng với cha. Ngoài ra, đối diện về phía bên trái vườn chùa, một ngôi tháp khác có tên là “An Tập tháp”, lạc khoản khắc bên trên lòng cổ của tháp cho biết, dưới triều Khải Định, Sa di Thanh Liễn, người trú trì tại chùa đã xây xong 3 ngôi tháp vào ngày lành tháng tốt năm Quý Hợi (Khải Định Quý Hợi niên, hỷ nguyệt cát nhật, trú trì bổn tự Sa-di tự Thanh Liễn trùng tu tam tháp viên thành). Từ tam quan đến chính điện chùa, chúng tôi đi qua nhiều tầng bậc cấp trải dài thoai thoải theo triền dốc. Người đến chùa lần lượt đi qua hai ngôi tháp mộ, một am thờ thổ thần và một dãy nhà ở bên phải. Leo lên thêm vài chục bậc cấp nữa thì đến một khoảnh sân rộng. Cứ vài chục bậc cấp thì có một khoảnh sân như vậy, có ý nghĩa như một sự nối kết, tạo sự hài hoà cân xứng cho tổng thể kiến trúc chùa Am, làm điểm dừng nghỉ để tinh thần được lắng dịu trước khi vào lễ Phật. Phía sau chính điện, một con đường mòn dẫn lên núi có nhiều phiến đá giống hình người đang lạy nên được người dân ở đây gọi là “Bái Phật tảng” hay “Đá thần đồng”. Ngoài ra, sân vườn chùa còn có nhiều cây cổ thụ quanh năm cho bóng mát, đặc biệt là những cây đại vài trăm tuổi đến nay vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nằm thấp thoáng dưới những rặng cây cổ thụ với nhiều bậc cấp như thế, chùa Am càng mang nhiều nét cổ kính.
Cây đại cổ thụ trên 100 năm
Chùa hiện hữu gần 600 năm, nhưng trong hàng mấy chục năm nay, chùa Am nói riêng cùng số phận của nhiều chùa ở Hà Tĩnh nói chung, bị lãng quên, trở nên hoang phế. Mặc dù đã được trùng tu nhiều lần (lần cuối cùng vào năm 1909 dưới thời nhà Nguyễn) và được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia vào năm 1995, nhưng chùa vẫn đang xuống cấp trầm trọng do nhiều năm trải qua phong sương tuế nguyệt của vùng khí hậu khắc nghiệt miền Trung.
Năm 1993, nhân dân xã Đức Hòa cùng Hội người cao tuổi đã trùng tu lại Chùa và lập hồ sơ đề nghị công nhận di tích. Ngày 13 tháng 2 năm 1995 Bộ Văn hóa Thông tin đã có Quyết định số 188 công nhận chùa Am là “Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật”.
Kể từ đó chùa đã có Ban quản lý di tích. Ban đã hoạt động tốt, được nhân dân, Phật tử xa gần tin cậy, phát tâm công đức sắm sửa đồ thờ và duy trì lễ nghi của nhà chùa. Năm 1996 Nhà nước đã cấp 30 triệu để sửa chữa, năm 2000 cấp 100 triệu làm lại mái chùa, năm 2009 huyện cấp 300 triệu để di dời đường điện cao thế cắt ngang trước mặt chùa. Nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã đóng góp công đức để làm đường lên chùa, đúc tượng đồng, tượng gỗ, bàn thờ, chuông trống, bước đầu đã làm cho ngôi cổ tự thêm phần trang nghiêm. Chùa Am 58 năm qua không có sư trụ trì, nay đã có thầy trụ trì là thầy Thích Chiêu Tuệ. Lúc chúng tôi đến thầy đi vắng nên không gặp được thầy. Nhân dịp đầu xuân, sáng nay chúng tôi đã đến thắp hương và chiêm ngưỡng cảnh chùa. Lần theo các bậc tam cấp lên Am sơn, đứng giữa rừng thông xanh bạt ngàn nhìn xuống chùa trông ra sông Ngàn Sâu, ta mới thấy phong cảnh nơi đây cẩm tú đến nhường nào. Ngay sau chùa là một hồ nước ngọt nước trong xanh nằm bao bọc giữa những ngọn núi thấp cây cối xanh tốt. Có thể nói, chùa Am là một ngôi cổ tự có lịch sử lâu đời, có phong cảnh và kiến trúc vào loại hiếm ở nước ta. Đi trong đoàn chúng tôi có một chuyên gia hán nôm kỳ cựu. Bác đã đọc kỹ các câu đối trên các bảng gỗ trong chùa và có những góp ý thiết thực cho cán bộ địa phương để sắp xếp lại các câu đối cho đúng trật tự hợp lý đã bị làm sai lệch vị trí qua các lần trùng tu. Entry này ghi lại một số thông tin và hình ảnh cảnh chùa do PBC ghi lại trong buổi viếng chùa sáng nay. Nguồn : http://chauphanbach.vnweblogs.com/post/6250/352832
Sự tích bà TRẦN THỊ NGỌC HÀO - Ảnh dienbatn chụp.
Thêm một tư liệu nữa cho hoàn chỉnh :
" Chùa Am (Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh)
Tên chữ là Diên Quang tự, nhưng biển chỉ dẫn và người dân đều gọi là chùa Am. Chùa toạ lạc giữa lưng chừng Am sơn thuộc xã Phụng Công, tổng Đồng Công, nay là xã Đức Hoà, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; cách tp Vinh về phía Tây Nam khoảng chừng 60km. Chùa lưng dựa vào núi Am, lấy Trà sơn làm tiền án, sông Ngàn Sâu làm minh đường. NƠI TU HÀNH CỦA 3 NỮ CHÚA Chùa do hoàng hậu Bạch Ngọc vợ vua Trần Duệ Tông sáng lập. Theo “Tiền triều phả hệ ngữ lục” do Trần Cao Vân dịch, được trích chép trong Địa dư Hà Tĩnh 1938, hoàng hậu tên là Trần Thị Ngọc Hoà, con gái ông Trần Công Thiệu, quê làng Tri Bản, xã Thổ Hoàng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1377 Duệ Tông 41 tuổi, khi chinh phạt Chiêm Thành, vua không may bị tử trận tại thành Đồ Bàn. Chẳng bao lâu Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần. Bà và con gái là Trần Thị Ngọc Hiên (công chúa Huy Chân) cải trang thành người xuất gia cùng 572 gia nhân khác rời khỏi kinh thành lánh về quê cha. Cuộc hành trình gần 50 ngày đêm đầy gian khổ, nhiều người chết rơi rớt dọc đường. Khi đến nơi chỉ còn lại 172 người, trong đó có hai gia thần và hai cung nhân rất mực trung thành. Bà cho dựng trại trên núi Vua (tên núi do nhân dân đặt về sau để tỏ lòng ghi ơn bà), một vùng thâm sơn cùng cốc thuộc dãy Trà sơn, chiêu mộ được gần 3.000 người nghèo khổ rồi cùng họ tiến hành mở đất… Khai hoang đến đâu, bà cho lập làng đến đó. Kết quả có 45 xã thôn, trang ấp được thiết lập trên địa bàn 6 tổng của huyện Đức Thọ, với 3.965 mẫu ruộng cùng nhiều kho lẫm dự trữ lương thực. Cũng trên vùng đất này, bà đã cho dựng hai chùa Diên Quang (chùa Am) và Tiên Lữ (chùa Lã). Ngày nay những tên đất, tên làng còn đó như núi Vua, Trà Sơn, Am Sơn, Lâm Thao, Nhân Thi, Cận Kỵ, Thượng Bồng, Hạ Bồng, Thường Nga, Lai Thạch… hầu hết các làng này đều lập đền thờ bà. Trong số đó, có hai ngôi đền tiêu biểu là đền Ngũ Long ở núi Vua (xã Đức Lạc) và đền Cả nằm trước bàu Mỹ Xuyên (xã Đức Lập). Năm Ất Tỵ (1425), khi nghĩa quân Lam Sơn từ Nghệ An tiến vào vùng đất này, biết bà đang khaihoang ở đây, Lê Lợi đã cho đón tiếp bà theo nghi lễ của một bà hoàng. Sau lần gặp gỡ ấy, bà xin hiến lương thực, thực phẩm đã dự trữ bấy lâu cùng nhiều ruộng đất vào công cuộc kháng chiến chống quân Minh đang trong giai đoạn kết và gả công chúa Huy Chân cho Bình Định vương. Lán trại của bà trên núi Vua được nghĩa quân xây dựng thành điện Ngũ Long. Dưới chân núi Phượng, lầu Phượng Hoàng cũng được cất lên cho công chúa Huy Chân ở. Huy Chân đã sinh hạ được một người con gái, đặt tên là Trang Từ. Sau khi hoà bình lập lại, hoàng hậu Bạch Ngọc vào chùa Am xuất gia tu tập. Ít lâu sau công chúa Huy Chân cũng về đây tu hành với mẹ. Còn Trang Từ, khi lớn lên được vua Lê Thái Tổ gả cho Bùi Ban, con trai của tướng Bùi Bị. Về sau Bùi Ban hy sinh trong trận chiến với quân Chiêm Thành, Trang từ tái giá với Khôi quận công Trần Hồng được 5 năm rồi cũng xin về chùa Am tu với mẹ và bà ngoại. Hiện sử sách chỉ cho biết ngày mất của hoàng hậu Bạch Ngọc là 22-6 âm lịch; công chúa Huy Chân là 22-3 âm lịch, năm mất không rõ, nhưng có lẽ đều vào khoảng niên hiệu Hồng Đức (1460-1497). Trang Từ công chúa mất vào ngày 5 tháng 2 âm lịch, niên hiệu Cảnh Thống (1497-1504).
CHÙA AM NGÀY NAY
Du khách đến thăm đã rất ngạc nhiên khi chùa Am vẫn còn giữ được kiểu kiến trúc đặc thù của vùng Thanh-Nghệ vào cuối thế kỷ XIX theo lối chữ “Công” với sườn bằng gỗ, tường xây, mái ngói lợp âm dương. Những đường nét uốn cong của mái mang âm hưởng nhẹ nhàng lối kiến trúc miền Bắc càng tôn thêm vẻ đẹp của ngôi chùa. Toàn ngôi chính điện được dựng bằng 60 cột gỗ mít, trong đó có 14 cột được thay mới; từ ngoài nhìn vào, là kết cấu liền khối được chia làm ba gian với tổng thể cù giao đan bện vào nhau rất chặt. Nếu nhìn từ hai bên tả hữu hoặc đằng sau, các mái ngói của chính điện được lợp thành nhiều tầng; phần giữa hơi chùng xuống và hai đầu uốn cong dần lên. Nhiều người đã ví kiến trúc của chính điện chùa Am là con thuyền Bát nhã. Nền chùa được lót bằng đá Thanh. Chính điện thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà và các vị Bồ tát khác. Phía trước có toà cửu long được chạm trổ rất công phu. Bên phải thờ các vị thổ thần và bên trái thờ hoàng hậu Bạch Ngọc. Nằm gần bình phong, bên cạnh các cấp lên xuống chính điện chùa là hai ngôi tháp mộ. Có tất cả bảy ngôi tháp như vậy, mà theo người dân địa phương, đây là nơi chôn cất các vị sư đã từng trú trì chùa trước đây. Hầu hết các ngôi tháp mộ này, ngoài các câu đối, không thấy có văn bia nên rất khó xác định được danh tính. Chỉ có tháp mộ của Hoà thượng Thích Trí Liễn ở phía trước bên trái gần lối đi vào chùa là còn ghi rõ niên đại và danh tánh. Hoà thượng có thế danh là Nguyễn Tất Tố, sinh năm 1868, mất năm 1936. Ngoài ra, đối diện về phía bên trái vườn chùa, một ngôi tháp khác có tên là “An Tập tháp”, lạc khoản khắc bên trên lòng cổ của tháp cho biết, dưới triều Khải Định, Sa di Thanh Liễn, người trú trì tại chùa đã xây xong 3 ngôi tháp vào ngày lành tháng tốt năm Quý Hợi (Khải Định Quý Hợi niên, hỷ nguyệt cát nhật, trú trì bổn tự Sa-di tự Thanh Liễn trùng tu tam tháp viên thành). Từ tam quan đến chính điện chùa, du khách đi qua nhiều tầng bậc cấp trải dài thoai thoải theo triền dốc. Người đến chùa lần lượt đi qua hai ngôi tháp mộ, một am thờ thổ thần và một dãy nhà ở bên phải. Leo lên thêm vài chục bậc cấp nữa thì đến một khoảnh sân rộng. Cứ vài chục bậc cấp thì có một khoảnh sân như vậy, có ý nghĩa như một sự nối kết, tạo sự hài hoà cân xứng cho tổng thể kiến trúc chùa Am, làm điểm dừng nghỉ để tinh thần được lắng dịu trước khi vào lễ Phật. Phía sau chính điện, một con đường mòn dẫn lên núi có nhiều phiến đá giống hình người đang lạy nên được người dân ở đây gọi là “Bái Phật tảng” hay “Đá thần đồng”. Ngoài ra, sân vườn chùa còn có nhiều cây cổ thụ quanh năm cho bóng mát, đặc biệt là những cây đại vài trăm tuổi đến nay vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nằm thấp thoáng dưới những rặng cây cổ thụ với nhiều bậc cấp như thế, chùa Am càng mang nhiều nét cổ kính. Nếu leo lên Am sơn, đứng giữa rừng thông xanh bạt ngàn nhìn xuống chùa trông ra sông Ngàn Sâu, ta mới thấy phong cảnh nơi đây cẩm tú đến nhường nào. Còn ngay sau chùa là một cái hồ nước ngọt rất lớn nước trong xanh quanh năm nằm giữa là núi bọc rất đẹp. Có thể nói, chùa Am là một ngôi cổ tự có lịch sử lâu đời, có phong cảnh và kiến trúc vào loại hiếm ở nước ta. Chùa hiện hữu gần 600 năm, nhưng kể từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay, chùa Am nói riêng cùng số phận của nhiều chùa ở Hà Tĩnh nói chung, bị lãng quên, trở nên hoang phế. Mặc dù đã được trùng tu nhiều lần (lần cuối cùng vào năm 1909 dưới thời nhà Nguyễn) và được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia vào năm 1995, nhưng chùa vẫn đang xuống cấp trầm trọng do nhiều năm trải qua phong sương tuế nguyệt của vùng khí hậu khắc nghiệt miền Trung." Nguồn : http://violet.vn/th-thitranductho-hatinh/entry/show/entry_id/5078985
Chính điện.
"Bạch Ngọc Hoàng Hậu - tên thật là Trần Thị Ngọc Hào con ông Trần Công Thiệu ở làng Tri Bản - xã Thổ Hoàng - huyện Hương Khê - tỉnh Hà Tĩnh, nguyên gốc ở Thiên Trường - Nam Định. Bà Trần Thị Ngọc Hào là người con gái có nhân sắc tuyệt vời, lại thêm tài "Phun châu nhã ngọc", được vua Trần Duệ Tông tuyển vào cung làm á phí sau được phong làm Hoàng Hậu và sinh hạ công chúa Huy Chân.
Sau khi nhà vua Trần Duệ Tông qua đời (năm 1377), lợi dụng cơ hội Hồ Quý Ly (1400 - 1407) cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh lại sang điều đình với bà mượn tiếng giúp nhà Trần đánh nhà Hồ để kéo quân sang chiếm nước ta. Bà cảnh tỉnh không chịu khuất phục, bà đã đưa con gái cùng hơn 572 người giả cách ăn mặc người tu hành để trốn bỏ kinh thành về quê hương, sau 50 ngày vất vã, không quản đường xá xa xôi bà mới về đến quê nhà lúc này chỉ còn 172 người. Dừng chân ở núi Cóc và núi Trà Lập bà cùng mọi người lập trại làm ăn, chiêu dụ dân chúng, sau đó mấy năm một trang trại rộng lớn được mở mang từ Lâm Thao - Hòa Duyệt - Thượng Hạ Bồng (này là huyện Vũ Quang), Đông Công và dọc núi Trà Sơn (huyện Đức Thọ), Ân Phú - Sơn Trà - Sơn Long (huyện Hương Sơn) đến Thượng Nga Lại Thạch (6 xã huyện Can Lộc), khi đó đã có trên 3000 dân và khai phá được 3965 mẫu ruộng.
Cũng trong thời gian nay, Ngô Cảnh Cân kéo quân tới cướp phá vùng trại đầu của họ Đổ và tìm trang trại của bà nhưng không thấy, chỉ sau khi có quan đại tướng Bùi Bị cùng Đinh Lễ - Đinh Bố đánh đuổi và giết chết Ngô Cảnh Cẩn, tìm được trang trại của bà và công chúa Huy Chân, hiểu rõ sự tình, Bùi Bị đã đưa hai mẹ con bà về gặp vua Lê Lợi. ở đây bà đã dâng tất cả lương thực chiến đấu, khí giới tiền của mà quá trình bà đã tổ chức và tích lũy được trong nhiều năm cho triều đình.
Sau khi bình ngô đại cáo, bà xin vùa Thái Tổ lập chùa Diên Quang (chùa Am) và chùa Tiên Lữ ỏ xã Đức Lập. Bà về tu hành tại chùa Am ngày ngày tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thới dân an, cầu cho vong linh các quân sỹ đã hy sinh cho đất nước được siêu thoát.
Hoàng Hậu Trần Thị Ngọc Hào mất ngày 22/6 niên hiệu Hồng Đức, các đời vua Lê thấy công đức lớn lao của bà đã cho tạc tượng bằng đồng thời tại chùa Am.
Nhắc lại công chùa Huy Chân (con gái của Bạch Ngọc Hoàng Hậu) - vương phi của nhà vua Lê Lợi, sinh hạ được người con gái - Trang Từ Công Chúa, đến năm thuận thiên thứ 6 (1435) nhà vua băng hà, công chùa Huy Chân cũng xin về tu hành tại chùa Am cùng với mẹ và mất ngày 22/3. Công chùa Trang Từ sau khi chồng chết cũng xin về tù hạnh tại chùa Am cùng bà và mẹ. Vậy là 3 bà cháu tu hành ở đây được hơn 20 năm và công chùa Trang Từ mất vào ngày 5 tháng chạp."
Một số hình ảnh do dienbatn thực hiện.
Dùng Liên Hoa vô vi Pháp tiếp xúc với các vị Thần linh bản địa.
Trong chuyến đi điền dã của mình , dienbatn đã phát hiện và khảo sát một vùng quê hẻo lánh nhưng đã là khởi nguồn của nhiều vị Vua , Công hầu , Khanh tướng , các vị Đại Thần thuộc loại Tứ trụ Triều đình. Vùng này là một tập hợp nhiều Long mạch lớn đã - đang và sẽ kết phát lên nhiều vị Hoàng đế , nguyên thủ Quốc gia. Đây là một tập hợp những Long mạch điển hình của Việt nam , hiện nay Khí vận còn đang rất mạnh. Nơi mà dienbatn muốn nói đến chính là vùng quê xung quanh xã LINH CẢM - HUYÊN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH.Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh cách Thủ đô Hà nội khoảng hơn 300 Km về phía Tây Nam. Nếu bạn xuất phát từ Hà nội bằng xe hơi thì sau khoảng 5 tiếng là tới. Qua Thành phố Vinh và đi qua sông Lam , đi thêm chừng 30 Km rẽ phải là đến Đức thọ. Đi tiếp khoảng 10 Km nữa là tới Bãi Vọt và Thị trấn Đức thọ. Thị trấn Đức thọ mới được xây dựng thời gian gần đây. Tại ngã tư trước khi vào Thị trấn đức thọ , có một con đường từ Hà nội lên và đi thẳng lên cửa khẩu Cầu Treo sang nước bạn Lào. Một đường vào Thị trấn và một con đường mới làm rất đẹp dẫn vào Linh cảm. Con đường này có từ khi mộ của Tổng Bí thư Trần phú được khánh thành. Huyện Đức thọ - Tỉnh Hà tĩnh là một vùng đồng bằng rộng lớn , tuy nhiên dân cư trong khu vực này còn thưa thớt. Toàn bộ Huyện Đức thọ được ôm bởi dãy Thiên Nhọn , có xuất phát từ dãy Trường sơn và con sông La hiền hòa hình vòng cung bao bọc.
Con sông La và một nhánh của nó ôm vòng lấy một cánh đồng rất rộng - Trong đó có khu địa Huyệt . Sông La và nhánh của nó chảy tới đây lững lờ như quyến luyến không muốn đi . Nhánh của sông La chảy nghịch Thủy , tạo thêm sinh khí rất mạnh cho toàn khu vực . Đây là một Long mạch rất lớn , bắt đầu từ dãy Trường sơn , có chi Long chạy về khu vực Đức thọ - Hà tĩnh ( Trong đó có đỉnh 30 ) . Con sông La bắt đầu từ hai con sông Ngàn Sâu , ngàn Phố từ dãy Trường Sơn , gặp nhau tại Linh cảm tại bến Tùng xoa ( Còn gọi là bến Tam xoa ) , chạy thêm chừng 20 Km nữa lại đổ vào sông Lam tại chợ Tràng ( Gần chợ Củi - Nơi có Đền thờ ông Hoàng Mười ) . Dãy Thiên lĩnh tại khu vực Bãi vọt gọi là dãy Hồng lĩnh có 99 ngọn núi . Dãy Thiên lĩnh nằm tại phía Bắc của khu vực . Sở dĩ gọi là Thiên Lĩnh hay Thiên nhọn vì cả dãy núi này có tới 999 ngọn núi , xuất phát từ Lào , Trường sơn , chạy qua Ngàn sâu , Ngàn Phố , kéo tới khu vực bến Tam xoa - Linh cảm . Tại khu vực này là một vùng có Long khí rất mạnh , nơi phát tích nhiều đời Vua , Quan thuộc loại Tứ trụ Triều đình . Nơi đây đặc biệt Phụ nữ rất đẹp và có tài , từng giúp cho các đức ông chồng thành đạt , thăng tiến trên đường công danh. Phụ nữ ở đây đa phần mình dây , da trắng , tóc dài , nói tiếng rất dễ nghe , dễ cảm. Ở đây có câu : " Vợ ngoan lo Quan cho chồng ". Đằng sau sự thành công của các Danh nhân xuất phát từ đất này , đều có công không nhỏ của những người Phụ nữ Đức Thọ.
Trong các làng thuộc Huyện Đức Thọ - Hà tĩnh , làng Đồng Thái là làng được xem là có nhiều người thành đạt nhất từ xưa cho đến nay. Làng này có khoảng 200 hộ dân , với khoảng 600 khẩu. Trong làng nổi lên nhiều dòng họ đã cung cấp nhiều bậc vĩ nhân cho đất ngước như : Họ Phan ( Có PHAN ĐÌNH PHÙNG , PHAN TRỌNG TUỆ , PHAN ANH , PHAN MỸ... ) ; Họ Mai ( MAI THÚC LOAN ) , Họ Hoàng ( HOÀNG CAO KHẢI.. ); Họ Bùi ( BÙI DƯƠNG LỊCH ) , họ Trần ( TRẦN PHÚ...); Họ Kiều ( KIỀU CÔNG TIỄN ) ; Họ Đinh ( ĐINH LIỆT , ĐINH LỄ ) , Họ Lê ( LÊ BÔI ) ; Họ Nguyễn ( NGUYỄN BIỂU ) ......
Xã Tùng ảnh ( là hình bóng của cây thông in trên núi ) , trước kia là làng YÊN VIỆT ; sau đổi thành Châu Phong , rồi Đức Phong và cuối cùng là Tùng Ảnh. Từ thời xa xưa cho đến ngày nay , xã Tùng ảnh luôn có người học giỏi , thi đậu cao , rất nhiều người có bằng cấp Tiến sĩ. Làng Đồng Thái - Xã Tùng Ảnh - Huyện Đức Thọ , trước kia là Phủ Đức Thọ - Tổng Việt yên.
Làng này tuy ở một vùng quê hẻo lánh song rất trù phú , đường là được lát bê tông , nhà cửa khang trang , đẹp đẽ.
Bên cạnh làng Đồng Thái có một làng nhỏ tục tên gọi là làng Nồi. Địa hình của làng này như một cái nồi úp trên mặt nước vì bốn phía là sông và cánh đồng . Làng này từ xưa đã truyền tụng câu : " Đầu làng là Tụng , Giữa làng là Họa , cuối làng là bần ". Bởi vì những hộ của phần đầu làng có truyền thống kiện tụng lâu dài , giữa làng thì xẩy ra rất nhiều tai họa quái gở , cuối làng vì cờ bạc nên nghèo mạt rệp. Hai xóm Yên hội Đông và Yên Hội Tây chuyên sống bằng nghề cờ bạc.
Tuy nhiên , rất ít người , kể cả người của làng Đồng Thái biết rằng : Những dòng họ của Đồng Thái phát mạnh mẽ và lâu dài đến như vậy không phải do đất Đồng Thái.
Trong các làng thuộc Huyện Đức Thọ - Hà tĩnh , làng Đồng Thái là làng được xem là có nhiều người thành đạt nhất từ xưa cho đến nay. Làng này có khoảng 200 hộ dân , với khoảng 600 khẩu. Trong làng nổi lên nhiều dòng họ đã cung cấp nhiều bậc vĩ nhân cho đất ngước như : Họ Phan ( Có PHAN ĐÌNH PHÙNG , PHAN TRỌNG TUỆ , PHAN ANH , PHAN MỸ... ) ; Họ Mai ( MAI THÚC LOAN ) , Họ Hoàng ( HOÀNG CAO KHẢI.. ); Họ Bùi ( BÙI DƯƠNG LỊCH ) , họ Trần ( TRẦN PHÚ...); Họ Kiều ( KIỀU CÔNG TIỄN ) ; Họ Đinh ( ĐINH LIỆT , ĐINH LỄ ) , Họ Lê ( LÊ BÔI ) ; Họ Nguyễn ( NGUYỄN BIỂU ) ......
Xã Tùng ảnh ( là hình bóng của cây thông in trên núi ) , trước kia là làng YÊN VIỆT ; sau đổi thành Châu Phong , rồi Đức Phong và cuối cùng là Tùng Ảnh. Từ thời xa xưa cho đến ngày nay , xã Tùng ảnh luôn có người học giỏi , thi đậu cao , rất nhiều người có bằng cấp Tiến sĩ. Làng Đồng Thái - Xã Tùng Ảnh - Huyện Đức Thọ , trước kia là Phủ Đức Thọ - Tổng Việt yên.
Làng này tuy ở một vùng quê hẻo lánh song rất trù phú , đường là được lát bê tông , nhà cửa khang trang , đẹp đẽ.
Bên cạnh làng Đồng Thái có một làng nhỏ tục tên gọi là làng Nồi. Địa hình của làng này như một cái nồi úp trên mặt nước vì bốn phía là sông và cánh đồng . Làng này từ xưa đã truyền tụng câu : " Đầu làng là Tụng , Giữa làng là Họa , cuối làng là bần ". Bởi vì những hộ của phần đầu làng có truyền thống kiện tụng lâu dài , giữa làng thì xẩy ra rất nhiều tai họa quái gở , cuối làng vì cờ bạc nên nghèo mạt rệp. Hai xóm Yên hội Đông và Yên Hội Tây chuyên sống bằng nghề cờ bạc.
Tuy nhiên , rất ít người , kể cả người của làng Đồng Thái biết rằng : Những dòng họ của Đồng Thái phát mạnh mẽ và lâu dài đến như vậy không phải do đất Đồng Thái.Thực chất , đất của làng quê Đồng Thái chỉ là được hưởng những khí chất tốt đẹp của một vùng đất gần núi , nơi là nghĩa trang chung của cả làng. Vùng đó chính là làng TRINH NGUYÊN , nơi đã hội tụ tất cả những Linh khí của cả vùng Đức thọ. Nơi đây cũng là nơi có phần mộ của Tổng Bí thư Trần phú. Nhìn chung Long mạch của vùng này , là nơi dùng chân của hành Long , xuất phát từ Tây tạng của Trung Quốc , vượt miền Tây Bắc , theo dọc dãy Trường sơn , một chi Long theo hai con sông Ngàn sâu , Ngàn phố về hợp lưu tại bến Tam xoa - Linh cảm. Nhìn chung địa hình vùng này , tất cả các núi đều đã tròn đầu , có hình dáng xinh tươi , đẹp đẽ ( Thường các bạn cứ để ý sẽ nhận biết được rằng : Khi mà các dãy núi đang hành Long thì có dạng nhấp nhô liên tục , đỉnh thường nhọn . Khi mà núi thưa dần và tròn đầu , hình dáng đẹp , cây cối xanh tốt là nơi mà Long mạch sắp dừng và kết Huyệt ). Long mạch vùng Linh cảm cũng vậy , tất cả các núi đều tròn và cách quãng theo từng đốt ( Mỗi đốt sẽ kết phát cho một Đời ). Phía Thanh Long có rất nhiều vòng ôm vào cuộc đất kết phát Long Huyệt. Tuy nhiên đầu Thanh long lại có chiều hướng duỗi ra xa , nên đàn ông ( Thanh Long là Dương , chủ về đàn ông ) phải ly Quê mới có thể thành tựu công danh được , những người ở lại tuy học vấn uyên thâm , nhưng bất quá chỉ là một anh Đồ làng. Nhánh Thanh Long có tới chín đốt , nên Long Huyệt này có thể kết phát tới 9 đời.Tuy nhiên , hiện nay vì tình trạng khai thác đất làm đường ( đất đỏ ) , quá tràn lan mà vô tình người ta đang tàn phá Long mạch này một cách trầm trọng.
Nhánh Bạch hổ bao gồm nhiều quả núi đất hình dáng tròn trịa như những trái Châu , lại có xu hướng ôm cuộn vào Long Huyệt . Bạch hổ là tượng Âm , tượng trưng cho phái nữ. Do vậy , Phụ nữ ở vùng Linh cảm - Đức thọ , vừa đẹp , vừa giỏi lại rất đảm đang.
Chính giữa của Tiểu Minh đường có một hồ nước rộng và rất đẹp ( Các bạn xem hình ở trên ). Trung Minh đường và Ngoại Minh đường là một vùng đất rộng lớn , xanh ngát màu của những ruộng lúa. Phía ngoài lại có nhiều sông lớn bao bọc hình vòng cung , chảy nghịch thủy , đem lại nhiểu Linh khí cho Long Huyệt.....Vùng đất này còn sản sinh ra nhiều nhân tài cho Đất nước về sau này. Vì lý do giữ những Huyệt vị kết phát cho Đất nước , người viết xin không phân tích cụ thể hình thế và vị trí cụ thể của Long Huyệt này , chỉ biết rằng Long Huyệt này sẽ còn kết phát lâu dài và sản sinh ra nhiều Nhân tài cho nước Việt."
Chùa Am tại xã Đức Hòa - Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh nhìn từ vệ tinh.
Mộ Trần Phú tại ngã ba Tam Xoa - Linh Cảm.
Sông La.
dienbatn cùng NNC Nguyễn Thị Minh Nguyệt tại mộ TBT Trần Phú trong một lần đi khảo sát vùng Đức Thọ- Hà Tĩnh.
"Trải qua các giai đoạn lịch sử Đức thọ đã có nhiều tên gọi khác nhau:
• Thời Hùng Vương, Đức Thọ thuộc bộ Cửu Đức trong tổng số 15 bộ của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. • Thời các triều đại phong kiến Phương Bắc: Nhà Tần (246-207 TCN), nhà Hán (206TCN – 220 SCN) đô hộ, Đức Thọ nằm trong địa phận huyện Hàm Hoan (bao gồm toàn bộ vùng đất Nghệ Tĩnh) thuộc huyện Cửu Chân. • Thời nhà Đường 629 (Đường Cao Tổ) đô hộ đến thời nhà Lý, Đức thọ có tên là Cổ La thuộc Hoan Châu. • Thời nhà Ngô thế kỷ thứ X vùng đất Đức Thọ nằm trong huyện Cửu Đức. • Thời Nhà Lý và nhà Trần , Đức Thọ có tên là Chi La thuộc phủ Đức Quang, Nghệ An châu. • Thời Lê sơ, Đức Thọ có tên là La Giang (1428) thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An. • Thời Lê Trung Hưng (1729 - 1740) để tránh trùng với tên huý của chúa Trịnh Giang nên đổi La Giang thành La Sơn thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. • Thời Minh Mạng (1822) vì trùng tên huý nên phủ Đức Quang đổi tên thành phủ Đức Thọ. Tên La Sơn (thuộc phủ Đức Thọ) tồn tại đến đầu thế kỷ XX phủ Đức Thọ kiêm nhiếp. • Năm Duy Tân thứ 9 (1915), tách tổng Đồng Công nhập về Đức Thọ. Tổng Đồng Công khi đó gồm các xã: Đức Hoà, Đức Lạc, Ân Phú. • Năm Khải Định thứ 6 (1921), tách tổng Lai Thạch thuộc Đức Thọ chuyển về huyện Can Lộc. • Sau 1945, huyện La Sơn đổi thành huyện Đức Thọ cho đến ngày nay. • Năm 1946 - 1947 nhập các làng Lâm Thao, Hòa Duyệt nguyên thuộc tổng Hương Khê và các làng Thượng Bồng, Hạ Bồng, Phương Duệ, Yên Duệ nguyên thuộc tổng Thượng Bồng, Phương Duệ, Yên Duệ nguyên thuộc tổng Thượng Bồng và các xã Ân Phú nguyên thuộc tổng Dị Ốc huyện Hương Sơn chuyển sang thành thôn 7 thuộc xã Đồng Công (xã Đồng Công bao gồm 3 xã Ân Phú, Đức Hoà, Đức Lạc ngày nay). Tiếp đến, vào năm 1948 lại nhập các xã, xã Ân Phú đổi tên thành xã Đức Ân, năm 1972 lại đổi trở lại Ân Phú. • Từ năm 1976-1991, huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. • Từ năm 1991, huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh. • Ngày 2/3/1992, thị trấn Hồng Lĩnh, xã Trung Lương, xã Đức Thuận và một phần xã Đức Thịnh thuộc Đức Thọ chuyển sang trực thuộc thị xã Hồng Lĩnh. • Năm 2000, các xã: Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú chuyển sang trực thuộc huyện Vũ Quang. Đức Thọ xưa kia có tên gọi là La Sơn thuộc phủ Đức Quang (gồm cả Hương Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Nghi Lộc...) được xem là vùng đất học của xứ Nghệ. Trong thời kỳ phong kiến, Đức Thọ có 39 vị đại khoa (Tiến sĩ) với những dòng họ nổi tiếng khoa bảng như: Lê Văn, Hoàng Xuân, Phan Đình, Hà Học,... và các làng giàu truyền thống văn hoá như: Yên Hồ, Đông Thái, Trung Lễ, Bùi Xá... thoi phong kien ha tinh co 4 vi trang nguyen thi duc tho c0 2 vi do la dao tieu va doan nguyen loi deu que o yen ho Nhiều người thành đạt xuất thân từ Đức Thọ, như nhà ngoại giao Nguyễn Biểu (đời Trần), nhà văn hóa Bùi Dương Lịch; Hoàng giáp Bùi Thức Kiên; Thượng thư, Tiến sĩ Phan Bá Đạt; lãnh đạo phong trào Cần Vương, Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng, các chí sĩ Lê Văn Huân, Lê Thước, Lê Ninh, nhà cách mạng Trần Phú, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn, Luật sư Phan Anh, Luật sư Phan Mỹ, nhà toán học Lê Văn Thiêm, nhà văn Hoàng Ngọc Phách, Bác sĩ Phạm Văn Huyến; nhà thơ Thái Can, Luật sư Phạm Khắc Hòe giao su nha su hoc tran duc truong giao ,su bac si tran thi hoai ... Ngoài ra, còn có một nhân vật lịch sử khác cũng rất nổi tiếng nữa là Hoàng Cao Khải. Ông bị xem khinh vì đã cam tâm phục vụ hết lòng thực dân Pháp xâm lược, nhưng chính người Pháp từng nghi ngờ ông là một trợ lực ngầm cho phong trào Duy tân và Đông du, và ngay Phan Châu Trinh cũng có liên lạc thư từ với ông. Trong số những người nổi tiếng hiện nay, từ huyện Đức Thọ có: Giáo sư, TSKH, Viện sĩ Vật lý Đào Vọng Đức; Nữ luật sư Ngô Bá Thành; Giáo sư văn học Hoàng Xuân Nhị; Giáo sư văn học, nhà giáo nhân dân Nguyễn Kim Đính; Giáo sư- nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến; Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Vĩnh Diệu (anh hùng lao động); Giáo sư, nhà sinh học Võ Quý; Giáo sư lâm nghiệp Lê Đình Khả; Giáo sư toán học Đinh Văn Huỳnh (Đại học Ohio, Ohio, Hoa Kỳ); nhà văn hóa Hà Xuân Trường; Giáo sư- nhà Đông Nam Á học Phạm Đức Dương; Giáo sư Phan Văn Tiệm, nguyên Ủy viên tw Đảng, nguyên Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban vật giá chính phủ; Võ Hồng Phúc (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư); Giáo sư Hà Học Trạc, (Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam); Tiến sĩ Hà Học Hợi (Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương), Đạo diễn sân khấu Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành, Nhà báo Phạm Khắc Lãm (nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam); Nguyễn Minh Quang Ủy viên BCH TW Đảng, nguyên Bí thư tỉnh ủy Lai Châu, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;luật sư Trịnh Hồng Dương (nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam); Trung tướng Võ Trọng Việt- Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam; Giáo sư, bác sĩ, Anh hùng Lao động Trần Quỵ (Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai); Giáo sư Mai Trọng Nhuận (Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội); Giáo sư, Tiến sĩ, Nghệ sĩ nhân dân, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Trần Bạch Thu Hà (nguyên Giám đốc Nhạc viện Hà Nội), nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị; Nhà nhiếp ảnh Phan Thoan (tác giả bức ảnh O du kích nhỏ), Giáo sư Phan Nguyên Hồng, ... và rất nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, chính khách và doanh nhân nổi tiếng khác. • Thiếu tướng Bản mẫu:Phan khắc Hy." Hiện nay, người ta mới tìm được khu mộ Tổ của dòng họ Trương đặt trên một đầu con Long cực lớn tại khu vực này. dienbatn đã đi khảo sát và thấy thế đất ở đây rất hùng hậu. Chỉ tiếc rằng, những người xây khu mộ này không có kiến thức về Địa lý làm chưa đúng cách và tệ nhất đã bịt mất đường Thông Thiên để nhận Thiên Khí của mộ nên đã triết giảm rất nhiều.
Khu mộ Tổ dòng họ Trương ở gần Chùa Am ( ảnh do dienbatn thực hiện ).
Đầu con Long của khu mộ.
Huyền Vũ của khu mộ với Khí lực oai hùng.
Sau khi tác pháp bằng Liên Hoa Vô Vi Pháp, các ACE trong Đạo tràng nhận được Điển của bà hoàng hậu Bạch Ngọc. Bà đã nói rất nhiều về thời vận của Đất nước, lịch sử lâu dài của vùng Địa linh Hà Tĩnh, quá trình khai hoang mở cõi của tiền nhân, sự kết phát của các Long mạch vùng này, lịch sử thăng trầm của Chùa Am...Những điều trên , dienbatn không được phép tiết lộ. Duy có những điều sau cần phải nói ra theo lệnh của hoàng hậu Bạch Ngọc :
Thứ nhất : Trong nhiều trăm năm, những thày Địa lý người nước ngoài đã đang và sẽ dùng học thuật của mình để trấn yểm nhiều Địa Huyệt quan trọng của vùng Địa linh này. Các Thày Địa lý người Việt cũng rất nhiều lần phá ếm tại vùng đất này, cố gắng giữ vững một vùng Địa Huyệt của Đất nước bằng cách dựng những ngôi chùa trấn giữ các Địa Huyệt. Tuy nhiên gần đây, các thế hệ người Hà Tĩnh đã phá hủy rất nhiều vùng Địa Huyệt quan trọng của vùng này, ảnh hưởng nghiêm trọng đến Linh khí của các Địa Huyệt.Các vùng núi của các xã Đức Hòa, Đức An , Đức Lập và Tân Hương hiện nay đang bị tàn phá nặng nề bởi việc xẻ núi lấy đất. Hệ thống 99 ngọn Hồng Lĩnh như Núi Voi, Núi Mụ Tra, Núi Dấu, Núi Rờm, Tượng Lĩnh, Phượng Hoàng đang bị tàn phá, băm nát cả hệ thống Long mạch kết tụ ngàn đời. Núi Am và các đoạn núi Trà Sơn hiện đang bị băm nát, thậm chí người ta còn dùng một đoạn Trà Sơn gần Núi Am làm nơi tập kết rác thải. Sự tàn phá khu vực này vô cùng khủng khiếp, dẫn đến nhiều Long mạch bị tàn phá, nhiều Địa Huyệt quan trọng bị xâm hại. SOS,SOS,SOS - HÃY CÙNG CHUNG TAY CỨU LẤY MỘT VÙNG LINH ĐỊA CỦA VIỆT NAM.
Thứ hai : Tại Chùa Am có tháp mộ của 7 vị sư trụ trì chùa Am đã bị người ta trấn ếm.Hương linh Các vị sư bị nhốt trong tháp, không ra ngoài được. Tại đây, dienbatn đã dùng Chày Kim Cang và chú uế Tích Kim cang phá ếm thành công.
Thứ 3 : Tại gần đỉnh ngọn Núi Am có một hang đá , trong đó có cất giấu những pho tượng ngày xưa của Chùa Am. Nếu buổi tối ngồi Thiền tại sân Chùa Am, quay về hướng núi sẽ thấy một vầng sáng do những pho tượng đó bốc lên.
vv và vv.
dienbatn xin dừng tại đây vì không dám tiết lộ quá nhiều. Thân ái. dienbatn.
Ngày hôm qua, chị Nguyễn Thị Diễm Hằng từ TP. HỒ CHÍ MINH ra Bắc có gặp dienbatn và trao số tiền 10.000.000 đồng ( mười triệu ) để ủng hộ các em nhỏ vùng cao. Chị Hằng là chủ một doanh nghiệp chuyên về thẩm mỹ, đã nhiều lần làm từ thiện ở nhiều nơi.Thay mặt các em nhỏ vùng cao , dienbatn xin cảm ơn tấm lòng Bồ tát của chị Hằng và sẽ cố gắng chuyển đến tận tay các em nhỏ vùng cao trong thời gian sớm nhất.Thân ái. dienbatn.