ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 2.

7/09/2013 |
ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 2.
Kết quả bước đầu khai quật khảo cổ học (Phần 2)
Số lượng di vật đã tìm được (bao gồm mảnh vỡ, đồ vật còn nguyên hay những đồ vật vỡ mảnh nhưng có thể phục chế được) có thể ước tính tới đơn vị hàng triệu, trong đó chiếm số lượng lớn là gạch, ngói và đồ gốm. Mỗi thời kỳ, di vật đều có những đặc trưng rất riêng biệt.
Đồ gốm men thời Đại La .
Sư tử gốm men xanh thời Đại La .
Khoảng thế kỷ V-VI, có các viên gạch màu đỏ xám, rìa cạnh in hoa văn hình ô trám lớn. Đồ gốm có một số vài bát gốm men màu xanh có các dấu kê lớn trong lòng bát. Tuy nhiên các di vật này không nằm thành các tầng văn hóa riêng mà thường xuất hiện lẫn trong các lớp văn hóa thế kỷ VII - IX.
Ấm sành trang trí văn thường thời Đinh- Tiền Lê, cao 14,5 cm .

Vỏ sành vai có 4 quai, trang trí khắc chìm văn sóng nước, thời Đinh - Tiền Lê .
Gạch vuông trang trí hoa cúc dây, thời Lý .

Khoảng thế kỷ VII-IX, gạch ngói rất nhiều. Gạch thời này được đặc trưng bởi các loại gạch có ba chữ ''Giang Tây quân'' màu xám, có viên in chữ ''Giang Tây chuyên''. Thỉnh thoảng có viên màu đỏ. Đáng lưu ý là có những viên gạch lát hình vuông, trên mặt gạch in nổi hình con cá sấu đang bơi trong làn sóng nước. Đầu ngói được trang trí khá đa dạng: mặt linh thú, mặt hề, hoa sen, hoa thị. Có các hình mặt thú miệng há rộng nhe nanh nhọn, dáng vẻ dữ dội. Đồ gốm thời này tiêu biểu là các loại vò gốm men 6 núm, các ấm gốm men ngọc thân cao. Cũng tìm thấy tượng một con sư tử kích thước nhỏ, tráng men ngọc.
Ngói úp nóc lớn hình lá đề trang trí chim phượng, thời Lý, rộng: 72cm; cao: 78cm .
Gạch "Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo" (1057).

Thế kỷ X, đã tìm thấy một số loại gạch ngói. Tiêu biểu nhất là viên gạch bìa màu đỏ, mặt gạch in chữ ''Đại Việt quốc quân thành chuyên'' (gạch xây quân thành của nước Đại Việt). Đây vốn là loại gạch rất phổ biến trong các kiến trúc thời Đinh - Lê ở Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình). Cũng đã tìm thấy loại ngói bò nóc, trên lưng ngói có gắn tượng uyên ương có dáng vóc chắc khoẻ. Ngoài ra là một hệ thống các đồ sành, có hoặc không có trang trí hình sóng nước, các loại nồi, ấm miệng loe, đáy tròn có trang trí văn thừng truyền thống từ thời Văn hóa Đông Sơn.
Đầu ngói ống trang trí hoa sen, hoa cúc, thời Lý, ĐK: 17,5cm, 17cm .
Đầu ngói ống trang trí văn đồng tiền, thời Lý, Đk: 16cm; 16cm
Đầu thú linh, thời Trần, rộng: 16,5cm; cao 17,5cm .
Sang thời Lý (thế kỷ XI -XII), các loại gạch ngói phát triển phong phú hơn bao giờ hết. Gạch gồm có gạch bìa, gạch hình chữ nhật và gạch vuông. Đáng chú ý đã tìm thấy loại gạch xây hình chữ nhật (38cm x 23cm x 5,6cm) và gạch gần vuông loại nhỏ (26,5cm x 23,5cm), mặt gạch có in nổi hàng chữ ''Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo'' (chế tạo năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) đời vua thứ ba nhà Lý (vua Lý Thánh Tông). Có một số loại gạch vuông lát nền được trang trí hoa sen, hoa cúc với đường nét tinh mỹ.
Ngói lợp gồm ngói bò úp nóc, ngói ống, ngói âm, ngói mũi sen. Trên một số vị trí, đầu ngói và lưng ngói được trang trí hoặc gắn thêm các hình ''lá đề'' có trang trí, có hình rồng, phượng, hoa sen, hoa cúc... với hàng chục biến thể khác nhau. Rất nhiều các tượng đầu rồng, đầu phượng cũng đã được tìm thấy. Ngoài ra, trong thời Lý còn tìm thấy các di vật thành bậc, cối cửa, chân tảng đá có chạm hình rồng, phượng, hoa lá.
Tượng đầu chim phượng, thời Trần .
Uyên ương trang trí trên ngói úp nóc, thời Lý, dài: 24cm; rộng: 17cm; cao: 30cm .
Rồng trang trí trên ngói úp nóc, thời Lý, cao: 44cm .
Đồ gốm men thời Lý khá phong phú. Có gốm men ngọc, men trắng, men lục, men vàng và hoa nâu với màu men sắc sảo, hoa văn trang trí đẹp chứng tỏ việc sản xuất gốm Lý đạt trình độ rất cao. Loại hình có bát, đĩa, ấm, chậu, mô hình tháp, hộp...
Nghệ thuật Trần tiếp nối và phát triển từ nền nghệ thuật Lý. Vậy nên, các di vật thời Trần một mặt tiếp tục truyền thống Lý, nhưng mặt khác càng ngày càng biến đổi mạnh mẽ. Điều này có thể nhận thấy qua số lượng lớn và phong phú các loại hình vật liệu trang trí kiến trúc tìm thấy tại các hố khai quật, như đầu tượng rồng, tượng đầu chim phượng, đầu ngói ống có gắn lá đề hay những lá đề lệch trang trí rồng hoặc những viên gạch lát hình vuông trang trí văn in hoa cúc, hoa mẫu đơn... Loại gạch, ngói đặc trưng riêng của thời Trần là loại gạch xây có in nổi chữ ''Vĩnh Ninh trường'' và loại ngói mũi sen có đầu mũi hớt cao hoặc mũi vát cạnh hình tam giác.
Ngói ống thời Trần, gắn lá đề trang trí hai con rồng, dài:47;cao: 42cm .
Đầu ngói ống trang trí rồng, thời Mạc, ĐK: 15,3cm
Rồng trang trí trên ngói úp nóc tráng men xanh lục, thời Trần, cao: 32; rộng: 32cm
Lá đề gắn trên ngói ống trang trí văn dây cuốn, thời Trần, rộng: 23; cao: 24,5cm

Rồng trang trí trên ngói úp nóc, thời Trần, dài 34cm; rộng: 17cm

Đồ gốm Trần nhiều và đa dạng hơn gốm Lý. Xuất hiện gốm trang trí hoa lam và hoa văn màu nâu sắt. Tuy nhiên, trang trí gốm thời Trần ngày càng đơn giản hơn trang trí gốm thời Lý. Thời Hậu Lê có thời gian dài. Về mặt di vật có thể chia thành các giai đoạn nhỏ hơn: thời Lê Sơ, thời Lê - Mạc, thời Lê Trung Hưng. Thời Lê Sơ, di vật đặc trưng là các loại gạch vồ và ngói âm dương kích thước lớn, các đồ gốm hoa lam và gốm trắng mỏng cao cấp.
Thời Lê - Mạc xuất hiện đầu ngói ống có chạm rồng. Hình rồng nên ngói thời Lê - Mạc gần giống với hình rồng trên chân đèn gốm hoặc thời Mạc. Trên đồ gốm, các hình rồng được vẽ rất đơn giản, không tỉa tót và trau chuốt như thời Lê Sơ.
Cả thời Lê - Mạc và thời Lê Trung Hưng đều sử dụng loại gạch vồ có kích thước trung bình và nhỏ... Bên cạnh đó, thời kỳ này cũng tìm được nhiều loại ngói ống, ngói âm dương, ngói mũi sen, nhất là những tượng ''con sấu'' trang trí trên bờ dải của mái kiến trúc. Đồ gốm thời Lê Trung Hưng cũng rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, về chất lượng kiểu dáng và hoa văn trang trí của đồ gốm men thời này nói chung không đẹp bằng các thời kỳ trước nữa. Ngoài các loại di vật phổ biến trên còn có một số loại di vật khác như: đồ kim loại (súng thần công, kiếm, dao, mũi tên, tiền đồng...), gốm Trung Quốc (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX), gốm lslam, gốm Nhật Bản (nửa cuối thế kỷ XVII).
Tống Trung Tín

( Xin xem tiếp bài 3 ) - dienbatn.

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-11.html

 

Xem chi tiết…

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 1.

7/09/2013 |
ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH .
( Bài dienbatn đăng trên thegioivohinh.net )
Đây là loạt bài viết về Thăng long thành của TS. NGUYỄN XUÂN DIỆN - PGD. THƯ VIỆN HÁN NÔM ( Lâm Khang ) và BÙI QUỐC HÙNG ( dienbatn ) . Để có thể giữ nguyên mạch văn , chúng tôi dùng chức năng khóa Topic . Những ai muốn bàn thảo , xin mở bài bên lề . Đây là công trình nghiên cứu rất nghiêm túc của chúng tôi , tuy vậy chúng tôi cũng chỉ coi là một giả thiết , ngõ hầu có thể góp phần xác định chính xác vị trí của THĂNG LONG THÀNH , kỷ niệm 1.000 năm THĂNG LONG - HÀ NỘI . 
Trong bài viết , chúng tôi có sử dụng những thư tịch cổ sẽ mang màu nâu , những ý kiến của các Học giả trích dẫn sẽ mang màu Dark Blue và phần viết của chúng tôi sẽ mang màu Blue , phần cần chú ý sẽ mang màu đỏ. Sức người có hạn , bể học vô bờ , nếu chúng tôi có sai sót gì , mong các bậc Tiền bối chỉ bảo cho .
Chúng tôi sẽ viết theo những đề mục sau : 
1/ VỀ SỰ PHÁT LỘ DI CHỈ KHẢO CỔ 18 HOÀNG DIỆU VÀ MỘT SỐ NƠI KHÁC .
2/ GIỚI THUYẾT VỀ MỘT VÀI THUẬT NGỮ .
3/ CHỨNG CỨ - CÁC LOẠI Ý KIẾN CỦA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ VỊ TRÍ THĂNG LONG THÀNH .
4/ VIỆN DẪN THƯ TỊCH CỔ .
5/ KẾT LUẬN MỞ CỦA RIÊNG CHÚNG TÔI ( Lâm Khang và dienbatn ) .
Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị .
Lâm Khang và dienbatn .
PHẦN 1/ 
VỀ SỰ PHÁT LỘ DI CHỈ KHẢO CỔ 18 HOÀNG DIỆU VÀ MỘT SỐ NƠI KHÁC . 
Không đề (IV) (Lưu Quang Vũ)
Phố Hàng Buồm không còn một cánh buồm 
Phố Hàng Lược chẳng còn ai bán lược 
Phố Hàng Bạc những người thợ bạc 
Đã chết cùng đêm hội ngày xưa 
Chợ Mơ không còn mơ 
Cửa Hà Khẩu đã thành phố xá 
Qua Ngõ Trạm chẳng còn ai đổi ngựa 
Đường Cựu Lâu lầu cũ cháy lâu rồi 
Người ta uống bia hơi 
Dưới tấm dù xanh đỏ 
Phố Hàng Bài bán giầy da dép nhựa 
Đông Bộ Đầu thành bến ô tô... 
Trên thềm rêu điện cũ những triều vua 
Lũ trẻ lấm lem đùa nghịch 
Bao quyền uy chót vót 
Nay đã thành đất bụi lãng quên 
Tiếng nấc Nguyễn Du, giọt lệ Xuân Hương 
Những câu thơ buồn khổ yêu thương 
Ngày ấy chẳng ai cần 
Bây giờ ta nhớ mãi 
Ngọn gió của ngàn đời 
Chiều nay ùa trở lại. 
Nơi xa 
Một con tàu xuyên bóng tối 
Đi về miền núi đá vôi 
Một vùng nước trắng xa xôi 
Một nhà ga cô quạnh 
Một người đàn bà ướt lạnh 
Đứng chờ anh.
Nguồn: Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002.
Lâm Khang và dienbatn .
" Ta cố đợi nghìn năm, rồi nghìn năm nữa khác sẽ qua " .
Hòn Vọng Phu 2 - Lê Thương
Có gì trùng hợp trong lời hát Hòn Vọng Phu của Nhạc sĩ Lê Thương với Lịch sử , hay là một lời Tiên tri cho những gì đã và đang xẩy ra . Không ai biết được . Có điều từ thủa Cao Biền Trấn yểm nhiều địa Huyệt của nước Việt ( 866 - 868 ) , hơn 1.000 năm đã trôi qua . Một Đại vận là 540 năm . Hai Đại vận là 1080 năm . Năm 2001 , năm đầu tiên bước vào Thế kỷ 21 , Trận đồ Trấn yểm trên sông Tô Lịch bị phá . Năm 2003, việc khai quật khảo cổ ở khu vực 18 Hoàng Diệu - Ba Đình, Hà Nội đã làm phát lộ những di tích liên quan Hoàng thành Thăng Long. Phát hiện đã gây xôn xao, và kéo theo nó là cuộc tranh luận về việc bảo tồn như thế nào bởi nó dính dáng đến địa điểm xây nhà Quốc hội mới. Năm 2006, APEC - VIỆT NAM đã tụ hội hàng chục Nguyên thủ Quốc gia , kể cả những nước hùng mạnh nhất đều quy tụ lại Việt nam , đất lành chim đậu , một việc mà hàng nghìn năm qua chưa hề có . Năm 2007, Việt nam lại chính thức gia nhập WTO , mở ra một chân trời mới cho sự phát triển của Đất nước . Đây có phải là một sự trùng hợp chăng - Câu trả lời còn bỏ ngỏ cho các bạn suy nghĩ . 
Trong bài này , chúng tôi chỉ xin đi sâu vào khía cạnh VỊ TRÍ CHÍNH XÁC CỦA THĂNG LONG THÀNH . Đã có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về vấn đề này , nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức , nhưng cho đến nay , vị trí chính xác của THĂNG LONG THÀNH vẫn chưa được xác định . Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra , nhưng kết luận vẫn còn là một câu hỏi . 
Lật lại Lịch sử cả ngàn năm , trên đất Hà nội bây giờ đã trải qua nhiều thăng trầm biến đổi . Ta có thể thấy các Thành đã được xây dựng trên nền đất của Hà nội ngày nay bao gồm : Thành Vạn Xuân do Lý Nam Đế , rào lũy ở cửa sông Tô Lịch để chống quân xâm lược Trần Bá Tiên ( 545 ) ; Năm 602 , nhà Tùy chuyển trụ sở đô hộ từ Long biên sang Tống bình là tên gọi của miền đất Hà nội thời nay ; Tử Thành do Khâu Hòa (621) ; Thành Long Biên - Năm Điều Lộ thứ 1 ( 679 ) ; Tống Bình thành do Trương Bá Nghi (767) ; Thành Đại La do Cao Biền (867) dựng lên ; Thành Thăng Long do Lý Công Uẩn dựng lên năm 1010 ; Và cuối cùng là Thành Hà nội ngày nay . Trên một vùng đất dày đặc di chỉ kiến trúc , chồng chéo lên nhau như thế , việc xác định chính xác vị trí của THĂNG LONG THÀNH quả thực là một vấn đề nan giải . Dựa theo thư tịch cổ còn sót lại đến ngày nay , chúng ta chỉ có tấm bản đồ thời Hồng Đức ( 1490 ) - Tức là 380 năm sau khi Lý Công Uẩn xây dựng thành Thăng Long . Ngoài ra còn có một số bia đá và và một số di chỉ khắc trên đồng , thật là ít ỏi . 
Trong bài : 
Thăng Long hoài cổ 
(Bà huyện Thanh Quan) 
" Tạo hoá gây chi cuộc hý trường 
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương 
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo 
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương 
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt 
Nước còn cau mặt với tang thương 
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ 
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường " 
Đã nói lên cảnh vật đổi sao dời của THĂNG LONG THÀNH .
Chính vì những điều ở trên , chúng tôi đã thực hiện một quá trình nghiên cứu các thư tịch cổ còn sót lại mà chúng tôi được tiếp cận , mong muốn góp một tiếng nói nhỏ bé trong việc xác định vị trí của THĂNG LONG THÀNH .
PHÁT LỘ NHỮNG DI TÍCH LIÊN QUAN TỚI THĂNG LONG THÀNH TẠI 18 HOÀNG DIỆU .
Theo Luật di sản văn hoá, trước khi thực hiện dự án xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình, trên khu vực nằm giữa các đường phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn, Chính phủ cho phép Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật trên diện rộng. Từ tháng 12/2002 đến nay, đã khai quật trên diện tích hơn 19.000 m2. Đây là quy mô khai quật khảo cổ học lớn nhất ở Việt Nam và cũng vào loại lớn nhất ở Đông Nam Á. Từ đó đã phát lộ một phức hệ di tích – di vật rất phong phú, đa dạng từ thành Đại La (thế kỷ VII - IX) đến thành Thăng Long (thế kỷ Xl -XVIII) và thành Hà Nội (thế kỷ XIX). Trên cơ sở phát hiện khảo cổ học này, các nhà khảo cổ học còn phải dành nhiều thời gian để chỉnh lý hiện vật và hoàn chỉnh hồ sơ khoa học về các di tích, di vật. Về phương diện khoa học, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành liên quan như khảo cổ học, sử học, kiến trúc, văn hoá, địa lý, địa chất, môi trường,,, cũng cần có nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận hàng loạt vấn đề như cảnh quan tự nhiên, cấu tạo của các sông, hồ, quan hệ giữa các lớp đất; tên gọi, chức năng, niên đại của các di tích kiến trúc; cấu trúc của khu di tích và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử; phân loại và xác định nguồn gốc, niên đại các di vật. Vì vậy không có gì ngạc nhiên, trong một vài hội thảo khoa học hay trên báo chí, xuất hiện một số ý kiến khác nhau về những vấn đề khoa học cụ thể này. Tuy nhiên, trên tổng thể đã có đủ cơ sở khoa học để đưa ra những đánh giá khái quát về giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích đã phát hiện. Khu vực khai quật hiện nay nằm về phía tây của điện Kính Thiên trong Hoàng Thành thời Lê sơ. Rõ ràng đây là di tích của một phần phía tây Hoàng Thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng thế kỷ XI - XVIII, ngược lên thành Đại La thế kỷ VII - IX và kéo dài đến thành Hà Nội thế kỷ XIX. Khu di tích bộc lộ một bề dày lịch sử từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX gồm thời tiền Thăng Long, thời Thăng Long và Hà Nội. Các di tích và tầng văn hóa chồng xếp lên nhau qua nhiều thời kỳ lịch sử một cách khá liên tục. Thật hiếm có một khu di tích lịch sử-văn hoá trải dài qua nhiều thời kỳ lịch sử như vậy giữa vùng đất trung tâm của thủ đô và cũng thật hiếm có thủ đô một nước có lịch sử lâu đời lại phát hiện một quần thể di tích chảy dài suốt bề dày lịch sử như vậy.
Các di tích kiến trúc và một khối lượng rất lớn di vật cho thấy một phần qui mô và diện mạo của Hoàng Thành cùng đời sống cung đình của vua quan, quý tộc qua các thời kỳ lịch sử. Tầng tầng lớp lớp di tích - di vật hiện lên như một bộ sử nghìn năm văn hiến của Thăng Long – Hà Nội phản chiếu trình độ và bản sắc dân tộc của một trung tâm văn hóa lớn nhất và lâu đời nhất của đất nước.
Về phương diện lịch sử, phát hiện khảo cổ học này cung cấp nhiều cứ liệu khoa học để xác định vị trí trung tâm của thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh, để hiểu thêm mối quan hệ giữa thành Đại La với thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội thời Nguyễn. Thành Đại La qua nhiều lần xây dựng, từ Tử Thành do Khâu Hoà xây năm 618 chỉ 900 bộ (khoảng 1,65 km), La Thành do Trương Bá Nghi xây năm 767 rồi Triệu Xương đắp thêm năm 791, thành Đại La do Trương Chu xây năm 808 mà La Thành bên ngoài dài 2000 bộ (khoảng 3,70 km) rồi Lý Nguyên Gia dời thành và Cao Biền mở rộng thêm thành 1982 trượng (khoảng 6,5 km), ngoài có đê dài 2125 trượng (khoảng 7 km). Đó là toà thành có qui mô lớn nhất trong thời Bắc thuộc. Tại khu vực khai quật, đã tìm thấy dấu tích thành Đại La trên cả bốn khu A, B, C, D, chứng tỏ vùng này nằm trong thành Đại La. Bên trên dấu tích Đại La là di tích kiến trúc và các di vật thời Lý. Điều đó chứng tỏ vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La đúng như Chiếu dời đô, đổi tên là thành Thăng Long và buổi đầu đã sử dụng toà thành này cùng một số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang, xây dựng thêm những cung điện mới. Phạm vi của Hoàng Thành từ thời Lý, Trần sang Lê sơ thay đổi như thế nào còn phải nghiên cứu thêm, nhưng qua phát hiện khảo cổ học ở Ba Đình thì rõ ràng khu vực này là một bộ phận phía tây của Hoàng Thành xưa và không thay đổi. Hơn nữa, theo bản đồ thành Đông Kinh thời Hồng Đức thì khu vực khai quật này nằm trong phạm vi cấm thành của Hoàng Thành. Kết quả khai quật khảo cổ học kết hợp với tư liệu thư tịch và bản đồ cổ cho phép hình dung khu trung tâm của Hoàng Thành rõ nét hơn.
Phát hiện này còn cung cấp thông tin cho biết trong lòng đất Hoàng thành Thăng Long xưa còn bảo tồn nhiều di tích di vật quý. Từ đây có thể đưa ra khả năng mở rộng diện điều tra và khai quật, xây dựng quy hoạch bảo tồn một khu vực di tích lịch sử văn hoá của kinh thành Thăng Long, thành Hà Nội cổ và mở rộng đến các di tích cách mạng và kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh như Hội trường Ba Đình, Lăng và Nhà sàn Bác Hồ, Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ, Hội trường Ba Đình, kéo dài từ thế kỷ thứ VII (hi vọng có thể phát hiện những di tích, di vật sớm hơn) đến thế kỷ XX. Đây là một di sản văn hóa vô giá của dân tộc nằm giữa thủ đô Hà Nội và nếu nghiên cứu, bảo tồn tốt, có thể được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Một di sản văn hoá như vậy sẽ tăng thêm vị thế của thủ đô Hà Nội, phát huy tác dụng sâu sắc trong giáo dục truyền thống dân tộc cũng như trong các hoạt động giao lưu văn hoá và du lịch. Chỉ một bộ phận di sản đã được phát hiện ở Ba Đình hiện nay đã làm xúc động biết bao những người có dịp đến tham quan, chiêm ngưỡng và cả những người chỉ mới được nghe tin và xem ảnh qua các phương tiện thông tin đại chúng.
( HOÀNG THÀNH THĂNG LONG - Phát hiện khảo cổ học ) .
BẢN ĐỒ KHU VỰC KHAI QUẬT ( Chụp lại trong cuốn sách đã dẫn ) .
Kết quả bước đầu khai quật khảo cổ học (Phần 1) - Tống Trung Tín .
Khu vực dự định xây dựng Nhà Quốc hội và hội trường Ba Đình mới có diện tích rộng khoảng 48.000m2 đã được Chính phủ quyết định cho thi công trong năm 2002. Nhưng trước khi công trường xây dựng khởi công, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, từ tháng 12-2002, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Xây dựng, chỉ đạo Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật khảo cổ học tại khu vực này. Đây là nơi được giới nghiên cứu sử học và khảo cổ học đoán định nằm trong khu trung tâm của Kinh đô Thăng Long thời Lý, thời Trần và thời Lê (thế kỷ XI - XVIII). Tính đến thời điểm tháng 10-2003, Viện Khảo cổ học đã khai quật được 17.000m2. Hiện nay, công tác khai quật khảo cổ vẫn đang tiếp tục, song các kết quả bước đầu đã thu được là rất tốt đẹp.
Dấu vết kiến trúc thời Đại La, thời Lý Trần ở khu B nhìn từ phía Đông Nam

Chi tiết cột Đại La ở hố B13 đang đứng nguyên trên tấm gỗ .
Tầng văn hóa
Trên toàn khu vực, vị trí nào cũng xuất lộ các tầng văn hóa có chứa các dấu tích lịch sử và văn hóa của Thăng Long - Hà Nội trong khoảng hơn 1.300 năm lịch sử. Nhìn chung lớp đất văn hóa này thường xuất hiện ở độ sâu khoảng từ 1m trở xuống và dày từ 2,0-3,50m. Tại vị trí của một số hố khai quật như hố A10 – A11, B3 - B9 và D4 - D6 có thể nhận ra được di tích của các thời đại chồng lên nhau. 
Dấu tích trụ móng sỏi của hệ thống kiến trúc "Lầu lục giác" nằm ven sông, hồ ở khu A

Dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần ở D4
Ví dụ tiêu biểu là vị trí hố B3. Tại vị trí này, có thể thấy rõ trật tự văn hóa qua các thời như sau:

- Từ độ sâu 0,90m đến 1,90m đã gặp lớp văn hóa thời Lê có niên đại thế kỷ XV-XVIII.

- Từ độ sâu 1,90m đến 3m là lớp văn hóa thời Lý và thời Trần (thế kỷ XI-XIV). Tại đây còn có vị trí có dấu tích một nền gạch vuông thời Trần chồng hẳn lên nền gạch vuông thời Lý qua một lớp đất đắp dày 12cm - 15cm.

- Từ độ sâu 3m đến khoảng hơn 4,20m là lớp văn hóa thời Đại La (thế kỷ VII-IX).

Dĩ nhiên sự thay đổi của tầng văn hóa ở nhiều vị trí khác là khá phức tạp và không giống nhau, nhưng trên đại thể, diễn trình văn hóa tiêu biểu của di tích là như vậy.

Các dẩu tích kiến trúc tiêu biểu

1. Ở trong các tầng văn hóa đều tìm thấy những di tích kiến trúc đặc trưng cho các thời Tiền Thăng Long hay còn gọi là thời Đại La (thế kỷ VII - IX), thời Lý (thế kỷ XI - XII), thời Trần (thế kỷ XIII- XIV), thời Lê (thế kỷ XV - XVIII).
Cửa và hệ thống cống thoát nước phía Đông kiến trúc lớn phía Bắc khu A
Dấu tích kiến trúc lớn nhiều gian ở Bắc khu A. Hình người đứng giả định cho các cột của kiến trúc .
Dấu tích kiến trúc sớm nhất thuộc thời Đại La. Đó là vết tích của các nền kiến trúc xếp bằng gạch màu xám, các chân tảng đá và những cột gỗ. Những dấu tích này đã tìm thấy ở khu vực các hố A5, A16, B2, B3, B10, B13, B16, D5, D6... tiêu biểu nhất là ở hố B3 – B13. Tại đây xuất hiện một vết tích kiến trúc lớn. Kiến trúc này hiện còn giữ được 4 cột gỗ lớn đang dựng trên các chân đá tảng. Các cột gỗ này cao 1,61m, chu vi khoảng 1,32m. Có một cột gỗ nhỏ hơn được kê trên một thanh gỗ và các viên gạch bìa màu xám. Ngoài ra còn 2 chân đá tảng khác đã xuất lộ nhưng bị mất cột gỗ. Các chân tảng đều là một khối đá hình chữ nhật dài 96cm, rộng 72cm được gia công đơn giản, không có trang trí. Các cột này cách nhau 3,80m tính từ tim cột. Chiều dài bắc – nam của các cột gỗ này khoảng 35m đã cho thấy mặt bằng của kiến trúc này khá lớn.
- Dấu tích kiến trúc thời Lý được xác định rõ nhất là ở khu vực hố A20: ở đây có hai nền kiến trúc được phân cách với nhau bằng một sân nền lát gạch vuông. Hiện nay, chưa xác định rõ quy mô của kiến trúc này bởi hố khai quật còn vướng nhà dân và mặt bằng kiến trúc còn đang có xu hướng phát triển về phía đường Hoàng Diệu. Cả hai dấu tích kiến trúc này được đặc trưng bởi các viên gạch bìa màu đỏ bó thềm và các chân đá tảng hoa sen.
Hàng gạch bó thềm hiện còn cao 47cm, rộng 88cm, được xây xếp bởi 9 hàng gạch. Các viên gạch đều có màu đỏ nhạt, diềm một số viên gạch có in hình chữ Hán, kích thước 40cm x19,5cm x 4,5cm.
Có 10 chân đá tảng hoa sen đang được đặt nguyên tại chỗ trên các móng trụ gia cố bằng sỏi và gạch rất chắc chắn. Chân tảng hình vuông (65cm - 73,50cm x 65cm - 74cm), mặt tảng hình tròn (đường kính 41cm - 49cm), xung quanh có chạm 14 cánh sen dáng thon dài, nét chạm thanh tú. Loại chân tảng cánh sen này tương tự như các chân đá tảng hoa sen ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương Sơn (Nam Định) năm 1107.
Trong khu vực mặt nền kiến trúc cũng đã tìm thấy một số di vật trang trí kiến trúc thời Lý và thời Trần. Điều này cho thấy rằng kiến trúc này có từ thời Lý và khả năng được tiếp tục sử dụng vào thời Trần được.
- Ở khu A1 đã xuất lộ gần hết một đơn nguyên kiến trúc lớn dài hơn 60m, rộng 17,65m với hơn 40 trụ móng hình vuông (1,30m x 1,30m) được gia cố bằng sỏi và gạch ngói vụn tương tự như kiến trúc ở khu A20. Kiến trúc này được sử dụng trong cả thời Lý và thời Trần. Vào cuối thời Trần, kiến trúc bị cháy và thay vào đó một kiến trúc khác nhỏ hơn và một hồ nước nhỏ ở đây.
- Ở khu B, cũng tìm thấy nhiều vết tích kiến trúc, trong đó bước đầu đã tìm thấy quy mô khá hoàn chỉnh một kiến trúc có chiều dài hơn 60m, rộng 9m thuộc thời Lý - Trần với hơn 42 móng trụ sỏi được phân thành 11 gian, 2 chái. Đây là một kiến trúc có quy mô hoàn chỉnh nhất ở khu vực. Tại hố B16 cũng đã tìm thấy một nền kiến trúc có chân tảng đá hoa sen thời Trần và một nền kiến trúc có chân tảng đá thời Lý.
- Ở khu C, tuy chưa khai quật được nhiều, nhưng hố thăm dò C3 đã xuất lộ móng trụ vuông được gia cố bằng gạch vuông và sỏi mỗi cạnh dài 1,40m có niên đại thời Lý.
- Khu D, tuy diện tích khai quật chưa lớn nhưng có thể thấy nét đặc sắc của di tích ở đây là có những kiến trúc được viền các dải hình ''hoa chanh'' được xếp bằng các loại ngói có niên đại thời Trần. Ở hố D7 có mảng nền gạch còn nguyên cả 2 viên gạch chữ ''Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo'' nghĩa là gạch được chế tạo đời vua Lý thứ 3 (Lý Thánh Tông) năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057).
Gạch vuông xếp dưới đáy giếng thời Trần ở hố A9MR .
Giếng nước cổ thời trần ở hố A9MR .
Giếng nước cổ thời Lê Trung Hưng ở hố B12 .
Ở cả khu A và khu B đều tìm thấy dấu tích một loại kiến trúc được tạo bởi 7 móng trụ trong đó có một trụ móng ở giữa hình vuông, xung quanh là 6 trụ móng tròn. Bảy móng trụ này tạo thành một mặt bằng kiến trúc hình tròn (đường kính 3,74cm).
Có nhà nghiên cứu gọi đó là vết tích của kiến trúc kiểu ''lầu lục giác'' ở ven sông vì ngay cạnh các kiến trúc này là vết tích của một dòng sông cổ. Hiện đã tìm thấy 11 cụm móng trụ kiến trúc thư vậy đang phân bố dọc theo sông và kiến trúc lớn nhiều gian ở khu A1.
Các kiến trúc đều được bố trí các đường cống thoát nước. Có loại cống thoát nước của một kiến trúc có kích thước nhỏ, có loại cống thoát nước cho cả một khu vực thì kích thước lớn hơn. Các cửa cống đều có xu hướng đổ ra sông hoặc hồ.
Một hệ thống các di tích giếng nước đã tìm thấy 11 chiếc gồm: 2 giếng thời Đại La, 2 giếng thời Lý, 2 giếng thời Trần, 3 giếng nước thời Lê và 2 giếng nước thời Lê - Nguyễn.
- Di tích mộ táng: có 2 mộ táng khoảng cuối thời Trần, 3 mộ thuộc thời Lê - Nguyễn, 1 mộ cuối thời Nguyễn và một số di cốt nằm rải rác ở khu B, tập trung nhiều ở hố B19 trong khu vực có dòng chảy cổ. Những mộ táng này đang được nghiên cứu về mặt nhân chủng và niên đại. Đáng lưu ý nhất là mộ táng tại hố B16 nằm ở độ sâu khoảng 2,10m, cạnh ngay bên dưới chân tảng đá hoa sen. Đây là mộ song táng của hai di cốt trẻ em khoảng 8 - 12 tuổi. Đầu mộ quay về hướng đông, hơi chếch bắc khoảng 200 - 300.
Tống Trung Tín.

(  Xin xem tiếp bài 2 ) - dienbatn.

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-11.html

 

Xem chi tiết…

PIN PHÁT SÓNG HÌNH THỂ VÀ SÓNG NĂNG LƯỢNG - DỊCH LÝ MÔ TIN TỨC .

7/09/2013 |
PIN PHÁT SÓNG HÌNH THỂ VÀ SÓNG NĂNG LƯỢNG - DỊCH LÝ MÔ TIN TỨC . 

Mọi vật thể đều phát ra những xạ tuyến dưới hình thức chấn động sóng . Tùy tính chất lý hóa của hình thể.....Do sự tác động của Vũ trụ và Địa cầu mà mỗi vật thể có dạng lưới sóng khác nhau . 

Hiểu biết sâu sắc về hình thành lưới sóng khác nhau của mỗi vật thể . Từ những năm 30 của thế kỷ 20 , nhà Cảm xạ người Pháp An Be Be Li Zat đã lấy gỗ dái ngựa , tiện thành 9 hình bán cầu , ghép thành hàng đồng trục để ướp thịt , cá , hoa quả ... So với các hình khối và chất liệu khác , nó có tác dụng rất tốt . 
Phải chăng hình khối và chất liệu này , đã hình thành được lưới sóng năng lượng thích hợp , khả dĩ thu được Sinh khí và loại trừ được Tử khí ? Giúp cho thịt , cá không bị ôi thiu và hoa tươi , sắc thắm kéo dài ? 
Đặc biệt , để chủ động thúc đẩy sự tác động qua lại giữa các vật thể được diễn ra và diễn ra theo ý muốn , An Be Be Li Zat còn kết hợp với Chan Me ri chế ra được pin phát sóng hình thể , đã được cấp bằng sáng chế . 
1/ PIN PHÁT SÓNG HÌNH THỂ PHÁP : Pin gồm hai hình tứ giác chồng lên nhau . Mỗi hình tứ giác gồm có 2 hình tam giác cân ghép lại . Hình tam giác A có góc ở đỉnh là 50 độ . Tam giác cân B có góc Đỉnh là 86 độ . ( Xem hình 1 ) . 
Trên hai hình tứ giác ghép lại , được kẻ các đường rãnh song song với hai cạnh bên của tam giác , tạo thành lưới sóng hình thoi . Vật liệu làm pin là các chất liệu trung tính : giấy , mi ca , nhựa phẳng .... 
2/ PIN PHÁT SÓNG NĂNG LƯỢNG MÔ TIN TỨC : 
Tại sao pin phát sóng hình thể của người Pháp lại có khả năng đặc biệt ? Ta không thấy tác giả giải thích , cũng chưa có tài liêu nào lý giải . 
Một tác giả dấu tên , đã vận dụng Dịch học để lý giải được khả năng đặc biệt của pin phát sóng hình thể của người Pháp và còn phát triển thành PIN PHÁT SÓNG NĂNG LƯỢNG DỊCH LÝ MÔ TIN TỨC . 
Theo tác giả đó , sở dĩ pin có khả năng đặc biệt chính là vì ở đầu phát có góc 50 độ và đầu thu có góc 86 độ 
Trong Kinh dịch , quy nguyên số 50 sẽ bằng 5 . Số 86 quy nguyên cũng bằng 5 ( 8 + 6 = 1 +4 = 5 ) . Mà số 5 là số Thổ Thiên sinh của Hà đồ . 
Nếu đem số 50 và 86 chia cho 8 , ta được hai quẻ Dịch : 
50 : 8 = 6 dư 2 là quẻ Đoài ( Mã số Bát quái tiên thiên ) . 
86 : 8 = 10 dư 6 là quẻ Càn ( mã số bát quái hậu thiên ) . 
Nghiên cứu hệ thống 64 quẻ Dịch , xác định được hai quẻ , có chức năng thu và phát sóng âm và dương . 
• Quẻ phát sóng âm là Trạch Thiên Quải 
• Đảo lại , quẻ Thiên Phong Cấu là quẻ thu sóng Âm . 
Tương tự ta cũng có : 
• Quẻ phát sóng dương là quẻ Sơn Địa Bác . 
• Quẻ thu sóng Dương là quẻ Địa Lôi Phục . 
Kết hợp hai góc 50 độ và 86 độ , đúng như quẻ thu phát sóng âm của Kinh Dịch . Hai số 50 và 86 có quy nguyên là 5 , là số Thiên sinh của Hà đồ , là biểu tượng sức mạnh của Hoàng đế . Do đó pin có khả năng tự tích lũy năng lượng , có thể thu , phát sóng năng lượng của vật này , phát tác vào vật thể khác , và chính nó cũng có khả năng công phá sóng xấu của vật gây hại . 
Từ PIN PHÁT SÓNG HÌNH THỂ của người Pháp , tác giả đã sáng chế ra PIN PHÁT SÓNG DỊCH LÝ như sau : 
1/ CẶP PIN PHÁT SÓNG ÂM : Trên cơ sở pin phát sóng của Pháp , tác giả đã an quẻ Trạch Thiên Quải lên đó , bỏ qua phần các vạch kẻ ô hình thoi và quy độ dài cặp pin về căn nguyên 8 . Vì số 8 tương ứng với quẻ Khôn ( Bát quái tiên thiên ) . Đồng thời ứng với quẻ Cấn ( Bát quái Hậu Thiê ) . 
2/ CẶP PIN THU PHÁT SÓNG DƯƠNG : 
Căn cứ vào Quẻ Sơn Địa Bác và ngược lại là quẻ Địa Lôi Phục đã chọn lựa trong Kinh dịch , tác giả đã thay góc phát 50 độ thành 55 độ vì 5 + 5 = 10 là số thành của Hà đồ. 
Thay góc 86 độ bằng 82 độ vì 8 + 2 - 10 , cũng là số thành của Hà đồ . 
Và nếu 55 : 8 = 6 dư 7 thì ứng với quẻ Cấn ( mã số Bát quái tiên Thiên ) . 
Và 82 : 8 = 10 dư 2 , ứng với quẻ Khô ( Mã số Bát quái Hậu thiên ) . 
Độ dài của cặp pin cũng là 8 , là mã số Thổ ( + ), ( - ) . 
LUẬN VỀ ÂM DƯƠNG - NGƯỜI SỐNG VÀ NGƯỜI CHẾT : 
Mọi vật thể đều có hai mặt âm và dương , nên nó cũng phát ra sóng âm và dương . Người sống là dương trong , âm ngoài . Cơ thể đang sống là dương, cơ thể hào quang là âm , đó là thể vô hình mắt ta không nhìn thấy , nhưng hiện nay Khoa học đã chụp hình được . 
Xác người chết là âm , thể hồn , phách... của người chết là dương (Âm trong , dương ngoài ) . Do vậy , chết chưa phải là đã hết . Hồn gắn bó với xác ( cốt ) . Hồn là sóng dương tính vô hình nên rất năng động . Có thể đi mây về gió và dễ dàng hòa nhập với thể vô hình ( phần âm của người sống ) . 
Do vậy , ta dùng quẻ Trạch Thiên Quải là quẻ phát sóng âm , và quẻ Thiên Phong Cấu là quẻ thu sóng âm . 
Sóng năng lượng của quẻ Dịch này , tác dụng lên cơ thể hào quang của người sống và thực thể của người chết . Nó tác động vào Bản mệnh và hệ thống các Luân xa ...làm thay đổi Hào quang người sống . Các loại bệnh Đông - Tây Y gọi là bẩm sinh - Di truyền , ta gọi là Căn nghiệp... sử dụng loại pin này để hóa giải . 
Pin có quẻ Sơn Địa Bóc , có tác động lên thực thể của người sống và Hào quang của người chết. Hay là tác động vào thực thể những vật hữu hình và hào quang những vật vô hình . Thực thể Hào quang Thiên . 
Quẻ Dịch là biểu tượng ngôn ngữ của Trời - Đất , biểu hiện rõ ràng , đầy đủ hai mặt âm , dương . Quẻ Dịch đều có họ , tên , nó hàm chứa năng lượng, thông tin và năng lượng hình thể , tượng thanh và tượng hình . Công năng của mỗi quẻ rất đa dạng , nó Linh ứng khi Tâm ta xuất . Cổ nhân dạy : " Tâm xuất - Quỷ Thần tri " . Do vậy , tâm thức ta dự định làm việc gì, tay ta cầm pin Dịch lý trong tay , thì pin Dịch hiểu được ý ta, nó mã hóa thành thông tin năng lượng . 
Chính vì vậy mà tác giả đặt tên PIN DỊCH LÝ là PIN MÔ TIN TỨC .
Còn tôi , từ nguyên lý cấu tạo của pin An Be Be Li Zat - Chan Me ri , đã hợp thành PIN PHÁT SÓNG NĂNG LƯỢNG HÌNH THỂ MÔ TIN TỨC . Tôi giữ lại lưới sóng hình thể trên pin . Quẻ Dịch viết bằng biểu tượng Hậu Thiên , có Sắc lệnh , Ấn pháp , chữ Vạn và ngôi sao Da vít kỳ diệu . Kết quả hiệu lực của pin thật khôn lường . 
Tôi hgép hai pin đồng trục . Điểm đầu phát của pin 2 vào giữa trục AB của pin 1 . Điểm đầu phát của pin 1 ở vào điểm giữa trục AB của pin 2 . Tạo thêm sự cộng hưởng công lực cho pin . Độ dài Ab , tôi lấy căn nguyên 8 là số âm , dương đầy đủ ( xem hình minh họa ) . 





PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG : 
Người sử dụng pin mô tin tức phải có tấm lòng trong sáng , có Đức , có Nhân , có Tình , có Nghĩa . 
Mội một loại pin đều có đầu thu , đầu phát . Thu tốt sẽ phát ra tốt . Thu xấu sẽ phát ra xấu . Vì lẽ này nên người sử dụng pin phải cẩn trọng . Tuỳ từng loại pinâm hay dương : Quải - Cấu ; hay Bác - Phục mà sử dụng vào công việc theo chức năng của pin . Có thể sử dụng đồng thời cả 2 cặp pin vào một sự việc . 
Có thể bằng duy lý hay Cảm xạ , để xác lập quẻ Dịch , giải quyết công việc . An quẻđó lên mặt trên của pin bằng bút dạ ( Việc xong lại xóa đi dùng vào việc khác ) . 
Có thể dùng pin để khử các Ác xạ Vũ trụ như đòn dông , đao đình ...việc này phải chọn thế đặt pin và ngày giờp xung , hợp cho hợp thức .GIỚI THIỆU MỘT VÀI ỨNG DỤNG : 
a/ Đặt đầu thu của pin ở phía ảnh có năng lượng Sinh học và Tâm linh tốt . Đầu phát hướng vào đồ vật chứng và ảnh của đối tượng cần chữa chỉnh ... 
b/ Đât đầu thu vào đối tượng cần chữa chỉnh ... đầu phát hướng vào mặt phảng nhốt Tà , Thạch anh , chậu cây xương rồng .. 
A/ 
• Ảnh đức Quán Thế` Âm Bồ tát , Dược sư , Thái Thượng Lão quân . 
• Ảnh cha , mẹ , vợ , chồng có nguyện vọng chân chính . 
• Át lát giải phẫu . 
• Các loại Ma phương chữa bệnh và giải quyết công việc . 
B/ 
• Ảnh chồng hoặc vợ sa ngã . 
• Ảnh con cái hư đốn , nghiện ngập . 
• Người bệnh Trời hành , đất hại . 
• Ung thư do nhiễm phải ác xạ , âm khí , sóng lục âm . 
• Người bị bệnh Thần kinh trầm , cường . 
• Ảnh người có tạng phủ bị bệnh . 
Lưu ý : trong thời gian lắp đặt pin để giải quyết công việc , người có nhu cầu và Thày chữa phải nhất tâm , thật lòng . Nếu miệng nói một đằng , lòng một nẻo thì còn có họa thêm . 
Ta có thể dùng hai tay phải , trái theo nguyên tắc : Thiên tả hoàn - Địa hữu chuyển , nam tay trái - gái tay phải . Tay phải thu úp lên ảnh này , tay trái phát chỉ vào ảnh kia để truyền thông tin năng lượng. 
Dùng quả lắc đa dụng dọi trên loại ảnh A (Ảnh tốt ) , tay Antena chỉ vào ảnh B ( Cần được hóa giải ) . Trong đầu ta quán tưởng mạnh mẽ tới những điều ta mong muốn . Phát những thông tin vô vi hoặc hữu vi thích hợp . Quả lắc sẽ quay , sẽ lắc , tùy nó . Khi nào nó dừng , tay ta không thấy nó bị co kéo nữa , vậy là năng lượng thông tin đã trung mãn . Theo dõi tin , chờ kết quả . 
Ta có thể còn phối hợp với KIM TỰ THÁP Thiên tiên và Hậu Thiên....để thực hiện mục đích và để truyền tải sự việc đi xa như ý muốn . Lòng tin là tất thắng . Quý vị cùng trắc nghiệm . 
Còn có nhiều cách sử dụng khác như cầm pin trong tay rồi phát công trực tiếp . 
Tùy cơ ứng biến và luôn sáng tạo . Mong Quý vị đóng góp thêm nhiều kinh nghiệm . 
DS ẨN SĨ. 
dienbatn sưu tầm.
Xem chi tiết…

TGVH DU LỊCH VỀ NGUỒN . BÀI 2.

7/09/2013 |
TGVH DU LỊCH VỀ NGUỒN . BÀI 2.
( Tiếp theo bài 1 ).



Một cơ duyên nữa lại đến với chúng tôi , trên đường trở về , chúng tôi đã liên hệ được với bác ĐỖ VĂN XUYỀN - Tức nhà văn Khánh Hoài đang sống tại Thành Phố Việt Trì . Gần đây , báo chí đã rầm rộ đưa tin , bác Xuyền là người Việt Nam duy nhất có thể đọc thông viết thạo chữ Đẩu tự - Là thứ chữ cổ của người Việt xưa dưới thời các Thế đại Vương triều Hùng Vương .
Chuyện cụ thể thì các bạn xem bài của BIN đã post cùng chuyên mục . Chúng tôi chỉ xin nhắc lại hai điều chúng tôi cảm thấy tâm huyết :
1/ Dưới thời các Thế đại Vương triều Hùng Vương , đã có thứ chữ viết rất thuận tiện , mang tên ĐẨU TỰ ( chữ nòng nọc ) . Thứ chữ này hiện có rất nhiều trong các ngọc phả , các di vật khảo cổ đào được ở Phú Thọ . Bác Xuyền là người tìm và phục hồi được nguyên vẹn thứ chữ này . Theo Bác , chỉ cần khoảng 15 ngày là có thể đọc thông viết thạo loại chữ này . Chúng tôi đang có kế hoạch học thứ chữ này và mơ ước một ngày nào đó , tất cả các bia đá ở QUỐC TỬ GIÁM , các hoành phi , câu đối tại các đình chùa , các bức tranh thư pháp , các cuốn gia phả đều được ghi bằng loại chữ này . Hiện nay bác Xuyền đang dịch cuốn LỤC ĐỘ TẬP KINH ra thứ chữ Đẩu tự này .
2/ Theo như lời bác Xuyền , Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rodes. Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ . Đây chính là một công trình tập thể của các trí thức người Việt , căn cứ trên chữ Đẩu tự .
dienbatn và huynh Hùng Sơn đang phỏng vấn bác Đào Văn Xuyền tại nhà riêng .





Mẫu tự ĐẨU TỰ so sánh với các loại chữ khác .


Một số bản dịch chữ việt ra đẩu tự của bác Đào Văn Xuyền .
Hịch của Hai Bà Trưng .


Một đôi cấu đối của bác Xuyền .


" Hỡi cô tát nước bên đàng .
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi " .


Đây là một chuyến về nguồn , tuy rất hạn hẹp về thời gian , nhưng dienbatn tin rằng nó sẽ là một dấu ấn khó phai mờ trong lòng Huynh Hùng Sơn và các thành viện trong đoàn .
dienbatn.
( Bài này đã bị mất, dienbatn mới tìm về , lưu lại một kỷ niệm với huynh HÙNG SƠN - Chủ trang thegioibuangai.com  )

Xem chi tiết…

TGVH DU LỊCH VỀ NGUỒN . BÀI 1

7/09/2013 |
TGVH DU LỊCH VỀ NGUỒN . BÀI 1


Vừa qua , nhân chuyến Huynh trưởng Hùng Sơn về thăm Hà Nội , chúng tôi có tổ chức một chuyến du lịch mi ni về nguồn . Xuất phát từ Hà Nội , chúng tôi ghé thăm Đền Và , là nơi thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn - Vị thần chủ các vị Thần , là một trong " Tứ bất tử " của nước ta . Đền và cách trung tâm Thành phố Sơn Tây khoảng 2 Km về phía Đông . Đền còn có tên gọi là Đông cung hay Đông Chấn cung , một trong 4 trấn cung thờ thần Núi Tản Viên ( Ba Vì ) . Từ trên cao nhìn xuống , Đền Và nằm tọa trên một quả đồi thấp có dáng một con Quy ( Rùa ) đang bò về phía mặt trời mọc ( Phía Đông ) . Cả khu vực Đền và đươc bao phủ bởi một rừng Lim xanh ngăn ngắt hàng trăm năm tuổi . Xung quanh Đền là những cánh đồng lúa bậc thang xanh rờn được bao bọc bởi hai dòng sông Hồng và sông Tích ngút ngàn phù sa . Trong tâm thức của người Việt , Tản Viên Sơn Thánh luôn là vị Tổ của bách Thân và là Đệ nhất Phúc Thần . Đền và rộng khoảng 2.000 m2 nằm tọa lạc trong khuôn viên khoảng 8.000 m2 . Xung quanh Đền được bao bọc bởi lớp tường đá ong cổ kính rêu phong ,là loại đá thông dụng của khu vực này . Làng cổ Đường lâm ở ngay bên cạnh cũng hầu như được xây dựng bằng loại đá ong này . Khi chúng tôi thăm Đền , như có một ân sủng của TẢN VIÊN SƠN THÁNH , từ trước đến nay , ít người được vào chụp ảnh trong hậu cung , thế mà chỉ cần tấm thẻ hội viên của TT Nghiên cứu văn hóa cổ Đông Phương , ông chủ Đền đã vồn vã mời chúng tôi vào hậu cung , lại còn sai bật máy nổ thắp sáng và ăn mặc chỉnh tề chụp ảnh cùng chúng tôi nơi Hậu cung , trước ngai của ngài TẢN VIÊN SƠN THÁNH .
dienbatn xin giới thiệu một bài viết rất hay của TS. NGUYỄN XUÂN DIỆN về Đền Và . 
" ĐỀN VÀ 

Một cõi u linh


Trong không gian hùng vĩ, thơ mộng với những núi đồi sông suối quanh quất, xinh tươi, đền Và hiện ra như một công trình kiến trúc thâm nghiêm và hòa quyện với rừng lim già tỏa bóng rợp quanh năm. Đền Và, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây là một trong bốn cung thờ Thần Núi Ba Vì - Tản Viên Sơn Thánh, Đệ Nhất Phúc Thần trong Tứ bất tử của tâm thức dân gian Việt Nam, đây cũng là một trong hàng trăm di tích thờ cúng Ngài.
Đền tọa lạc trên một gò đất rộng và thấp hình một con rùa đang duỗi bốn chân và ngóng đầu xuống đầm Vân Mộng hướng về phía mặt trời mọc. Vào những ngày xuân, cả không gian chìm trong màn sương mờ huyền ảo nơi cánh đồng có tên gọi Khói Nhang bao quanh khu đền cổ...
Ngay lối vào đền là tấm bia Hạ mã tự nói lên quy mô và tầm quan trọng của ngôi đền. Xưa, bất kể là vua, quan hay dân thường đều dừng mọi xe kiệu trước tấm bia này để tỏ lòng thành kính với thần Tản Viên. Một con đường sạch sẽ cát mịn dưới bóng mát rừng lim già dẫn vào khu đền chính. Khu vực bên ngoài là giếng nước và điện thờ Cô Chín Thượng Ngàn, người quản cai non ngàn thăm thẳm. Bên cạnh là động Ngũ hổ, có thờ tượng năm ông hổ, năm màu sắc, trấn giữ các phương, biểu tượng của đại ngàn uy nghiêm. Nghi môn trông như một tòa Ngọ môn uy nghi hiện ra trong tán lá cây đại già có đến mấy trăm năm tuổi, dẫn vào cảnh quan bên trong, với gác trống gác chuông kiến trúc xinh xắn, thanh thoát đối xứng nhau qua sân gạch Bát Tràng rộng thênh thênh. Hai dãy tả hữu mạc hai bên và tòa tiền tế ở giữa mái rêu cổ kính. Tòa tiền tế là một toà nhà 5 gian, để thoáng bốn bề, treo la liệt các hoành phi câu đối trải các triều đại đều do các nhà Nho, các danh sĩ soạn ra, mà nét vàng son và ý tứ thâm trầm mãi còn nhắc nhớ đến uy linh của Thần. Kia là bức gỗ khắc bài thơ mà tác giả là Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, anh trai thi hào Nguyễn Du, khi ông làm Trấn thủ Sơn Tây có đến đền tạ ơn Thánh Tản ba lần.

Ông viết: “Chiêm bái chút từng ba độ đến / Trộm nhờ linh đức trấn phương Đoài”. Đây là bức hoành phi bằng đá do Tử An Trần Lê Nhân, ngồi chức Giáo thụ phủ Quốc Oai và Phan Duy Tiếp, Tri phủ Quốc Oai đề mấy chữ: Sơn dữ thiên tề (Núi Tản cao ngang trời). Và cả những bài ký chép lại chuyến leo núi Ba Vì năm 1887 và năm 1902 do Tri huyện Tùng Thiện là Nguyễn Thiện Kế (anh rể thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu) chuẩn bị làm cầu, làm đường phục vụ cho chuyến đi của ngài Công sứ Sơn Tây. Bài văn cho biết con đường lên núi của quan Công sứ được làm trong 20 ngày, dài 1457 trượng và có 32 chỗ phải bắc ván và có 7 cây cầu bắc bằng tre để ngựa xe có thể qua lại.

Xem các hoành phi, câu đối ta thấy có các đại biểu Hoa kiều Hà Nội, các nhà buôn ở Bắc Ninh, đoàn phi cơ Sơn Tây, các quan chức các huyện, tỉnh đã cung tiến vào đền qua các thời gian khác nhau.

Đền Trung là nơi có tượng Tứ trấn, tượng văn võ lưỡng ban, cùng ngựa hồng ngựa bạch. Tất cả những bài trí đều là mô phỏng một triều đình phong kiến để ghi nhớ việc Đức Thánh Tản đã từng được vua Hùng nhường ngôi báu và đã trị vì trong vài tháng. Hơn nữa lối bài trí như vậy còn có ý nghĩa rằng trong hàng trăm đền đài thờ Tản Viên thì chỉ có đền Và là yết cung - nơi Thánh và các quan nghe lời tâu bày, thỉnh nguyện của trăm họ. Từ bao đời nay, đền Và luôn cách huyện lỵ, tỉnh lỵ, trấn lỵ không xa, nên các quan chức đều thường đến đây dâng hương cầu phúc và thưởng ngoạn cảnh đẹp của khu đền. Lại cũng có vị quan chức đến cầu tự ở đền Và và đã được như nguyện. Và vị quan đó đã thuật lại câu chuyện này trên một bảng gỗ còn treo ở đền.

Trong thơm ngát hương hoa lan hoa mộc, và dưới bóng hoa vóc vàng đang đơm nắng, lòng du khách hành hương trầm lắng lại, nghĩ đến uy linh của đức Thánh Tản mà khí thiêng trải mấy nghìn năm vẫn như còn hiển hiện. Lòng du khách lâng lâng như đang được hưởng niềm an vui thích thảng dưới sự chở che muôn đời của Thánh Tản Viên.

Cách đền không xa là xóm Cá Trê, nơi có bầy cá trê bằng đá nằm trấn giữ đầu nguồn nước. Tích truyện kể rằng: Một lần, vào buổi chiều tà, Thánh Tản Viên đi chơi, thấy ở ghềnh đá có ông lão ngồi kéo vó. Ngài bèn mượn vó kéo chơi một lần. Ông lão nói rằng: Tôi ngồi từ sáng còn chưa được con cá nào đây. Ông làm sao mà kéo được cá trong chốc lát thế này! Thánh Tản nói khéo và được ông lão cho mượn. Ai ngờ kéo ngay một lần đã được 100 con cá lớn nhỏ. Ông lão thật vô cùng kinh ngạc. Thánh Tản thấy có con cá trê chửa đang quẫy trong vó, bèn thả ra sông. Ngài chỉ lấy 99 cái đuôi cá để làm bữa chiều, còn thì biếu cho ông lão cả. Con cá trê được thả ra sông, sinh nở xong, đem cả chín con cá con về chầu bên đền đức thánh. Nay vẫn còn di tích cá trê đá bên ngòi nước. Thơ đề biển gỗ đền Và có câu:

Cá nghe quyển ước ngăn dòng suối

Hạc ngóng chày tiên rợp bóng trời

Về sau, tưởng nhớ chuyện kéo cá trên đoạn sông năm xưa của Đức Thánh Tản Viên, vào ngày rằm tháng 9 người dân mở hội đánh cá. Trên khúc sông năm xưa Ngài kéo cá, hàng trăm thanh niên trai tráng đánh cá làm náo động cả một khúc sông quê. Cuối buổi chiều, người ta chọn lấy 100 con cá chép to nhất, chặt lấy khúc đuôi để làm món gỏi cá tế Thánh. Đó là lễ hội mùa thu của vùng Sơn Tây tưởng nhớ Thánh.

Lễ hội mùa xuân còn đông vui hơn, vì có sự tham gia của 8 thôn thuộc 3 huyện của 2 tỉnh Hà Tây và Vĩnh Phúc. Hội xuân là vào rằm tháng giêng, kéo dài trong 4, 5 ngày. Cứ ba năm là chính hội vào các năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu.

Hội kéo dài đến ba bốn ngày, lễ rước Ngai Thánh đi trong đêm vào lúc 2 h sáng. Từ đền Và, đám rước đi qua cầu Cộng, vào thị xã Sơn Tây (tới trước cửa UBND thị xã thường quay kiệu đến vài chục phút), ra bến sông rồi xuống thuyền qua sông Hồng sang địa hạt Vĩnh Phúc, là nơi thờ vọng ngài. Dân hai bên đường bày hương án dâng hương hoa lễ vật cầu phúc. Nhà ai có trẻ con hay ốm vặt hoặc không “hay ăn chóng lớn” thì bế đứa trẻ cho chui qua dưới kiệu để lấy khước. Khi đám rước qua sông, thuyền bè như lá tre tụ về.

Từ thượng lưu, thuyền nan từ Cổ Đô, Ngã Ba Hạc xuôi về; từ hạ lưu thì thuyền từ Bồng Lai, Bá Giang, Vân Cốc, Hát Môn ngược lên. Những người chở đò ăn mặc quần áo lễ hội và chở khách thập phương qua sông đều không lấy tiền. Hàng vài chục chiếc thuyền lớn được cột với nhau và trải tre vầu phẳng phiu để ngự hàng chục chiếc kiệu văn và những người hành lễ. Hàng trăm người chèo thuyền chở ngai Thánh Tản sang sông, có hàng trăm chiếc thuyền nan hộ tống hai bên, còn đoàn rước thì đốt pháo, reo hò, khua chiêng, gõ trống và ca hát làm náo động cả một khúc sông rộng. Tiếng cười nói hân hoan lan toả làm nức lòng hàng vạn người theo hầu Thánh Tản sang sông. Sang đến bờ sông, Thánh Tản vào ngự tại đình Ngự Dội để tắm, cho đến khi hoàng hôn dần buông, đám rước mới lên đường về lại đền Và... Mênh mông đèn đuốc rực sáng trên hàng dặm dài của sông Hồng soi đường cho đám rước. Ra đến giữa sông, hiu hiu gió mát trăng rằm, có khi kiệu Thánh dùng dằng mãi ở giữa sông chưa về. Mọi người lại đợi cho đến khi lá cờ ở đầu kiệu phất về phía bờ nam sông Hồng thì mới cho thuyền vào bờ... Trong mấy ngày hội, nhiều trò chơi dân gian đã được tổ chức làm mê mẩn khách hành hương.

Lễ hội đền Và là một trong các lễ hội to và đông vui nhất xứ Đoài. Đó là một thời điểm hội tụ sức mạnh cộng đồng và gửi gắm khát vọng về hòa bình và no ấm của người dân xứ Đoài trong suốt dọc dài lịch sử.

NGUYỄN XUÂN DIỆN

dienbatn và Hùng Sơn trước cửa Đền Và .


Hình chụp cùng ông thủ Đền nơi hậu cung .


Ngai thờ TẢN VIÊN SƠN THÁNH .


Huynh Hùng Sơn bên ao cá Trê .


Tiếp theo sau đó , xe chúng tôi nhằm hướng Đền Hùng thẳng tiến . 
" Dù ai đi ngược về xuôi ,
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười , tháng ba " 
Để chuẩn bị cho ngày giỗ Tổ năm nay , ban quản lý Đền Hùng đã và đang tập trung hoàn thiện nhiều hạng mục xây dựng . 

NGỌC PHẢ THỜI HÙNG VƯƠNG .



" Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Từ Hà Nội, du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. 

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng - thuộc đất Phong Châu - vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ. 

Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương hay còn có nhiều tên gọi khác nhau: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175 m so với mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam , mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145 m. Ba đỉnh núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theo truyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời. 

Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sót lại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như kim giao, thiên tuế,.. 

Từ chân núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng lần lượt các di tích kiến trúc như: 
1. Cổng đền 
2. Đền Hạ 
3. Nhà bia 
4. Chùa Thiên Quang 
5. Đền Trung 
6. Đền Thượng 
7. Đền Giếng 
8. Đền Tổ Mẫu Âu Cơ 
9. Bảo tàng Hùng Vương 

Cổng đền 


Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần. 

Đền Hạ 


Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng nay vẫn còn ở phía sau đền. 

Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn. 

Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước đây đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945: 

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước 

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” 
Gần Đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là Sơn cảnh thừa long tự, sau đổi là Thiên quang thiền tự. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa. 

Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trước sân chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen. Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa. 

Chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường kết hợp với bẩy lẻ. Các bẩy lẻ hầu như để trơn không chạm trổ gì. Trên gác chuông có treo quả chuông, không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây dạo Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Qua đó có thể đoán quả chuông được đúc thời Hậu Lê. 

Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu) 

Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu - người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày. 

Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa. 

Đền Thượng và Lăng Hùng Vương 

Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. 

Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây). Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV). 

Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay. 
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương). 

Đền Giếng (tên chữ là Ngọc Tỉnh) 

Tương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng muôn đời. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung. 

Cổng Đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính nhưng nhỏ và thấp hơn. Cổng xây theo kiểu kiến trúc 2 tầng 8 mái. Tầng dưới, giữa có một cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghê chầu. Tầng trên giữa cổng có bức đại tự đề: “Trung sơn tiểu thất” (ngôi miếu nhỏ trong núi). Hai bên có đề câu đối và tượng hai võ sỹ. Mặt sau cổng đắp hổ, mỗi con một bên. 

Đền Tổ mẫu Âu Cơ 

Được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12/2004. Đền được xây dựng trên núi ốc Sơn (núi Vặn) theo kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành, dui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói mũi hài, tường bằng gạch bát. Đền chính có diện tích 137m2, làm theo kiểu chữ Đinh. Bên cạnh đền chính có nhà Tả vũ, nhà Hữu vũ, nhà Bia, Trụ biểu, Tứ trụ, cổng Tam quan, nhà tiếp khách và hoa viên. 

Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải Lựu. 

Bảo tàng Hùng Vương 

Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thành đúng ngày khai hội Đền Hùng năm Quý Mùi (2003) do Tổng Bí thư Đỗ Mười cắt băng khánh thành. Với gần 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trong Bảo tàng, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”. 

Phần trưng bày của Bảo tàng Hùng Vương được tập trung vào 3 chủ đề chính: 

- Giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thời đại Hùng Vương tìm được trên đất Phú Thọ và Vĩnh Phúc. 

- Giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức xây dựng khu di tích Đền Hùng của nhân dân cả nước. 

- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của người đứng đầu Nhà nước phong kiến trước đây, của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay đối với Đền Hùng. 

Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt quan trọng đối với người Việt Nam. Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng giống tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam! " 
( Theo : [Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...] ) 
Khi đến nơi , chúng tôi thấy hàng vạn người lũ lượt trảy hội Đền Hùng mặc dù chưa đến ngày giỗ Tổ . Hàng trăm các cụ già quần lĩnh , váy thâm như xưa kia , hàng trăm các cháu học sinh mặc đồng phục cùng chúng tôi leo núi . Khi Huynh Hùng Sơn hỏi một khách hành hương : " Tên núi này là núi gì ? " - Khách trả lời là Núi Nghĩa Lĩnh . dienbatn chỉ vào người Hùng Sơn không nói làm cho Bác Hùng Sơn cứ ngẩn tò te . Thực ra , thâm ý của dienbatn là muốn để huynh Hùng Sơn về thăm Quê Cha - Đất Tổ , và như có một sư trùng hợp , quả núi này cũng mang tên HÙNG SƠN ( Núi của cá Vua Hùng ) . Tên này còn đề ngay trên Văn bia của đền hạ . dienbatn nói đùa rằng : Huynh Hùng Sơn có học Pháp của Đạtlailatma Tây Tạng cũng vẫn phải về học Mật Tông Việt Nam có từ thời các Vua Hùng ( CHỬ ĐỒNG TỬ VÀ TIÊN DUNG ) . Trong tận cùng tâm khảm của mình , dienbatn vẫn tin tưởng rằng : " Một ngày kia , người ta sẽ chứng minh được Phật Giáo Việt Nam xuất hiện trước cả khi Phật giáo Ấn Độ thịnh hành . Và trong thời gian không xa , chúng ta sẽ chứng minh được nền văn Hiến Lạc Việt , bắt nguồn từ một nền khoa học tối cổ và phát triển rực rỡ vào thời các Thế Đại Vương triều Hùng Vương " 

dienbatn và Hùng Sơn trước cổng Đền Hùng .


DIENBATN VÀ MỘT TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI .


GIẾNG CỔ TƯƠNG TRUYỀN QUỐC MẪU ÂU CƠ KHI SINH RA 100 NGƯỜI CON TRAI ĐÃ DÙNG NƯỚC GIẾNG NÀY TẮM CHO CON .



CỘT ĐÁ THỀ ( tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương.) 


LĂNG HÙNG VƯƠNG ĐỜI THỨ 6 - VỊ VUA TRUYỀN NGÔI CHO LANG LIÊU - QUA SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG - BÁNH DÀY .



Xin xem tiếp bài 2.

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *