ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 7.

7/10/2013 |
ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 7.
Bài viết dưới đây đề cập đến vấn đề phong thủy của Hoàng thành Thăng Long, là phần III, trích từ bài viết Một số vấn đề về Hoàng thành Thăng Long qua thư tịch Hán Nôm, gồm 5 phần, của PGS. Trần Nghĩa (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). 
HOÀNG THÀNH THĂNG LONG VÀ VẤN ĐỀ PHONG THỦY
PGS. TRẦN NGHĨA
Việc nhận diện Hoàng thành Thăng Long trên thực địa hiện nay thật không dễ dàng chút nào. Để góp phần tháo gỡ khó khăn, mà trước hết là nhằm xác định cho được vị trí và quy mô của Hoàng thành, chúng ta không thể gạt sang một bên tư duy phong thủy của người xưa.
Như chúng ta biết, “phong thủy” là một môn cảnh quan văn hóa được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng triết học truyền thống Phương Đông như “khí luận”, “âm dương”, “ngũ hành”, “bát quái”, “thiên nhân hợp nhất” v.v... Phong thủy nhấn mạnh sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, mà thực chất là lựa chọn, thiết kế cho con người một môi trường sống và phát triển lý tưởng. Phong thủy không những trực tiếp chi phối việc chọn địa điểm để tạo lập thôn trang, xây dựng phố chợ, làm nhà, cất mộ... mà còn là chỗ dựa cực kỳ quan trọng, có ảnh hưởng tới vận mệnh của đất nước, dân tộc khi chọn nơi làm quốc đô. Quả tình trong phong thủy có hàm chứa một số thành phần mê tín, phi khoa học, nhưng mục tiêu mà nó nhe nhắm, theo đuổi - giành lấy cho con người một môi trường sống và phát triển lý tưởng – thì lại mang tính vĩnh hằng. Điều này giải thích vì sao ngày nay, trong thời buổi khoa học kỹ thuật phát triển, lại có không ít người Phương Tây cũng như Phương Đông chăm chú tìm hiểu, khai thác một số mặt tích cực nào đó trong thuật phong thủy truyền thống để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống trước mắt. Cho nên, để tìm lại vị trí và quy mô của thành Thăng Long trên thực địa ngày nay, phong thủy cũng là một trong các chìa khóa cần được tận dụng.
Lý Thái Tổ cùng các phụ tá của ông sở dĩ chọn vùng đất Hà Nội làm Kinh kỳ, chính là bởi “muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”(Thiên đô chiếu). Mặt khác, đây còn là di chỉ thành Đại La, Kinh đô cũ của Cao Vương, có các ưu điểm nổi bật như “Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện đường sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”(Thơ văn Lý Trần. I, tr.229-230). Trong bài chiếu dời đô nhan nhản những từ ngữ ngành phong thủy: đại trạch, thiên mệnh, dân chí, đắc long bàn hổ cứ chi thế, thổ cao nhi sảng khải v.v. Từ chuỗi tên gọi như Long Uyên là nơi rồng nằm, Long Biên là nơi rồng dậy, đến Thăng Long là nơi rồng bay, nói theo cách nói ngày nay là “rồng cất cánh”, ta thấy người xưa đã gửi gắm vào vùng đất này biết bao kỳ vọng.
Thuật phong thủy chon đất theo hai cấp: vĩ mô và vi mô. Ở cấp vĩ mô, có cách nhìn theo tầm quốc gia và cách nhìn theo tầm khu vực. 
Ở tầm khu vực, ta có thể xem đoạn văn phác thảo về những nếp nhăn lớn trên bề mặt mảng địa cầu Nam Trung Quốc - Bắc Việt Nam sau đây, với con mắt phong thủy: “Đất An Nam nằm về phía Nam Trung Quốc, men theo biển hướng về Đông, hình giống như đai áo, trên rộng, dưới hẹp. Mạch đất khởi phát từ Côn Luân, lấy Hắc Thủy của Vân Nam làm giới tuyến. Khi tới Ngũ Lĩnh, địa mạch tách ra làm ba nhánh đi vào nước ta (...). Nhánh trung tâm đột ngột nhô lên, từ Quảng Tây, Tiểu Côn nhằm hướng Thiếu Tổ băng tới, muôn dặm quanh co, bỗng vươn mình thành dãy Tam Đảo, rồi tỏa rộng ra. Ấy là miền đất Thái Nguyên, Kinh Bắc, tiếp đến là Sơn Nam, Hải Dương. Nhánh bên tả trước hết thu mình lại thành một vùng núi che chắn; ngoằn ngoèo, xoắn xít, rồi cuồn cuộn ruỗi dài đến Khâm Châu, Niệm Châu, khóa trái cửa thành. Chợt một ngọn vút cao tận mây, gọi là “đỉnh sao” chênh vênh, “thành xây” chất ngất. Nào núi Yên Tử, nào đỉnh Khiên Phụ, chạy sang Tây đến núi Cổ Phao và dừng lại ở sông Lục Đầu uốn khúc. Ấy là miền đất Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương. Nhánh bên hữu rẽ qua núi Tháp Thiên của Ai Lao, trùng trùng điệp điệp, thác đổ ầm ầm, nhấp nhô muôn dặm, đến nước Chiêm Thành, trở nên thành quách. Trong nhánh này, các núi Tản Viên, La Tượng xúm xít, nước trăm sông dồn đổ về. Ấy là miền đất Tuyên Quang, Hưng Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam (Lời thuyết minh cho bản đồ Tam chi, trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, An Nam quốc Trung đô tính thập tam thừa tuyên hùynh thế đồ họa).
Ở tầm quốc gia, điều mà thuật phong thủy quan tâm là hình thế sông núi bên trong đất nước đó, bao gồm năm yếu tố: Long (tức là sơn mạch, rặng núi kéo dài. Theo quan niệm phong thủy thì đất là thịt của rồng (núi), đá là xương của rồng, cỏ là lông của rồng); Huyệt (nơi đất tàng phong tụ khí, địa điểm lý tưởng cần chọn); Sa (chỉ những núi nhỏ bên cạnh dãy núi lớn, tức chủ long; hoặc những đồi núi uốn khúc bao quanh các huyệt trường); Thủy (nơi nước tới gọi là phát long (núi), nơi hết nước thì long cũng chấm dứt. Núi (long) và nước thường đi kèm theo nhau); Hướng (điểm huyệt, lập hướng. Huyệt ở đây cũng giống như huyệt trên cơ thể con người, nơi rút được khí đi và thu được khí tới).
Với Hoàng thành Thăng Long, các yếu tố vừa nêu được gói ghém trong đoạn thơ sau đây:
... Tam Giang dẫn hậu mạch
Song Ngư trĩ tiền phong
Tản Lĩnh trấn càn vị
Đảo Sơn án cấn cung
Thiên phong hồi bạch hổ
Vạn phái nhiễu thanh long
Ngọc thế cực trường viễn
Nội khí tối xung dung
Tô Giang nhiễu hậu hữu
Nùng Sơn cư chính trung
Chúng tinh giai củng cực
Vạn phái hợp triều tông...
(... Tam Giang dẫn mạch ở đằng sau
Song Ngư nhô lên ở đằng trước
Tản Viên trấn giữ phía Tây Bắc
Tam Đảo án ngự phía Đông Bắc
Nghìn non quay về hướng Tây
Muôn dòng lượn quanh hướng Đông
Hình thế bên ngoài xa thẳm
Sinh khí bên trong dồi dào
Sông Tô bọc phía sau bên phải
Núi Nùng ở vị trí trung tâm
Các ngôi sao đều chầu ở Bắc cực
Muôn dòng chảy cùng hướng tới biển khơi...)
Còn ở cấp vi mô, điều mà thuật phong thủy quan tâm là bản thân ngôi đất chọn và bố cục không gian bên trong của nó. ở đây có nhiều cạnh khía liên quan tới Âm dương, Ngũ hành, Bát quái cùng mối quan hệ giữa trời, đất, sự sống của con người (Thiên - Địa - Sinh - Nhân). Với Hoàng thành Thăng Long cũng vậy. Có thể nói mỗi một gò đất, một một kiến trúc v.v. bên trong của nó đều xuất phát từ cái nhìn phong thủy. Hãy lấy núi Nùng, một gò đất bên trong Hoàng thành làm thí dụ. Sách Thăng Long cổ tích khảo chép: “Núi ở vào chỗ chính giữa của ngôi thành. Núi không cao mấy, đất đá lẫn lộn. Cao Biền đời Đường gọi núi này là Long Tị, tức cái mũi của con rồng, bèn làm bùa để yểm. Đào vào chỗ này, thấy quả có một lỗ thông khí hình giống như cái hang chuột. Triều Lý xây Chính Điện (điện chính), lấy núi này làm án. Triều Lê xây điện Kính Thiên, lấy núi này làm gối”. Sách Thăng Long cổ tích khảo tính hội đồ chép: “Núi Nùng ở chính giữa Kinh thành, còn có một tên nữa là núi Long Đỗ. Núi hình tròn, đỉnh phẳng, cây cối um tùm tiếp liền với Hồ Tây (...). Lý Thái Tổ định đô ở đây, lấy núi này làm án, dựng Chính Điện ở trên (...). Triều Trần đổi làm hành cung, dựng lầu Vọng Nguyệt đối diện với núi Nùng. Triều Lê là điện Kính Thiên. Triều Nguyễn đặt hành cung, vẫn theo như cũ. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843) đổi làm điện Long Thiên”.
Về Tam Sơn, “cái gối” của Núi Nùng, sách La Thành cổ tích vịnh có lời dẫn: “Núi ở phía bắc Kinh thành, đằng sau núi Nùng, một ngọn vươn cao, đất đá xen lẫn, là nơi gối đầu của núi Nùng. Trên núi có một khóm trúc, tương truyền vua nhà Lý hay đến nơi này, có đề chữ ở một phiến đá nằm chếch trên đầu núi, nay chữ đã mờ hết, không thể đọc được nữa”. Sách Thăng Long cổ tích khảo chép: “Đây là một gò núi đất ở phía bắc Thăng Long. Vào thời cổ, nơi này có hai gò đất nhỏ đối diện với nhau, cách nhau hơn hai trượng. Cao Biền cho đây là râu rồng, bèn đắp thêm một núi đất nữa xen vào giữa hai gò đất trên để cắt đứt long mạch, đặt tên là Tam Sơn”. Sách Thăng Long cổ tích khảo tính hội đồ bổ sung thêm: “Tam Sơn ở bên cạnh cửa Bắc trong thành, nay là núi Đất (...) chu vi đến hơn 30 trượng...”.
Nêu một vài trường hợp như trên để thấy rằng trong việc giải mã vị trí và quy mô Hoàng thành Thăng Long hiện nay, không nên xem nhẹ chiếc chìa khóa phong thủy.
Nguồn: Bài tham luận đã trình bày tại Hội nghị khoa học Tiểu ban 1: Nghiên cứu vị trí, quy hoạch và dấu tích Kiến trúc Hoàng thành Thăng Long, họp tại Viện Khảo cổ học 27-30/7/2004. 
Ý KIẾN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRẬN ĐỒ SÔNG TÔ
VỚI HOÀNG THÀNH THĂNG LONG VÀ CÁC THÀNH KHÁC
GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG (1934-2005)
Bằng những kinh nghiệm ở công trường xây dựng Lăng Bác 1973 và khu vực 42 Trần Phú thì chúng tôi có giả thuyết rằng khi xây dựng Hoàng thành ở khu vực phía Tây đã từng diễn ra những lễ hiến sinh người và hiến sinh các loại động vật khác nhau như trâu bò, lợn, chó, mèo…
Nguồn: Phát biểu tại hội thảo khoa học cuối năm 2001. Báo Bảo vệ Pháp luật cuối tuần, số 16, ngày 21-4-2007. Tr. 20.
Như vậy, đây [khu vực xảy ra vụ sông Tô lịch] là cổng thành phía Tây của La Thành.
Nguồn: Phát biểu tại hội thảo khoa học ngày 22/12/2001. Báo Tiền Phong, số 113, ngày 23-4-2007.
PGS. TS ĐỖ VĂN NINH
Tôi nhất trí với những ý kiến của GS. Trần Quốc Vượng và nói thêm, đây là một trong 6 “ủng môn” còn sót lại duy nhất, khá rõ nét, đáng tin cậy để nghiên cứu về ủng thành khác đã được nhắc và ghi lại trong một số bản đồ cổ. Coi hiện tượng này là một hiện tượng trấn yểm mà bất kỳ công trình xây dựng nào cũng phải có lễ trấn yểm, động thổ đặc biệt là đối với một vị trí quan trọng như cổng phía Tây La Thành.
Nguồn: Phát biểu tại hội thảo khoa học ngày 22//12/2001. Báo Tiền Phong, số 113, ngày 23-4-2007.
GS.TS ĐỖ QUANG HƯNG 
Vì vậy, cũng phải ghi nhận những tình tiết đó [chuyện tâm linh] để xem xét, nghiên cứu, nhất là ở khúc sông Tô Lịch đó có liên quan đến không gian, văn hóa lịch sử Hoàng thành Thăng Long.
Nguồn: Báo Tiền Phong, số 114, ngày 24-4-2007.
THẦY TỨ PHỦ PHẠM VĂN MÃO
Ông Mão tâm sự, từ xưa tới nay ông chưa bao giờ gặp hay tin là có chuyện ma quỷ. Mọi sự chỉ là do phong thủy, địa lý mà thôi. Khi được mời, ông đã đến tận nơi xem. Bằng các phương tiện đo đạc của mình, ông thấy đó là một vùng âm dương hỗn khí (khi đặt la bàn để đo thì la bàn quay tít không xác định được phương hướng). Theo các riêng, ông nhận thấy có một trục xuyên thẳng từ vị trí này đến thành Thăng Long - điểm cản trở dương khí về thành. Đoạn sông này chính là điểm người ta đặt “túi khí” để thực hiện điều đó.
Nguồn: Lời thuật chuyện của PV đăng trên báo Khoa học & Đời sống số 34 (1960), ngày 27-29/4/2007. 
Một vấn đề cuối cùng chúng tôi muốn nhắc đến trong phần này là việc xác định trục chính của Hoàng thành theo theo các loại tư liệu và theo thuật Phong thủy . Đây cũng là một việc kết sức quan trọng của việc đi tìm Hoàng thành THĂNG LONG . Xin giới thiệu phần 3 bài
 TÌM KIẾM NHỮNG VẬT CHUẨN KHI XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ THÀNH THĂNG LONG của BÙI THIẾT 6/2004 . 
Sau khi tìm được một số vật chuẩn ( cả thật lẫn giả ) như vừa nêu vấn đề xác định vị trí Cung thành Thăng Long dường như trở thành một bài toán không mấy phức tạp , có khả năng cho đáp số đúng , nếu có cách giải hợp lý .
Vấn đề là ở chỗ bắt đầu từ đâu ? Theo tôi có mấy bước sau đây :
1/ CHỌN TRỤC CHÍNH TÂM CỦA CUNG THÀNH .
Yếu tố Địa lý hay Thuyết Phong thủy phương Đông có vị trí và vai trò cực kỳ quan trọng trong kiến trúc , dù đó là nhà dân hay các công trình tầm cỡ Quốc gia như cung điện , thành quách .Yếu tố Địa lý có rất nhiều cấu phần ; song quan trọng hơn cả là hướng đất , thế đất , là hai biểu hiện dễ nhìn thấy , không thể bị bỏ qua được . Chọn xây dựng thành Thăng Long quay mặt chính Nam , điều này không phải bàn cãi gì nữa " Lấy vợ đàn bà - làm nhà hướng Nam " như tổng kết của dân gian là một chân lý tuyệt đối . Thế đất xây dựng thành Thăng Long cũng là một điều Lý Thái Tổ chọn lựa một cách cẩn trọng . Trong " CHIẾU DỜI ĐÔ " sau khi trình bày lịch sử dời đô của Vua chúa Trung hoa theo tiêu chuẩn thế và phê phán Vương triều Đinh , và tiền Lê , đặt đô ở vị trí bất lợi cho Vương triều , cho xả tắc và cho Thiên hạ , Lý Thái Tổ viết : " Trẫm xót thương không thể không dời đi nơi khác . Hướng chi đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La , ở giữa Nam , Bắc , Đông ,Tây , tiện hình thế núi sông sau trước , đất rộng mà bằng phẳng , chỗ cao mà sáng sủa , dân cư không khổ vì ngập lụt , muôn vật rất thịnh và phồn vinh , xem khắp nước Việt chỗ ấy là hơn cả . Thực là chỗ hội họp của bốn phương là nơi thượng đô của Kinh sư muôn đời " ( Chúng tôi xin hoan nghênh ý kiến chính xác của bản dịch : " Nơi Thượng Đô của Kinh sư muôn đời " . Thăng Long chính là nơi Kinh Đô bậc nhất của các Đế đô muôn đời - Dịch như vậy mới thoát chữ Thượng đô . dienbatn - Lâm Khang ) 
Cao Biền là một người giỏi về lựa chọn thế đất , và thành Đại La đã hội tụ đầy đủ mọi yêu cầu của một Kinh đô khi phải đặt lên bàn cân đo thế đất . Lý Thái Tổ đã có một tổng kết cô đọng và hàm súc mọi ưu điểm của thế đất sẽ được xây dựng thành Thăng Long .
Nói là chọn thế đất , hướng đất để xây dựng thành Thăng Long là một cách nói ở tầm bao quát , nhưng cấu thành Thăng Long thì cũng phải có chính và phụ , nghĩa là có cấu trúc tòa thành nào là quan trọng nhất ? Nơi xây dựng kiến trúc đó phải thỏa mãn cả hướng đất và thế đất . Đó chính là điện Càn Nguyên , làm nơi Vua coi chầu ; Tòa cung điện này nằm ở chính giữa Cung thành ; Từ vị trí điện Càn Nguyên , các tòa điện khác phải phục tùng theo .
Như vậy , chúng ta chọn được tâm điểm của Cung thành Thăng Long , lấy chuẩn là điện Càn Nguyên . Song tòa điện xây từ năm 1010 này , được xây dựng lại năm 1029 và đổi làm điện Thiên An ( các đời sau cho đến thế kỷ XVIII đều xây dựng tòa chính điện Thăng Long ở vị trí này ? ) . Nhưng các tòa điện liên tục xây dựng trên nền điện càn Nguyên đang là một ẩn số , chưa thể trở thành một vật chuẩn tin cậy được , vì vậy tìm giải pháp nào đây để xác định hướng và thế của nó ? 
Tại Hội thảo khoa học ngày 3/6/2004 , lần đầu tiên tôi cho công bố phương pháp tìm trục chính tâm cho Cung thành Thăng Long ( xem báo Diễn đàn Doanh nghiệp số 43 ngày 2/6/2004 và báo Khoa học và Đời sống số 45 ngày 4/6/2004 ) . [b]Theo phương pháp này , chỉ cấn một hay hai vật chuẩn chính xác , đặt vật chuẩn theo trục Bắc - Nam hay Nam - Bắc , từ các vật chuẩn đó kẻ đường thẳng Nam - Bắc đi qua Cung thành . Những kiến trúc quan trọng sẽ nằm trên trục Nam - Bắc đó và đường trục này là đường trục chính tâm của Cung thành Thăng Long .
Tôi chọn vật chuẩn Quốc Tử Giám ( thay cho vật chuẩn Đoan Môn chưa được xác định ) , từ Quốc Tử Giám ( có số thứ tự 32 ), kẻ một đường thẳng Nam - Bắc qua Cung thành , kết quả thật không ngờ là trên trục Bắc Nam này được bố trí một hệ thống kiến trúc quan trọng nhất của Cung thành Thăng Long từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII , như Đoan Môn ( số 44 ) , diện Thị Triều ( số 43 ) , điện Chí Kính ( số 42 ) ( Vốn là điện Càn Nguyên hay Thiên An , hay Kính Thiên ) , tiếp theo là cửa Huyền Võ và Trấn Võ Quán . Một phép tính ngược lại , lấy khu vực Trấn Võ Quán , kẻ một đường thẳng Bắc - Nam , thì các địa danh vừa dẫn cũng nằm trên trục này , kể cả Quốc Tử Giám . Đây mới là đường chính tâm Nam - Bắc của Cung thành .
Mục đích quan trọng là tìm trục chính của Cung thành nếu lấy chiều rộng Đông - Tây của Quốc Tử Giám là chuẩn , trục chính tâm của Cung thành có chiều rộng chừng 200m , tương ứng với khoảng cách từ đường Hoàng Diệu ở phía Đông đến phố Chu Văn An ở phía Tây ( nay đều thuộc Quận Ba Đình - Hà Nội ) . Trên trục chính tâm này , Đoan Môn nằm kề phía Bắc Quốc Tử Giám ( khoảng Bảo Tàng Mỹ thuật Việt Nam ) , tiếp theo đó là điện Thị Triều ( số 43 ) ( khoảng đường Trần Phú đến quá ngã tư Hoàng Diệu - Điện Biên Phủ ) , tiếp theo cho đến đường Bắc Sơn là điện Chí Kính .( số 42 ) .
Vì sao lại xác định đây là trục chính tâm của Cung thành Thăng Long ? Theo thuyết Phong thủy , các kiến trúc đều phải đặt trong thế đất an toàn , trước có cái để che chắn , sau có cái để đỡ dựa mà dân gian quen gọi là Tiền Án - Hậu Chẩm . Xét thế đất TRỤC TRUNG TÂM NÀY , phía Nam có gò đất cao rộng nằm trong hồ Chu Tước , gò đất này đến năm 1076 xây Quốc Tử Giám . Rõ ràng đây là một nơi đủ tư cách Tiền Án cho Cung thành , không thể đột nhập vào Cung thành theo đường thẳng ngoài Đoan Môn ( sự đột nhập này mang tính tượng trưng , kể cả người , vật , Thần linh , Ma quái ...) . Phía Bắc cửa Diệu Đức là Trấn Võ Quán , nơi này cũng đủ tư cách là Hậu Chẩm cho Cung thành . Rõ ràng cái thế " Rồng cuộn - Hổ ngồi " như trong Chiếu dời Đô của Lý Thái Tổ được thể hiện một cách cụ thể rõ ràng ở hai phía Nam - Bắc của trục chính tâm .
Tôi không tin có bình phẩm gì về trục của thành Hà Nội thế kỷ XIX , khi lấy Cột cờ - Đoan Môn - Chính điện - Bắc Môn , Hậu Lâu làm chuẩn , nó chỉ là tâm của thành Hà Nội mà thôi , còn sang ngược lên cho Thăng Long trước thế kỷ XIX thì rõ ràng thiếu những tiêu chí cần thiết như Tiền Án ở đâu và nơi nào là Hậu Chẩm ? Đó là chưa tính đến chuyện Cung thành Thăng Long trước thế kỷ XIX bé hơn thành hà Nội đoạn Nam - Bắc là cầm chắc .
BẢN ĐỒ MINH HOẠ TRỤC CHÍNH TÂM -THEO BÙI THIẾT - dienbatn thực hiện .

PHẦN4.
 VIỆN DẪN THƯ TỊCH CỔ . 
Bài viết dưới đây đề cập đến vấn đề phong thủy của Hoàng thành Thăng Long, là phần IV, trích từ bài viết Một số vấn đề về Hoàng thành Thăng Long qua thư tịch Hán Nôm, gồm 5 phần, của PGS. Trần Nghĩa (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). 
MỘT SỐ ĐIỂM MỐC GIÚP ĐỊNH VỊ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
PGS. TRẦN NGHĨA 
Để nhận diện Hoàng thành Thăng Long trên thực địa hôm nay, ngoài việc khai thác tư duy phong thủy như đã nói, ta còn có thể dựa vào một số cái mốc, chủ yếu là các danh tích bên trong cũng như bên ngoài Hoàng thành. Ở phương diện này, thư tịch cổ cung cấp cho ta khá nhiều thông tin quan trọng. 
Thuộc nội thành, ngoài núi Nùng và gò Tam Sơn đã đề cập, còn có thể kể: Ngũ Lâu Môn, Ngọc Long Trì, Kỳ Đài, chùa Liên Hồ, núi Khán, v.v... mà vị trí cùng lai lịch của chúng từng được ghi chép trong nhiều sách cổ.
Về Ngũ Lâu Môn, sách Thăng Long cổ tích khảo tính hội đồ chép: "Ngũ Lâu Môn ở mặt trước ngôi điện trên núi Nùng, được xây vào triều Lý. Biển đề là Đoan Môn. Theo chuyện cũ đời Trần đời Lê, các cuộc thi Đình tổ chức trước thềm rồng. Sáng sớm ngày yết bảng, mở cửa Ngũ Môn. Trạng nguyên được theo cửa giữa vào ra mắt vua. Bảng nhãn, Thám hoa thì vào bằng cửa thứ hai bên trái. Hoàng giáp vào cửa thứ ba bên trái. Tiến sĩ vào cửa thứ ba bên phải. Nếu không có ai đỗ Tam khôi thì không mở cửa Ngũ Môn. Đến đầu thời Gia Long, cất thêm một tầng lầu trên cửa Ngũ Môn...” (Ngũ Lâu Môn). Sách Thăng Long tam thập vịnh giới thiệu về Ngũ Môn còn cụ thể hơn: “Theo sử chép: Lý Thái Tổ vào năm Thuận Thiên 1 (1010), đóng đô ở thành Thăng Long lập ra các cung điện trong Hoàng thành, lấy núi Nùng làm chính giữa, xây Cấm Điện, Tiền Điện; dùng gạch đá xây năm cửa ống, trên khắc hai chữ Đoan Môn. Bên ngòai Đoan Môn, lại xây các cửa Tam Phượng, Đông Hoa, Tường Phù, Diệu Đức, Đại Hưng, cũng đều cao to như thế. Trải qua các triều Trần, Lê, hai cửa Tường Phù, Diệu Đức đã sớm hư hỏng, cho nên nay không thể khảo cứu được. Riêng các cửa Đoan Môn, Tam Phượng, Đông Hoa thì hiện vẫn còn đó. Nay dư đồ về một mối, năm Quý Hợi (1803) trùng tu ngôi thành, phá bỏ các cửa Tam Phượng, Đông Hoa, Đại Hưng, làm năm cửa thành, quy mô đẹp đẽ.Cửa Đoan Môn thì vẫn để như cũ, dùng làm nơi triều bái vọng cung.
Nùng Sơn long tích lạc bình nguyên,
Cố Lý cung tiền ngũ úng môn.
Đoan lập sâm sam châu khuyết tủng,
Động khai xúc xúc ngọc đài tôn.
Thiên niên thành quách phù vân khứ,
Bát diệp căn cơ phiến thạch tồn.
Môn ngoại Ngũ Môn kim đối trĩ,
Thử gian tỏa thược tráng Hoàng phiên.
(Núi Nùng như lưng rồng nằm trên cánh đồng,
Năm cửa ống ở mặt tiền cung điện xưa nhà Lý.
Cung châu chi chít, sừng sững, trang nghiêm,
Đài ngọc tua tủa, uy nghi, thông thoáng.
Thành quách nghìn năm nay đã qua đi như mây nổi,
Cơ đồ tám đời họ Lý giờ chỉ còn lại những mẩu đá.
Đối mặt với Ngũ Môn, hiện còn năm cửa thành mới,
Nơi đây đã then khóa, giữ vững bờ cõi của nhà vua).
(Ngũ Môn cận nhật).
Riêng về các cửa Đoan Môn, Đại Hưng, Đông Hoa, sách Công dư tiệp ký chép: “Vũ Hữu người Mộ Trạch, là cháu tằng tôn của Nghiêu Tá. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1463, làm lượt làm Thượng thư năm Bộ. Rất giỏi toán”. Bấy giờ các cửa Đoan Môn, Đại Hưng, Đông Hoa ở trong thành xây từ đời Lý, lâu ngày đổ nát. Vua Thánh Tông sai chữa lại. Ông (chỉ Vũ Hữu – TN) đo chiều cao và chiều rộng các cửa và tính số gạch đem trình vua. Vua sai thợ y số làm gạch và đem xây cửa thì vừa đủ, không sai một tấc. Vua thưởng cho ông 100 mẫu ruộng để biểu dương” (Thượng thư Vũ Hữu ký. Phụ Vũ Dự).
Về điện Kính Thiên, điện Cần Chính, viện Đãi Lâu trong Hoàng thành, sách Tang thương ngẫu lục chép: “Bấy giờ (chỉ năm ất Tị, 1785, đời vua Lê Hiển Tông – TN), việc chầu trong triều đường bỏ bễ từ lâu; nền điện cũ ở núi Nùng bỏ làm điện Kính Thiên, thờ Hiệu Thiên Thượng Đế (giời), Hậu Thổ Địa Kỳ (đất) và phụ phối Đức Thái Tổ Hoàng Đế. Những ngày mồng một và rằm, vua ra coi chầu ở điện Cần Chính. Viện Đãi Lâu ở hai bên điện ấy nối nhau sụp đổ, cỏ mọc lên thềm ngập đến đầu gối, phân ngựa vấy ra bừa bãi. Bấy giờ mới sai viên Đề lĩnh đốc suất bọn vệ sĩ dọn thềm son, chưa viện Đãi Lâu” (Hiển Tông Hoàng Đế. Xem Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập II, Nxb. Thế giới, 1997, tr. 144).
Khán Sơn, một địa điểm thuộc nội hay ngoại thành, hiện đang còn có ý kiến. Sách La Thành cổ tích vịnh chép: “Khán Sơn là một núi đất tại phía Tây Bắc Kinh thành. Lê Đại Hành dựng am Phật trên núi, lợp ngói bằng bạc. Lý Thánh Tông (1054-1072) đi đánh Chiêm Thành, khi ngang qua một hòn núi nọ, thấy có tảng đá hoa nằm ngang trên đỉnh núi, gõ vào thấy phát ra tiếng kêu, liền sai quân sĩ chở về, cho thợ đẽo thành chiếc bảo khánh tiếng vàng. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) thường đến chơi đây. Khoảng năm Dương Đức (1672-1673) am Phật bị phá đi để xây ngự tọa. Trên ngự tọa có bảo tượng vua Lê Thánh Tông. Về sau cung điện hoang tàn, dân địa phương chuyển tượng về thờ ở chùa Dục Khánh.
Lĩnh thượng thiền am cảnh vật u,
Đài đầu dao ức cựu thần du.
Cố cung bảo tượng kim hà tại?
Thử nhật đăng lâm dịch đắc sầu.
(Chùa Bụt đầu non cảnh thanh u,
Ngước nhìn trạnh nhớ cuộc thần cu.
Cung xưa tượng cũ rày đâu tá?
Du ngoạn đang vui bỗng chuyển sầu!).
(Vịnh Khán Sơn).
Sách Thăng Long cổ tích khảo chép: “Khán Sơn là một quả núi đất trong thành nội, nằm ở phía bắc Hoàng cung. Thời xưa có một ngôi chùa Phật trên núi đất, trong chùa có một chiếc khánh, vỗ vào nghe như tiếng chuông, đây là nơi vua Lê Thánh Tôn du ngoại” (Khán Sơn). Sách Thăng Long cổ tích khảo tính hội đồ khi khảo về núi Khán, cũng viết gần như vậy. Riêng vị trí Khán Sơn, sách chép: “Núi Khán nằm lệch ở phía Tây Bắc trong tỉnh thành” (Khán Sơn tại tỉnh thành nội Tây Bắc thiên) (Khán Sơn).
Thuộc ngoại thành, cũng có những cái mốc khả dĩ giúp ta xác định ranh giới của ngôi Hoàng thành đời Lý: Thăng Long tứ trấn, núi Thái Hòa, sông Tô Lịch, hồ Tú Uyên, hồ Tả Vọng, hồ Tảo Liên, hồ Thiền Quang, đàn Nam Giao, lầu Vọng Tiên, đình Quảng Văn, miếu Lạc Long Quân, miếu Lý Ông Trọng, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Võ Miếu, quán Đồng Thiên, quán Huyền Thiên, đền Bạch Mã, đền Uy Linh Lang, chùa Một Cột, nền cũ nhà Lý Tiến, nền cũ nhà Lý Thường Kiệt v.v.
Về sông Tô Lịch, sách An Nam chí lược chép: “Sông chảy quanh La Thành, trên sông có năm cái cầu, đều rất đẹp. Năm Bính Tí (1276) niên hiệu Chí Nguyên, nhà Tống mất, Tăng Uyên Tử trốn sang An Nam, đi dạo trên cầu sông Tô Lịch, có làm bài thơ như sau:
Bạch đầu Tô lang thiên nhất nhai,
Vũ hoàng tiên khứ, nhạn Nam lai.
Lịch giang kiều thượng vọng thiên Bắc,
Kim kiến thu phong đệ kỷ hồi.
(Đầu bạc chàng Tô một bên trời,
Theo tiên vua Võ, nhạn về Nam.
Trên cầu Tô Lịch trông sang Bắc,
Nay thấy gió thu đã mấy hồi).
(Tô Lịch Giang)”.
Về hồ Hoàn Kiếm, sách La Thành cổ tích vịnh có lời dẫn: “Hồ ở bên trong La Thành. Nửa hồ phía Nam có gò đất nằm chếch gọi là hồ Hữu Vọng. Nửa hồ phía Bắc có gò đất tròn nhô lên, gọi là hồ Tả Vọng. Gò cây lưa thưa, nước hồ xanh biếc. Thời cổ, đây là vùng chảy của sông Nhị, giữa sông và hồ có ngòi nước ăn thông. Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) từng dựng hành cung ở phía Nam hồ để làm chỗ hóng mát. Lại sai mở ngòi nước rộng thêm hơn năm trượng để đưa thuyền ngự tới. Đến triều nhà Trần, khi quân Nguyên vào cướp, vua sai làm thuyền chiến để luyện tập thủy quân tại đây, gọi là đầm Thủy Quân. Hồi bấy giờ cứ mỗi lần nước sông lên to, đường đi trong thành đều bị ngập, bèn sai bịt kín ngòi nước. Sang đời Thái Tổ Cao Hoàng Đế nhà Lê, vua từng để rơi chiếc kiếm thần tại đây, nên gọi là hồ Hoàn Kiếm. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) xây một đài câu ở phía Bắc hồ, mua mấy chục con cá hóa rồng, khoét một lỗ nhỏ trên đuôi cá và đeo vào một chiếc vòng bằng vàng rồi thả xuống hồ, gọi là cá vàng. Hàng tháng, cứ đến độ rằm, tụ họp trăm quan nơi đài câu để vui chơi ăn uống. Tiệc tùng xong, vua cùng trăm quan thả mồi câu cá, ai câu được cá vàng sẽ có giải. Quanh bờ hồ chật ních người xem, coi đây như một trò chơi thú vị giữa chốn đô thành.
Tam xích thần phong khởi tự lam,
Vọng Hồ nhất chỉ bảo quy hàm.
Kiếm quang dĩ cộng kim quang thệ,
Thời kiến kim ngư ký bích đàm.
(Ba thước gươm thần nức kiếm danh,
Vọng Hồ gươm báu trả rùa thiêng.
Ánh vàng, ánh kiếm nay mờ dấu,
Chỉ thấy cá vàng cợt sóng xanh).
(Vịnh Tả Vọng Hồ)”.
Về hồ Tảo Liên, sách La Thành cổ tích vịnh chép: “Hồ tại phía Nam Kinh thành, thuộc địa phận phường Bích Câu, rộng chừng một mẫu. Giữa hồ nhô lên một gò đất rộng khoảng vài trượng. Sóng gợn lăn tăn, nước trong leo lẻo. Trên hồ thả sen, hoa màu trắng, đài hoa màu đỏ, hoa chỉ có tám cánh. Hoa nở sớm, hè chưa đến mà hương sen ngào ngạt cho nên đặt tên hồ là Tảo Liên. Dạo thuyền chơi dưới trăng, gió thơm bát ngát, cảnh hồ thấp thoáng tựa chốn Đào Nguyên. Khi Lý Thái Tổ (1010-1028) được nước, đêm nằm mơ thấy Phật Quan Âm gọi vua lên tòa sen, bẻ tám cánh hoa sen trắng trao cho. Lúc tỉnh dậy, vua đem những điều trong mộng kể lại cho quần thần và đám tăng quan đô sát cùng nghe. Quan tăng tâu rằng tại phường Bích Câu ở cửa phía Nam Kinh thành có một cái hồ tên là Tảo Liên, thường sinh ra thứ sen như vua vừa nói. Vua sai đi lấy, thì đang nhằm dịp sen nở. Hoa mang tới điện tiền, vua thấy đúng như trong mộng, bèn cho dựng chùa trên gò đất giữa hồ đặt tên là hồ Đắc Quốc, lại còn một tên nữa là chùa An Quốc, thờ Phật Quan Âm, sai tăng quan trông coi. Mặt hồ bốn bên đều có lâu thuyền chầu hầu. Hàng năm cứ đến độ hoa sen chớm nở, tăng quan tâu lên. Từ rạng sáng, vua cùng trăm quan xa giá tới bên hồ, xuống lâu thuyền ngắt vài đóa hoa sen trắng đặt trước chùa vái tạ, rồi vào trong chùa nghỉ ngơi, sau đó ban thưởng cho trăm quan. Con trai, con gái Kinh thành đến xem chật bờ hồ, thật là cảnh vui hiếm có. Đến khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Thái Tông (1225-1258), hoa sen trắng liền hóa sen hồng, nhà Lý truyền ngôi tới đây vừa được tám đời, quả đúng như trong mộng.
Hồ trung biệt chiếm nhất Bồng Lai,
Thủy điện liên hoa tối tảo khai.
Tận thị danh châu đa vượng khí,
Cố giao phương thảo độc lưu hình.
(Bồng Lai riêng chiếm chốn này đây,
Sen sớm mặt hồ ngát hương bay.
Chính bởi Kinh thành giàu vượng khí,
Đến loài hoa cỏ cũng thơm lây).
(Vịnh Tảo Liên Hồ)”.
Về lầu Vọng Tiên, sách Thăng Long cổ tích khảo tính hội đồ cho biết: “Ngôi lầu này cách cửa Đại Hưng chừng 100 trượng (tức khoảng 330m) về mặt tiền. Lầu dựng ở giữa đường, lối đi rẽ sang hai bên (...). Khi Gia Long cho xây Bắc Thành, mới triệt bỏ cửa Đại Hưng và lầu này. Nay nền cũ ở cách cửa Đông Nam 20 trượng (tức khoảng 66m) về phía trong (thị Đông Nam Môn nội nhị thập trượng). Nền cũ lầu Vọng Tiên nay ở chỗ thành mang cá trước cửa Đông Nam).
Về Võ Miếu, sách La Thành cổ tích vịnh chép: “Miếu tại phía Nam Kinh thành, mặt tiền nhìn xuống sông Tô Lịch, mặt hậu gối lên một mô đất. Miếu được xây dựng vào năm Chính Hòa 4 (1683) đời vua Lê Hy Tông, thờ Vũ Thành Vương, mười vị hiền triết thời cổ. Các danh tường triều trước cũng được tòng tự tại đây. Tương truyền Lê Thái Tổ sau khi dẹp được giặc Minh, đã đánh rơi chiếc gươm thần xuống hồ Tả Vọng; thôn dân quanh hồ ban đêm thường thấy bóng gươm ánh lên ở giữa hồ. Sau khi dựng Võ Miếu, vào một đêm sao lờ mờ, thấy có vị thần mình khoác nhung phục, lưng đeo bảo kiếm, đi tới đâu gươm sáng lòa tới đó, mọi người nhìn rất rõ. Khi vào đến miếu thì biến mất. Dân địa phương đem việc ấy tâu lên, bèn xây đài Vọng Kiếm ở trước miếu để thờ.
Miếu vũ lâm giang tịch chiếu hồng,
Vọng Đài ẩn ẩn kiếm quang xung.
Lý Trần khuyết điện kim y thủy,
Nhưng liệt trường lưu tự cái trung.
(Trước miếu sông trôi bóng chiều hồng,
Vọng đài thấp thoáng ánh gươm xông.
Lý Trần để khuyết, nay lại dựng,
Tự điển lưu danh bậc võ công).
(Vịnh Võ Miếu)”
Về đền Linh Lang Đại vương, sách Thăng Long cổ tích khảo chép: “Đền tại phường Yên Hoa huyện Vĩnh Thuận, bắc giáp hồ Trúc Bạch, nam kề sông Nhị, đông tây dựa vào La Thành, thờ phụng thủy thần hiệu Linh Lang Đại Vương. Vương là Tào thuộc của Thủy Vương. Xưa, Thủy Vương cùng sơn thần Tản Viên Đại Vương có mối hận về việc tranh hôn, nên hàng năm Thủy Vương sai Linh Lang Vương dâng nước lên để đánh nhau với Tản Viên sơn thần, thường gây nạn vỡ đê vào quãng tháng năm, tháng sáu, tháng bảy. Vào năm Vĩnh Thịnh triều Lê, đê của các phường Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ đều sắp vỡ, quan quân không làm sao bảo vệ đê được, Kinh thành náo động. Khi vào đền khấn cầu, nước tự nhiên rút hết, tòan vùng thoát khỏi thủy tai. Vua bèn cho trùng tu miếu mạo, sắc phong thần làm Hộ đê Đại Vương và cấp cho phường sở tại hai mẫu ruộng để cúng tế vào mùa xuân, mùa thu; xã quan mỗi tháng nhận ở công khố 6 mạch tiền cổ để phụng sự hương đèn. Hàng năm, khi nước sông lên to, vào đền cầu khấn đều có linh nghiệm, năm nào cũng thế (Linh Lang Đại Vương từ)”.
Về chùa Một Cột, sách La Thành cổ tích vịnh có lời dẫn: “Chùa ở thôn Một Cột, huyện Vĩnh Thuận. Thời cổ, đây còn là vùng đất bỏ hoang, chưa có thôn xóm. Khi Cao Biền nhà Đường sang làm An Nam Đô Hộ, cho rằng nơi này long bối (lưng rồng) đi qua, sai xây một cột đồng để cắt đứt long mạch. Sau đó dân chúng đến ở, gọi là thôn Một Cột. Thời Lý Thánh Tông (1054-1072), vua tuổi đã cao mà chưa có con nối nghiệp, đêm nằm mơ thấy mình đến thôn Một Cột, có vị Quan Âm Bồ Tát bảo rằng: “Đất này thiêng lắm, hiềm vì cây cột đồng làm tổn thương long bối đã lâu, cần phá bỏ ngay đi, vận nước may ra còn có thể kéo dài thêm mấy triều đại nữa. Bằng không, vậy là hết”. Nói xong, mời vua lên đài vàng, bế Tiên Đồng trao cho. Tỉnh mộng, vua sai làm chùa ở mé Tây thôn để thờ Quan Âm Bồ Tát, đổi niên hiệu là Diên Hựu, đặt tên chùa là Diên Hựu, phá bỏ cột đồng, lấy lá bùa yểm ở dưới lên. Năm sau, vua liền sinh Hoàng tử.
Thành lý hoa thôn, thôn lý tự,
Lý triều Diên Hựu thủy kinh dinh.
Cung trung doãn hiệp hùng bi mộng,
Bồ Tát Quan Âm quả hữu linh.
(Chùa thôn ở giữa đất Kinh thành,
Diên Hựu khởi đầu việc kinh dinh.
Giấc mộng hùn bi điềm quý tử,
Quan Âm Bồ Tát thiệt là linh).
(Vinh Nhất Trụ tự).
Sách Thăng Long cổ tích khảo có đoạn chép về chùa Một Cột như sau: “Chùa ở phường Nhất Trụ thuộc huyện Vĩnh Thuận phía Tây thành, do vua Thánh Tôn triều Lý dựng. Trước đó, chùa chỉ có ba gian nhà cỏ, thờ Quan Âm Bồ Tát. Sau vì gió to chùa đổ, nhà cửa không biết bay đi đâu, chỉ còn trơ lại một cái nền. Sư chùa đem việc đó tâu lên. Vua sai sửa lại chùa. Đêm hôm ấy nhà sư mộng thấy thổ thần đến bảo: Nơi này là chỗ lưng rồng đi qua, nên chỗ nền cũ không thể dựng chùa mà phải dựng một cột lớn bên cạnh chùa, dùng bùa để yểm, rồi hãy xây chùa lên trên đầu cột, hình giống như đài sen, mới có thể yên tâm. Nhà sư bèn đem những điều thấy trong mộng tâu lên, vua cho làm y như lời tâu, chọn ngày hưng công. Chùa làm xong, vua tới chùa thắp hương và đặt tên là chùa Một Cột (Nhất Trụ tự)”. Thăng Long tam thập vịnh cũng có những dòng ghi ghép về ngôi chùa này: “Chùa Một Cột ở phía Tây Kinh thành. Chùa có ba gian tiền đường, một gian điện, phía sau có cái ao rộng khoảng một sào, nước sâu hai ba thước, ở giữa dựng một cột đá cao hơn mười thước (khoảng 3,3m), lớn hai sải tay, trên có một cái gác nhỏ, rộng khoảng sáu bảy thước. ở giữa thờ Phật, bên ngoài bắc cầu gỗ, có thang gỗ để lên gồm 9 bậc... (Nhất Trụ thê hà)” v.v.
Phần lớn những cái mốc như thế đều được ghi rõ phương hướng và khoảng cách của nó đối với Hoàng thành mà ta có thể tham khảo để xác định tọa lạc ngôi thành cổ.
Nguồn: Bài tham luận đã trình bày tại Hội nghị khoa học Tiểu ban 1: Nghiên cứu vị trí, quy hoạch và dấu tích Kiến trúc Hoàng thành Thăng Long, họp tại Viện Khảo cổ học 27-30/7/2004.

Chiều nay , 23/5/2007 , dienbatn và Lâm Khang đã có một cuộc tiếp xúc với Nhà Sử học BÙI THIẾT . Cảm nhận của chúng tôi thấy đây là một con người có đầy đủ dũng khí và hết lòng vì công việc . Hiện tại , trong căn nhà chưa tới 20 m2 tại phố LÝ THƯỢNG KIỆT của ông , ngổn ngang những sách và tư liệu của một đời nghiên cứu . Ông tặng cho chúng tôi một bản sao tập CÓ MỘT HỆ THỐNG CÁC BẢN ĐỒ THĂNG LONG THỜI LÊ ( Thế kỷ XV - XVIII ) . Nay xin tặng lại các bạn . ( dienbatn và Lâm Khang ) .
HÌNH dienbatn với NSH BÙI THIẾT .


1/ BẢN ĐỒ 1 KÝ HIỆU A.2531 .

2/ BẢN ĐỒ 2 KÝ HIỆU VHt.41

3/ BẢN ĐỒ 3 KÝ HIỆU A.3034

4/ BẢN ĐỒ 4 KÝ HIỆU A.2499

5/ BẢN ĐỒ 5 KÝ HIỆU A.1081

6/ BẢN ĐỒ 6 KÝ HIỆU A.73

7/ BẢN ĐỒ 7 KÝ HIỆU VHt.30- A.2716

8/ BẢN ĐỒ 8 KÝ HIỆU A.2006

9/ BẢN ĐỒ 9 KÝ HIỆU A.581

CÓ MỘT HỆ THỐNG CÁC BẢN ĐỒ THĂNG LONG THỜI LÊ
(THẾ KỶ XV - XVIII)
BÙI THIẾT
Việc tìm kiếm, nghiên cứu, nhận biết để có thể chỉ định được một cách tương đối chính xác vị trí của thành Thăng long các thời Lý - Trần - Lê (thế kỷ X - XVIII) - vốn ở trung tâm thủ đô Hà Nội hiện nay, không những là trách nhiệm vô cùng khó khăn và quang vinh của các giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa …, mà đó còn là nguyện vọng, là yêu cầu của nhân dân Hà Nội.
Trong gần 30 năm qua, kể từ ngày giải phóng Hà Nội (năm 1954) cho đến nay, công việc sưu tầm tư liệu, tìm tòi để chỉ định vị của tòa thành Thăng long được triển khai trên mọi phương diện với kết quả ngày một khả quan. Bước đầu các giới nghiên cứu, ở góc độ của mình đã lên đwocj sa bàn một vài mô hình vị trí của tòa thành Thăng Long ấy, song đó cũng chỉ là những công việc thử làm, là những phác thảo. Thật ra giới nghiên cứu chưa thể chọn được mô hình nào trong đó ; nhiều ý kiến còn tranh cãi, nhiều khi còn trái ngược nhau. Công việc thật vô cùng khó khăn, bởi vì chúng ta thiếu quá nhiều tư liệu cả về văn bản và cả trên thực địa.
Để góp phần làm sáng tỏ thêm vị trí tòa thành Thăng Long các thời Lý - Trần - Lê, việc tìm kiếm các nguồn tư liệu có liên quan có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và quyết định. Trong các nguồn tư liệu đó thì việc có được những bức họa đồ của tòa thành các thời, thật là điều chúng ta hằng chờ mong. Ấy thế mà trước đây, ngay từ năm 1960 khi Biệt Lam Trần Huy Bá công bố bức họa đồ thành Thăng Long đời Hồng Đức trong sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội, vẫn chưa được sự chú ý của các giới nghiên cứu, vả chăng vì chưa tin vào sự chính xác của văn bản hoặc vì chưa quen với lối vẽ thiếu tỉ lệ của người xưa? Hoặc vì chỉ có một bản, là “ngụy thư”? 
Gần đây khi soát lại các sác đ ịa ký hòa - lịch sử nước nhà trong kho sách Hán Nôm ở Viện Thông tin khoa học xã hội, chúng tôi đã phát hiện thấy khá nhiều bàn đồ thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) , theo sự khảo sát bước đầu của chúng tôi thì có cả bản đồ Thăng Long thời Lê Sơ (tức là bản đồ Thăng long được vẽ vào các năm 1469 và 1490, nhất là bản đồ vẽ vào năm 1490) và bản đồ Thăng Long cuối thời Lê (tức là bản đồ Thăng Long năm 1490). Điều đặc biệt lí thú là có đến 9 bản đồ Thăng long thời Lê là bản đồ Hồng Đức như vẫn quen gọi xưa nay. Đây là vốn tư liệu quý giúp ta có thêm các cứ liệu để có thể chỉ định được vị trí thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) một cách tương đối chính xác: đây là nguồn tư liệu mà chúng ta có thể tin cậy được, dùng để đối chiếu với các ghi chép về thành Thăng Long thời Lê và thủ định điểm trên thực địa hiện nay, để tìm vị trí của tòa thành. Tất nhiên các tấm bản đồ ấy còn cung cấp cho chúng ta nhiều dòng tin chắc có liên quan đến thành Thăng Long thời ấy, không chỉ về mặt vị trí tòa thành.
Để thống nhất với nhau về tên gọi những bản đồ vừa mới tìm thấy, chúng tôi thấy rằng nên dùng khái niệm bản đồ thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) để chỉ cả chín bản đồ ấy là thích hợp nhất. Chúng tôi gọi bốn bản đồ (a, b, c, d) là bản đồ Thăng Long thời Lê Hồng Đức, gọi như vậy sợ khiên cưỡng, gò ép, tuy rằng phần nào đó có chững cứ và có thể chấp nhận được. Song một công việc phân loại sắp xếp các bản đồ trên, bản đồ nào thuộc đời Hồng Đức và bản đồ nào sau Hồng Đức, đòi hỏi nhiều công phu hơn, nhất là phải có đầy đủ lý do văn bản học của xuất xứ tài liệu, và kiểm tra xác định một cách kỹ lưỡng những dẫn liệu trên từng bản đồ. Chúng tôi đang hướng tới cố gắng để sắp xếp thế hệ của các bản đồ thời Lê. Mục đích của việc giới thiệu những bản đồ này là để có chứng cứ cho việc chỉnh định vị trí thành Thăng Long trước thế kỷ XIX, cho nên chưa cần thiết và cũng chưa thể làm được công việc tỉ mỉ khoa học ấy. Do đó dùng khải niệm Bản đồ thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) có nội dung bao quát và phạm vi rộng, tiện cho việc giới thiệu và theo dõi nó.
Xác định như vậy, trước khi đi vào giới thiệu năm tấm bản đồ mới tìm thấy, chúng tôi xin được giới thiệu qua về xuất xứ của cả chín bản đồ Thăng Long thời Lê (tuy bốn bản đồ trước đã được nói qua đến xuất xứ). Không có ý định giới thiệu văn bản học, nhưng ở mức độ cho phép chúng tôi xin được nói đến một số yếu tố văn bản để bạn đọc hình dung được, hiểu được những bản đồ công bố ở đây.

1. Bản a: ở các tờ 2b-3a trong sách An Nam quốc Trung Đô tính thập tam thừa tuyên hình thắng đồ họa, Ký hiệu A2531. Bản đồ có tên là Trung Đô đồ, sách viết tay, rách nát nhiều, cỡ 10 x 12 cm. Có khả năng đây là bản đồ Thăng Long thời Lê Hồng Đức (?).
2. Bản b: Ở các tờ 4b-5a, trong sách Hồng Đức bản đồ, Ký hiệu VHt. 41. Bản đồ có tên là Trung Đô nhất phủ nhị huyện hình thắng chi đồ (gọi tắt là Trung Đô chi đồ) [Còn được sao chép lại một bản khác ký hiệu VHd.1]. Bản này được giữ tại một gia đình ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Nghệ Tĩnh). Năm 1960 gia đình này giao cho cụ Lê Thước, năm 1965 cụ Lê Thước tặng cho Thư viện Khoa học Trung ương. Sách chép tay, cỡ 24 x 35 cm.
3. Bản c: Ở các tờ 4b-5a, trong sách An Nam hình thắng đồ, ký hiệu A.3034. Bản đồ có tên là Trung Đô nhất phủ nhị huyện hình thắng chi đồ (gọi tắt là Trung Đô chi đồ). Sách viết tay, rách nát nhiều, cỡ 20 x 30 cm.
4. Bản d: Ở các tờ 4b-5a, trong sách Hồng Đức bản đồ, ký hiệu A.2499. Bản đồ có tên là Trung Đô. Sách này cũng viết tay, cỡ 20 x 30cm. Gần đây trong Thư mục Hán Nôm: Phần II, tập II, trang 312, ở mục số 971 nhập hai sách Hồng Đức bản đồ, ký hiệu A.2499 và ký hiệu VHt.41 (VHd.1) vào một để giới thiệu là không hợp lý, vì hai bản này hoàn tòan khác nhau; bản A.2499 ngoài Hồng Đức bản đồ còn có năm loại bản đồ khác nữa, trong khi đo bản VHt.41 chỉ có một. 
5. Bản đồ: Ở các tờ 4b - 5a, trong sách Thiên Nam lộ đồ, ký hiệu A.1081. Bản đồ có tên Trung đô sơn xuyên hình thắng chi đồ. Sách làm năm Cảnh Hưng thứ 31 (1770), người làm sách làm Dương Nhữ Ngọc nho sinh trúng thức quê ở Lạc Đạo, Gia Lâm, Kinh Bắc. Sách chép tay, cỡ 22 x 22cm. 
6. Bản e: ở các tờ 22b - 23a, trong sách Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dẫn, kí hiệu A.73. Bản đồ có tên là Trung Đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đồ. Về nguồn gốc của sách Thiên Nam tứ chí lộ đồ có khả năng được biên soạn vào giữa thế kỷ XVII trở về trước (?). Còn sách A. 73 này có chép là Đại Nam tổng hội đồ lục làm vào đời Minh Mạng (1820-1840). Sách chép tay.
7. Bản f: ở các tờ 13b - 14a, trong sách Giao Châu dư địa chí, ký hiệu VHt.30. Bản đồ có tên là Thăng Long thành, Phụng Thiên phủ nhất phủ nhị huyện, sách do Đàm Nghĩa Am làm vào đầu đời Gia Long, ngay ở tờ 1a - 1b có lời tựa của sách Thiên Tải nhàn đàm viết vào năm Gia Long thứ 9 (1810). Sách viết tay. Cùng với sách VHt.30 này còn có sách Giao Châu dư địa đồ; kí hiệu A.2716 (cũng gọi là Thiên Tải nhàn đàm) có vẽ lại bản đồ trên ở tờ 8b - 9a.
8. Bản g: ở các tờ 9b - 10a, trong sách Thiên Tải nhàn đàm: kí hiệu A.2006. Bản đồ có tên Trung Đô nhất phủ nhị huyện chi hình. Sách có lời tựa viết vào năm Gia Long thứ 9 (1810). Sách viết tay.
9. Bản h: ở các tờ 9a - 10b, trong sách Thiên Tải nhàn đàm, kí hiệu A.584. Bản đồ có tên Thăng Long thành, Phụng Thiên nhất phủ nhị huyện. Sách này có nguồn gốc với hai sách kí hiệu A.2006 và A.2716, có lời tựa viết năm Gia Long thứ 9 (1810). Sách viết tay.
Cùng với 9 tấm bản đồ Thăng Long thời Lê có trong các sách Hán Nôm ở trên, chúng tôi được biết có một số bản khác nữa. Như chúng tôi đã nói ở lần trước, ở Ty Văn hóa tỉnh Nam Định cũ có một sách Hồng Đức bản đồ, trên đại thể giống với bản kí hiệu VHt.31. Bản đồ Hồng Đức được Viện Khảo cổ học Sài Gòn thời Ngụy quyền Sài Gòn in thành sách bằng chữ việt. Tấm bản đồ trong sách này được in lại từ một phim dương bản gửi từ Nhật Bản về. Chúng tôi đã xem xét đối chiếu với các bản đã giới thiệu ở trên, thấy rằng tấm bản đồ này giống hoàn toàn ở bản d ở trong sách kí hiệu A.2499. Gần đây, Giáo sư Phan Huy Lê cho chúng tôi biết là ở kho lưu trữ bản đồ của Pháp, có một tấm bản đồ Thăng Long thời Lê, nhưng tiếc rằng không mang về được bản sao của bản đồ này.
Như vậy, cho đến hiện nay, ít ra đã có 9 tấm bản đồ thành Thăng Long thời Lê khác nhau.
Để bạn đọc nắm được nội dung của 9 bản đồ còn lại này, chúng tôi lần lượt giới thiệu riêng từng bản một cả về hình dáng các vòng thành và chú thích trên bản đồ, và xin nêu ra những khác nhau và giống nhau giữa các bản. Một điều cần nói trước hết là nhìn chung tất cả các tấm bản đồ Thăng Long thời Lê đều thống nhất với nhau về vị trí và duyên cách về hình dáng của vòng thành ngoài cùng (tức thành Đại La). Và sự khác nhau chỉ là chi tiết. Năm bản đồ sẽ được giới thiệu dưới dây tình hình có phần nào khác với bốn bản trước.
Sự khác nhau giữa các bản:
- Khác nhau về chú thích: Mới nhìn cả bốn tấm bản đồ điều phân biệt đầu tiên là sự khác nhau về chú thích trên mỗi bản.
- Bản a: có 38 chú thích (được đánh số thứ tự 1, 2, 3... trên bản đồ).
- Bản b: có 36 chú thích. So với 38 chú thích ở bản a thì thiếu các chú thích số: 8, 17, 21, 24, 29 và 31; Các chú thích 1, 9, 10, 37 và 38 tuy giữ đúng vị trí như bản a, song nội dung khác chút ít. Ngoài ra thêm chú thích 39, 40.
- Bản c: có 43 chú thích, so với 40 chú thích ở hai bản trên, thì các chú thích số 2, 14, 16, 17, 24, 25 và 31 không có trong bản c (trong nguyên bản, bản này bị rách một phần thuộc các chú thích 24, 25); các chú thích 1, 10, 37, 38 khác với chú thích ở bản a. Ngoài ra thêm các chú thích từ 41 đến 50.
- Bản d: có 51 chú thích, so với 50 chú thích ở ba bản trên thì các chú thích số 17, 31, 45, 46 không có trong bản b, các chú thích 1, 24, 37, 38 có khác. Ngoài ra thêm các chú thích từ số 51 đến số 55.
- Bản đ: Vòng thành ngoài có hình dáng như các bản trước (từ b - d), nhưng tỉ lệ giữa hai phần đã có thay đổi phần phía đông lớn hơn, ở phần này chiều nam - bắc được phóng đại. Các kí hiệu phía bắc như Hồ Tây thu bé lại, và phía đông thành tiến gần sát với cửa sông Tô Lịch hơn; Ngã ba sông Thiên Phù với sông Tô Lịch không nằm ở góc tây bắc nữa. Vòng thành giữa (thành Thăng Long) được vẽ khá rõ, đặc biệt có cửa Tây (Tây Môn - số 57) nằm ở góc tây bắc của thành này: Tường thành ở phía tây đóng vị trí thẳng từ Hồ Khẩu xuống (giống với bốn bản trên). Vòng thành không rõ, vì trong đó được vẽ nhiều hình chữ nhật bao quanh mỗi một cung điện như điện Vạn Thọ (số 16), điện Kính Thiên (số 12), điện Thị Triều (số 13), điện Chí Kính (số 54), vậy là ở bản này không có ký hiệu để phân biệt một cấm thành nằm ở trong thành Thăng Long.
Về chú thích thì bản đ có 42 chú thích được đánh số từ số 1 đến số 57, 15 chú thích là: 1, 5, 17, 21, 22, 29, 31, 36, 37, 38, 45, 46, 50, 51 và 55 không có; thêm mới hai chú thích 56 và 57. Trừ chú thích 10 có khác với các bản khác, còn lại khá giống nhau.
Các kí hiệu ở trên bản đ cũng khá rành mạch, rõ ràng giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ phân biệt.
- Bản e: Bản này như ta đã biết là được vẽ vào năm 1770; nhìn chung khá sơ sài.
Vòng thành ngoài thu ngắn tỉ lệ nam - bắc nửa phía đông mà kéo dài tỉ lệ này ở nửa phía tây, đẩy cửa Bảo Khánh (số 30) xuống quá ba phần tư chiều dài của bản vẽ. Hồ Tây cũng bị thu gọn lại. Vòng thành giữa (thành Thăng Long) có vị trí tương tự như năm bản trên, nghĩa là tường thành phía tây không quá Hồ Khẩu. Trong thành Thăng Long có các kí hiệu tường thành chia làm nhiều vùng chẳng hạn Đông Cung (số 15) chiếm một phần ba phía đông, điện Vạn Thọ (số 16)... Không xác định được khu vực nào là cấm thành như sử cũ ghi chép, hoặc có nhiều khu vực đều được gọi là Cấm thành (?).
Về chú thích thì bản e có 27 chú thích được đánh số từ 1 đến 60, tức các chú thích: 3 – 6, 8, 9, 12, 13, 15, 16, 18, 20, 23 – 28, 30, 32 – 36, 42, 47, 48, 50, 58 – 60. Trong đó có một số chú thích có hơi khác như chú thích 10, chú thích 47 là Trịnh Vương phủ, Hồ Hoàn Kiếm (sô 51) trong các bản trước nay chú là Đàm, và bỏ đi khá nhiều chú thích, thêm ba chú thích mới là 58, 59 và 60.
- Bản f: Vòng thành ngoài có phần nhỏ đi và lùi về phía tây để lại khoảng từ cửa Đông (số 14) đến cửa sông Tô Lịch khá rộng, nửa phía đông của thành to hơn nửa phía tây vòng thành Thăng Long lùi về phía tây đến ngã ba sông Thiên Phù và sông Tô Lịch thẳng xuống, và Hồ Khẩu ở các bản trước là biên giới phía tây Thăng Long thì nay ở vào khoảng chính giữa. Cấm thành cũng không rõ là khoảng nào ở trong thành Thăng Long.
Vương phủ được vẽ rõ cửa chính (Chính Môn - số 61) trổ hướng nam và cửa Tuyên Vũ (Tuyên Vũ môn - số 62) trổ hướng Đông.
Bản f có 52 chú thích, đánh số từ 1 đến 66, thiếu 14 chú thích: 5, 11, 17, 29, 31, 36, 45, 46, 50, 51, 53, 54, 56, 57. Trong 52 chú thích có đến 10 chú thích khác các bản trước, ví dụ như: Quốc Tử Giám (chú thích số 32) ở bản này thay bằng Đại Học, Nam Giao điện (chú thích số 35) được thay bằng Giao Miếu (miếu Giao - Miếu Tề Giao), hoặc Đông Môn (số 10) thay là Đông Hoa Môn. Một số chú thích thì không có chẳng hạn Thăng Long thành (chú thích 11)... từ bản f trở đi có thêm các chú thích 63 đến 66.
- Bản g: Trên đại thể gần giống với bản f về cách vẽ và thể hiện vòng thành ngoài cũng như thành Thăng Long. Chúng ta dễ nhận thấy nguồn gốc chung của các bản này.
Song so với bản f, bản này có một ít khác biệt, có 11 chú thích, được đánh số từ 1 đến 66. Thiếu 25 chú thích: 2, 7, 14, 17, 29 - 31, 36 - 41, 43, 45, 46, 49, 51 - 57, 59. Một số chú thích khác với năm bản trên, song giống với bản f. Vị trí của chú thích 42 (Kính Thiên điện) ở các bản trên nằm gần Vạn Thọ điện (số 41) chính giữa phía bắc, riêng ở bản g được vẽ ở góc tây nam thành Thăng Long, chú thích 32 ở bản này ghi là Thái Học, chú thích 44 đây là Ngũ Môn...
- Bản h: Trên đại thể giống với các bản f và bản g. Bản này có 44 chú thích đánh số từ 1 đến 66. Thiếu 12 chú thích: 17, 29, 31, 45, 46, 50, 51, 53, 54, 56, 57 và 59.
- Khác nhau về kí hiệu vẽ.
Một khác biệt giữa bản a, bản b với hai bản sau là các kí hiệu vẽ trên đó; chẳng hạn các lần tường thành ở hai bản đầu được vẽ chen kẽ các khoảng đen và trắng (xem bản vẽ) còn ở hai bản sau trình bày cầu kì hơn, tường thành được vẽ thành nhiều lớp, thì như ở bản d thì người vẽ muốn phân biệt kĩ hơn giữa tường thành ở dưới và tường ở trên. Hoặc các cung điện, cổng thành, chùa, tháp ở các bản c và d về hình phân biệt. Và một số khác biệt về sông, hồ... trên mỗi bản.
- Khác nhau về một số chi tiết khác. Giữa bốn bản có khác nhau ở cách trình bày về hình dáng của các vòng thành, độ cong của các góc thành và các đoạn tường thành, chẳng hạn đoạn thành Đại La phía bắc ở bản a thì thẳng từ quán Trấn Vũ đến Bưởi, nhưng ở ba bản b, c, d thì lại cong. Cả vị trí của một số cung điện giữa các bản cũng khác nhau v.v...
- Một điểm khác nhau nữa là vị trí của vòng thành trong cùng giữa các bản không nhất trí. Ở bản a không có vòng thành này, còn ba bản b, c và d thì dường như có nhưng người vẽ không có ý thức nên không vẽ thành một hình khép kín như hai vòng thành ngoài.
Nhưng dù có dẫn ra những khác biệt giữa các bản thì chún ta vẫn cảm thấy rằng những khác biệt đó là không cơ bản, không làm cho bản nọ đối lập sai biệt với bản kia, sự khác nhau thể hiện ở các bản là có tính chất “kĩ thuật” của việc sao chép, chỉ là sự thêm bớt tùy tiện của người sao vẽ lại. Chính những khác biệt ấy lại như bổ sung cho nhau để chúng ta có khả năng hoàn chỉnh tấm bản đồ Hồng Đức ấy.
Vậy thì sự giống nhau giữa các bản thể hiện ở chỗ nào? Trước hết điều phải hiểu là tất cả cấc bản đồ của nước ta vẽ từ thế kỷ XIX trở về trước [trừ bản đồ phủ Hoài Đức vẽ năm Minh Mạng thứ 12 (1831) ] đều không theo thước tỉ lệ nhất định, các nhà họa bản đồ đi đến đâu vẽ đến đó, quy luật viễn cận trong các họa đồ thể hiện khá rõ. Như vậy chúng ta phải có cách đọc và hiểu đối với các loại bản đồ ấy. Sau đây là những điểm giống nhau giữa các bản:
- Thứ nhất là các bản đều đặt Trung Đô đúng vị trí giới hạn của nó, phía đông giáp sông Hồng, bắc - tây giáp sông Tô Lịch, phía nam là sông Kim Ngưu, tuy chú thích có đôi chỗ sai biệt.
- Thứ hai là vị trí và hình dáng của vòng thành ngoài. Thoạt xem thì chúng ta thấy vị trí và hình dáng vòng thành ngoài (có thể nói đó là thành Đại La) giữa các bản trùng khớp nhau kì lạ. Mặt phía bắc từ quán Trấn Vũ, quán ở phía đông chạy thẳng đến Bưởi ở phía tây (chỗ sông Thiên Phù và sông Tô Lịch gặp nhau). Mặt tây tường thành chạy theo bờ đông sông Tô Lịch từ Bưởi đến Cầu Giấy. Mặt phía nam tường thành được vẽ trên bốn bản hoàn toàn giống nhau. Mặt phía đông của tường thành giữa bốn bản cũng tương tự. Như vậy thành Đại La được vẽ trên cả bốn bản hoàn toàn giống nhau về hình dáng và vị trí. Có khác nhau ở một vài chi tiết như ở bản a mặt thành phía bắc thẳng tuột, hoặc ở một vài chú thích trên tường thành như chú thích 14 ở bản a là Nam Môn, các bản b, c không có, còn ở bản d là Đại Hưng Môn.
- Thứ ba là vị trí của vòng thành giữa. ở các bản hình dáng và vị trí của thành giữa (mà chúng ta có thể gọi là Hoàng thành Thăng Long) dường như là nhất trí. Thành có hình chữ nhật, chiều dài là đông tây, chiều rộng là nam bắc, chiều dài bằng hai chiều rộng. Vị trí và giới hạn của thành trên đại thể như sau:
+ Mặt bắc, tường thành được giới hạn bởi thành Đại La.
+ Mặt nam, tường thành cũng được giới hạn bởi thành Đại La.
Ở cả hai mặt nam, bắc giới hạn dễ nhận thấy.
+ Mặt phía đông, nếu như cho Đông Cung (chú thích số 15 ở các bản) vào thành này, thì tường của nó trùng với tường phía đông của thành Đại La. Như theo bản a thì thành giữa tức Hoàng thành không có Đông Cung (?);
+ Mặt phía đông, ở các bản dường như là nhất trí với nhau, góc tây bắc của Hoàng thành giáp với Hồ Khẩu (chỗ sông Tô Lịch nhận nước Hồ Tây, nay cửa sông đã cạn). Nếu lấy Hồ Khẩu làm giới phía tây, ta vạch trên thực địa trục bắc - nam, và đó là tường thành phía Tây. Một lý do nữa là Hồ Tây nằm ở phía bắc thành này.
Như vậy chúng tôi đã sơ bộ giới thiệu, và bây giờ có thể rút ra một vài nhận xét chung giữa chín bản đồ như sau:
1. Từ bản a cho đến bản e, sáu bản này được sao vẽ lại từ trước thế kỷ XIX, nghĩa là trong thời gian còn tồn tại thành Thăng Long thời Lê, riêng bản e được sao vẽ lại từ thế kỷ XIX, song ít ra có nguồn gốc từ bản Thiên Nam tứ chí lộ dồ cũ nào đó. Vì vậy giữa sáu bản này dường như nhất trí với nhau về:
- Hình dáng và vị trí của thành Đại La.
- Duyên cách của thành Thăng Long, mà cụ thể nhất là tường thành phía tây không quá Hồ Khẩu.
- Giống nhau ở những nội dung các chú thích.
2. Các bản f, g, h xuất hiện từ thế kỷ XIX, nếu có thể nói được thì niên đại là năm Gia Long thứ 9 (1810), nhưng chắc chắn rằng các tác giả đã dựa vào một bản đồ thành Thăng Long nào đó, và bấy giờ thành Thăng Long cũ bị phá hoại, hoặc là các tác giả dựa vào kí ức của mình mà vẽ lại tòa thành đã mai một. Vì vậy mà cả ba bản này nhất trí với nhau về vị trí các vòng thành như chúng tôi đã trình bày và các chú thích trên bản đồ, nổi rõ nhất là:
- Vòng thành ngoài lùi xa về phía đông.
- Tường thành phía tây của thành Thăng Long lùi sang phía tây quá Hồ Khẩu.
- Xuất hiện một số chú thích mới và khác.
- Tây Tràng An (chú thích 21) và Đông Tràng An (chú thích 22) dường như lui hẳn ra ngoài vòng thành, nhất là Đông Tràng An...
Những khác biệt giữa chúng là có, mà nổi rõ nhất là giữa sáu bản đầu với ba bản cuối. Ngay trong cùng một loại vẫn có những khác biệt. Như chúng tôi đã có dịp nói đến là chính những khác biệt đó giúp chúng ta khôi phục được một cách đầy đủ hơn thành Thăng Long trước thế kỷ XIX.
Chúng tôi thấy cần thiết phải lưu ý bạn đọc về cách sử dụng các loại bản đồ cũ vẽ không có thước tỉ lệ; làm thế nào để khắc phục được những trình bày dường như vô lí trên các bản đồ. Chúng ta không thể đặt tất cả cấc mốc trên bản đồ theo kinh độ và vĩ độ như khi sử dụng bản đồ hiện đại, để rồi từ đó mà đoán định tọa độ, vị trí giới hạn của nó. ở trong các bản đồ Thăng Long thời Lê này tình hình cũng tương tự. Chẳng hạn khi xác định vị trí của mặt thành phía bắc của Hoàng thành, ta phải chọn mốc là Hồ Tây, là Trấn Vũ quán, là Hồ Khẩu chứ không thể chọn mốc là Quốc Tử Giám... Quy luật viễn cận ở trong các bản trên cũng khá nổi bật; mục đích của người vẽ là Hoàng thành nên Hoàng thành có vẽ to, còn như thành Đại La phần phía tây không đúng, hay Hồ Tây thì vẽ nhỏ bé, và khoảng cách từ sông Tô Lịch đến sông Thiên Đức (sông Đuống) rất ngắn so sới thực tế...
Nhờ vậy, mà chúng tôi bước đầu thử chỉ định vị trí của tòa thành Thăng Long (tức Hoàng thành, vòng thành thứ hai) như sau so với địa danh hiện nay:
- phía đông, tường thành nằm vào khoảng từ giữa phố Lý Nam Đế và đường Nguyễn Tri Phương (tức là phạm vi thành Hà Nội thời Nguyễn).
- phía tây, lấy Hồ Khẩu làm điểm mốc, từ đó vạch đường thẳng theo trục bắc nam, thì đó là phía tây Hoàng thành; tức là nó bao gồm cả đất các làng Ngọc Hà, Đại Yên, Hữu Tiệp cũ.
- phía bắc không quá sông Tô Lịch.
- phía nam, nếu lấy bến ô tô Kim Mã làm mốc, vạch đường thẳng theo hai phía đông, tây thì có thể đó là tường thành phía nam Hoàng thành.
Những hiểu biết hạn chế của chúng tôi hẳn chưa đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu của bạn đọc. ở đây trước hết xin cung cấp nguyên bản các bản đồ ấy, được sao chụp lại từ các sách gốc mà chúng tôi đã giới thiệu. Rất mong được chỉ ra những sai sót trong suy nghĩ của chúng tôi.
Chú thích các bản đồ Thăng Long thế kỷ XV – XVIII
Kí hiệu: 
0 = không có chú thích
+ = Có khác về cách dùng chú thích nhưng có nội dung và vị trí tương tự.
BÙI THIẾT .
( Xin xem tiếp bài 8 ) - dienbatn.

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-11.html

 

Xem chi tiết…

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 6.

7/10/2013 |
ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH . BÀI 6.
Dưới đây là trích Báo cáo kết quả nghiên cứu của tiểu ban 1:
Báo cáo kết quả nghiên cứu của tiểu ban 1:
QUI MÔ VÀ CẤU TRÚC THÀNH THĂNG LONG - HÀ NỘI
QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
VỊ TRÍ VÀ GIÁ TRỊ CỦA KHU DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC BA ĐÌNH
GS. Phan Huy Lê
Nhiệm vụ của Tiểu ban I là tập hợp một số chuyên gia về lịch sử và Hán Nôm nghiên cứu về quá trình kiến tạo và biến đổi của thành Thăng Long - Hà Nội từ khi định đô Thăng Long của vua Lý Thái Tổ năm 1010 cho đến khi thành Hà Nội bị thực dân Pháp phá hủy năm 1894 - 1897 để trên cơ sở qui mô và cấu trúc đó, xác định vị trí của khu di tích khảo cổ học Ba Đình vừa phát lộ, góp phần đánh giá giá trị lịch sử-văn hóa của khu di tích. Tiểu ban đã tiến hành nghiên cứu các đề tài cụ thể sau đây:
1. Thành Thăng Long - Hà Nội qua các tư liệu Hán Nôm: PGS. Trần Nghĩa, TS Nguyễn Thúy Nga, TS Nguyễn Minh Tường, ThS Nguyễn Xuân Diện.
2. Thành Thăng Long - Hà Nội qua các tư liệu phương tây: PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ.
3. Thành Thăng Long qua các bản đồ cổ: PGS.TS Ngô Đức Thọ.
4. Thành Hà Nội qua các bản đồ: TS Vũ Văn Quân.
5. Thành Thăng Long qua kết quả điều tra khảo sát thực địa: PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc với sự cộng tác của TS Vũ Văn Quân, TS Phan Phương Thảo, CN Nguyễn Ngọc Phúc, CN Phạm Đức Anh, CN Đỗ Thùy Loan, CN Vũ Đường Luân, CN Tống Văn Lợi.
6. Nghiên cứu so sánh với một số kinh thành của Trung Quốc (PGS. Phan Văn Các), Nhật Bản (TS Nguyễn Thế Hùng), Lào (ThS Thong Lit), Cămpuchia (TS Nguyễn Sĩ Tuấn), Thái Lan (PGS.TS Nguyễn Thị Thi).
Chúng tôi cố gắng thu thập những tư liệu liên quan trong các nguồn sử liệu trong nước và nước ngoài, các thư tịch Hán Nôm từ chính sử cho đến các sách biên khảo, các loại địa chí, thơ văn, các bản đồ cổ của Việt Nam với bản gốc đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bản đồ của Pháp thời Pháp thuộc, khảo sát các di tích có liên quan, nhất là trên bốn phía cửa Đông, cửa Bắc, cửa Nam và cửa Tây của thành Thăng Long, lập hồ sơ các đền, chùa, miếu, am đặc biệt chú ý khai thác các văn bia. So với những tư liệu đã được phát hiện và nghiên nghiên cứu trước đây, phải nói là không có thêm nhiều tư liệu mới. Nhưng cố gắng của Tiểu ban là trên cơ sở tập hợp mọi tư liệu liên quan, tiến hành so sánh, phân tích, đối chiếu thật kỹ để xem xét lại các kiến giải đã đặt ra trong cuộc tranh luận kéo dài về vị trí và quy mô, cấu trúc của thành Thăng Long từ năm 1959 đến nay (2004 - dienbatn chú).
Cho đến nay, rất nhiều vấn đề về thành Thăng Long đã được đặt ra và ý kiến cụ thể về nhiều vấn đề hết sức khác nhau. Nhưng chỉ giới hạn trong quan niệm về qui mô, cấu trúc và vị trí của thành Thành Thăng Long - Hà Nội thì cũng đã có đến bốn kiến giải khác nhau:
1. TRẦN HUY BÁ cho rằng “khu vực chính của nội thành Thăng Long”(không nói rõ là Hoàng thành hay Cấm thành) đời Lý, Trần, Lê không thay đổi và nằm trong giới hạn phía bắc là chỗ rẽ xuống đường trường đua ngựa cho đến đền Quan Thánh, phía đông là từ đền Quan Thánh đến gần Văn Miếu, phía Nam từ Văn Miếu đến chỗ rẽ tránh đường tàu điện Cầu Giấy, phía tây là từ chỗ rẽ tránh đường xe lửa Cầu Giấy đến trường đua ngựa. Như vậy thành hình gần chữ nhật nằm về phía tây thành Hà Nội và thành Hà Nội theo tác giả “đã thiên hẳn ra ngoài phía đông thành Thăng Long cũ”(Trần Huy Bá: Thử bàn về vị trí thành Thăng Long đời Lý. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6,8 - 1959, tr.71). (Xem bản đồ của tác giả). 
2. TRẦN HUY LIỆU và các cộng sự phân biệt rõ cấu trúc gồm kinh thành, Hoàng thành và Cấm thành, cho rằng Hoàng thành đời Lý, Trần phía bắc giáp Hồ Tây, phía tây giáp sông Tô Lịch, phía nam giáp đường Cầu Giấy, phía đông giáp thành Hà Nội đời Nguyễn, khoảng đường Hùng Vương. Như vậy tác giả tán đồng quan điểm của Trần Huy bá, nhưng sự khác biệt là nhìn nhận một sự chuyển dịch kinh thành từ Lý, Trần sang Lê sơ. Theo nhóm tác giả này, Hoàng thành Đông Kinh thế kỷ XV bao gồm cả thành Thăng Long đời Lý, Trần và thành Hà Nội đời Nguyễn, tức mở rộng về phía đông. (Trần Huy Liệu chủ biên: Lịch sử thủ đô Hà Nội. Nxb. Hà Nội 1960, tái bản Nxb. Hà Nội 2000, tr. 39, 113). (Xem bản đồ của tác giả). 
3. TRẦN QUỐC VƯỢNG - VŨ TUẤN SÁN cũng phân biệt rõ Hoàng thành, Cấm thành và cho rằng Long Thành, Phượng Thành hay Long Phượng Thành chính là Hoàng thành, mở 4 cửa: cửa Tường Phù ở phía đông mở ra trước Chợ Đông và đền Bạch Mã, cửa Đại Hưng ở phía nam khoảng vườn hoa và chợ Cửa Nam, cửa Quảng Phúc ở phía tây mở ra trước chùa Một Cột, cửa Diệu Đức ở phía bắc mở ra trước sông Tô Lịch khoảng phố Phan Đình Phùng (Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán: Hà Nội nghìn xưa. Hà Nội, 1975). Hai tác giả nhấn mạnh trải qua các vương triều, các cung điện được xây dựng, tu sửa nhiều lần nhưng phạm vi Hoàng Thành với tâm điểm là điện Kính Thiên trên núi Nùng không thay đổi. Phạm Hân cùng quan điểm này. (Phạm Hân: Tìm lại dấu vết thành Thăng Long. Nxb. Văn hóa thông tin. Hà Nội, 2003).
4. PHILIPPE PAPIN là một tác giả nước ngoài đã có hai công trình nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội trong thời gian gần đây là luận án Tiến sĩ Des “villages dans la ville” aux “villages urbains” và cuốn sách Histoire de Hà Nội. Nhận thức về thành Thăng Long của tác giả được thể hiện tập trung trong bản đồ sau. (Philippe Papin: Histoire de Hà Nội. Nxb. Fayard, Paris 2001, tr. 69). Theo tác giả, vòng thành trong theo sông Tô Lịch đến Cầu Giấy rồi theo đường Giảng Võ nối lên phía đông bắc với An Nam La Thành (806) và Đại La Thành (866) đời Đường. Hai lớp thành phía bắc tương ứng với đường Hoàng Hoa Thám và Thụy Khuê, tác giả giải thích do sự mở rộng thành Đại La cũ. Vòng thành trong mở 4 cửa: Tường Phù, Đại Hưng, Quảng Phúc và Diệu Đức. Vòng thành ngoài cùng đắp năm 1014, tác giả cho bao bọc cả Hồ Tây và có lần mở rộng về phía nam vào năm 1230.
Với tình trạng tư liệu hiện có, rõ ràng nhiều vấn đề đặt ra về thành Thăng Long - Hà Nội chưa thể giải quyết trong một thời gian ngắn.
Nguồn: Báo cáo kết quả nghiên cứu của tiểu ban 1: Qui mô và cấu trúc thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử. Vị trí và giá trị của khu di tích khảo cổ học Ba Đình. Do GS. Phan Huy Lê tổng hợp và viết.
Dưới đây là trích báo cáo kết quả nghiên cứu tiểu ban 2
Báo cáo kết quả nghiên cứu tiểu ban 2: 
NGHIÊN CỨU VỊ TRÍ, CẤU TRÚC, QUY MÔ VÀ CÁC DẤU TÍCH KIẾN TRÚC CỦA HOÀNG THÀNH THĂNG LONG QUA CÁC ĐỜI
GS. Trần Quốc Vượng (Đại học Quốc gia Hà Nội)
PGS.TS Tống Trung Tín (Viện Khảo cổ học)
Tiểu ban II là tiểu ban nghiên cứu vị trí, cấu trúc, quy mô và các dấu tích kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long qua các thời và vị trí của khu di tích khảo cổ học mới phát hiện ở Ba Đình (Hà Nội). 
Tiểu ban gốm có 9 thành viên, do Gs Trần Quốc Vượng (ĐH Quốc gia HN) là Trưởng tiểu ban, PGS.TS Tống Trung Tín (Viện Khảo cổ học) làm Phó trưởng ban và 7 thành viên khác gồm Nguyễn Hồng Kiên (Viện Bảo tồn Di tích - Bộ Văn hóa Thông tin), Đỗ Văn Ninh (Viện Sử học), Đỗ Thị Hảo (Viện Hán Nôm), Vũ Quốc Hiền, Ngô Thế Phong (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), Nguyễn Thị Hòa (Ban Quản lý Danh thắng Hà Nội), Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội.
Tiểu ban đã thu hút được lượng cộng tác viên khá lớn với 45 chuyên gia nghiên cứu từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Viện Bảo tồn Di tích, Viện Sử học, Viện Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Sở Văn hóa thông tin Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di tích Huế, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. 
II. Kết quả nghiên cứu khoa học
1. Về vị trí của Hoàng thành Thăng Long
1.1.Từ nửa cuối thế kỷ XX, giới sử học và khảo cổ học Việt Nam có 2 loại ý kiến chính về vị trí Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê.
Ý kiến thứ nhất (đại diện là cụ Biệt Lam Trần Huy Bá) cho rằng vị trí của Hoàng thành Thăng Long là ở nghiêng về phía tây trung tâm Hà Nội (tức khu vực Quần Ngựa ngày nay).
Ý kiến thứ hai (đại diện là GS. Trần Quốc Vượng và cụ Vũ Tuân Sán) cho rằng vị trí của Hoàng thành Thăng Long qua các thời là không thay đổi và ở trung tâm khu Ba Đình ngày nay với tâm điểm là điện Kính Thiên thời Lê được xây dựng trên nền điện Thiên An và điện Càn Nguyên thời Lý - Trần cũng là núi Nùng - Long Đỗ - Rốn Rồng “nơi lắng hồn vía núi sông ngàn năm”. 
1.2. Sau cuộc khai quật khu vực 18 Hoàng Diệu và một loạt cuộc khai quật thăm dò ở khu vực Bắc Môn, Hậu Lâu, Đoan Môn, 11 Lê Hồng Phong, Tràng Tiền Plaza, Đoài Môn v.v…chúng ta có thêm rất nhiều các chứng cứ mới về khảo cổ học để chứng minh vị trí của Hoàng thành Thăng Long.
Các tham luận bàn về vị trí của tiểu ban vừa qua có hai loại ý kiến như sau:
- Ý kiến thứ nhất căn cứ vào các kết quả khai quật và điều tra di tích trên thực địa tiếp tục khẳng định:
Vị trí của Hoàng thành Thăng Long qua các thời Lý - Trần - Lê có thay đổi chút ít nhưng về cơ bản vị trí của Hoàng thành Thăng Long là như quan điểm mà nhiều chúng tôi, do Gs. Trần Quốc Vượng đề xướng. Trung tâm của Hoàng thành Thăng Long chính là điện Kính Thiên và các di tích xung quanh tập trung dày đặc vừa phát hiện là thuộc trung tâm trên đó. Đặc biệt là di tích 18 Hoàng Diệu cách điện Kính Thiên 100m đã tập trung dày đặc các di tích Lý - Trần - Lê. Đó chính là quần thể di tích ở trung tâm Hoàng thành nằm ở phía tây điện Kính Thiên.
Điều này còn có bằng chứng khảo cổ học là con đường thời Trần ở dưới nền Đoan Môn tiến thẳng về phía điện Kính Thiên được Viện Khảo cổ học và Sở VHTT Hà Nội khai quật năm 1998. Về phía đông điện Kính Thiên, sưu tập di vật Lý - Trần - Lê vừa tìm thấy ở đây đac chứng tỏ tính chất của các di tích ở khu Đông Kính Thiên là tương tự như ở khi Tây điện Kính Thiên. Điều này chứng tỏ tâm điểm của Hoàng thành Thăng Long là điện Kính Thiên.
Còn ở khu vực Quần Ngựa, thêm một lần nữa, TS. Phạm Quốc Quân đã đưa ra các tư liệu khảo cổ học để khẳng định rằng ở đây chỉ có bằng chứng đậm đặc các dấu tích kiến trúc thời Lê và các sấy tích khảo cổ học cho thấy khu vực này mang tính chất bình dân. Từ phía đông, từ khu 47 Hàng Dầu đến Tràng Tiền Plaza cho thấy không có dấu tích kiến trúc, các di vật cũng chủ yếu là thời Lê chứng tỏ khu vực này chỉ là mở mang thêm bến bãi từ khoảng thế kỷ XVI trở đi.
Kết luận rút ra từ các nguồn tư liệu mới đặc biệt là nguồn tư liệu khảo cổ học từ năm 1998 đến nay cũng khẳng định rõ thêm trung tâm của Hoàng thành Thăng Long là khu vực trung tâm của quận Ba Đình và điểm trung tâm đó chính là điện Kính Thiên mà dấu vết vẫn còn đến ngày nay. 
- Ý kiến thứ hai do ông Bùi Thiết đại diện: 
Bằng nguồn tư liệu các hệ thống bản đồ cổ và đối sánh với thực tiễn các tư liệu khảo cổ học, nhà khoa học Bùi Thiết cho rằng vị trí trung tâm của Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê với các điểm chuẩn là Quốc Tử Giám, quán Trấn Vũ thì Đoan Môn nằm kề bắc Quốc Tử Giám qua đường Trần Phú đến quá ngã tư Hoàng Diệu - Điện Biên Phủ đến đường Bắc Sơn. Đó là trục chính tâm của Cung thành Thăng Long.
Ý kiến này là tương đối mới. Tuy nhiên hiện nay cần có thêm các tư liệu khảo cổ học để kiểm chứng thêm.
2. Về cấu trúc của Hoàng thành Thăng Long qua các thời:
Căn cứ vào các ghi chép của sử sách, văn bia và điều tra thực địa, các ý kiến về cấu trúc đều thống nhất kinh thành Thăng Long có 3 vòng thành khác nhau, bao bọc lẫn nhau:
- Vòng ngoài cùng là Đại La (hay La Thành) bao bọc quanh toàn bộ Hoàng thành, Cấm thành và khu dân cư của Kinh thành Đại La có nhiều cửa như Triều Đông (cuối Hàng Than), Đoài Môn, cửa Trường Quảng (Ô Chợ Dừa) thời Lý - Trần. 
- Hoàng thành là vòng thành bao quanh các kiến trúc cung điện nơi vua, Hoàng tộc và triều đình làm nơi sinh sống, làm việc, nghỉ ngơi và bao quanh cả khu Cấm thành.
Hoàng thành Lý - Trần mở 4 cửa chính: Diệu Đức (Bắc), Đại Hưng (Nam), Tường Phù (Đông) và Quảng Phúc (Tây).
Về tên gọi Hoàng thành thời Lý - Trần gọi là Thăng Long, thời Lê gọi là Hoàng thành. Cấm thành là khu vực vua và Hoàng tộc sinh sống làm việc và khu điện trung tâm thiết triều của nhà vua.
Cấm thành thời Lý - Trần gọi là Long thành, Phượng thành và Long Môn Phượng Thành, thời Lê gọi là Cung thành. 
3. Về quy mô của thành Thăng Long qua các thời:
…Theo kết quả điều tra thực địa, kết quả khai quật khảo cổ học và thư tịch cổ, chúng tôi ước quy mô của Hoàng thành Thăng Long hiện nay như sau:
Bắc khoảng đường Phan Đình Phùng, dịch về phía bắc một chút;
Nam khoảng đường Trần Phú, dịch sang phía Hàng Đẫy, đường Nguyễn Thái Học - Phía ngoài là Cửa Nam, Đông là Quảng Văn Đình (vườn hoa Cửa Nam) Tây là Đền Ngự Sử (ngõ Lương Sử, phố Ngô Sĩ Liên)
Đông khoảng phố Thuốc Bắc;
Tây khoảng đường Ông Ích Khiêm cho đến khoảng cửa ô Vạn Bảo đường Sơn Tây.
Các ranh giới bắc, nam và đông, theo chúng tôi là tương đối rõ. Riêng ranh giới phía tây thì còn xê dịch mà hiện nay cần tiếp tục có sự kiểm chứng bằng cứ liệu khảo cổ học. 
- Cấm thành: Có tâm điểm là điện Kính Thiên và được nằm trọn trong Hoàng thành. Tuy nhiên, chu vi Cấm thành chưa xác định được nhưng có thể biết được ranh giới phía nam là cửa Đoan Môn, phía tây là khoảng chùa Một Cột.
6. Nhận xét bước đầu về mặt bằng kiến trúc khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội tại 18 Hoàng Diệu.
6.5. Sự xuất hiện dày đặc, phong phú của các kiến trúc cao cấp ở đây cho thấy khu vực khai quật đã nằm vào khu vực trung tâm của Hoàng thành Thăng Long xưa.
6.6. Do ở vào khu vực trung tâm của Hoàng thành Thăng Long nên các kiến trúc ở đây đều được trang trí rất đẹp đẽ và công phu với vô số các hình tượng cao quý như: rồng, phượng, sen, cúc được làm ở trình độ rất cao.
6.7. Vị trí các dấu tích kiến trúc của khu khai quật là ở khu vực trung tâm phía Tây điện Thiên An của Cấm thành và Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần tức là phía Tây của điện Kính Thiên thời Lê.
Trong điều kiện hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu là một bộ phận thuộc khu vực trung tâm phía tây của điện Kính Thiên, trong, trong đó có một phần ở vào vị trí Cấm thành, một phần ở vào vị trí của Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê theo quan niệm “Tam trùng thành quách” của kinh thành Thăng Long.

Nguồn: Báo cáo kết quả nghiên cứu tiểu ban 2 Nghiên cứu vị trí, cấu trúc, quy mô và các dấu tích kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long qua các thời. Do GS. Trần Quốc Vượng (Đại học Quốc gia Hà Nội) và PGS TS Tống Trung Tín (Viện Khảo cổ học) tổng hợp và viết.
NHỮNG ĐỊA DANH KHÔNG THỂ LÀM VẬT CHUẨN .
BÙI THIẾT - ( Trích trong bài TÌM KIẾM NHỮNG VẬT CHUẨN KHI XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ THĂNG LONG THÀNH ).
Những địa danh theo tôi không có giá trị làm vật chuẩn khi tìm kiếm vị trí thành và cing thành Thăng Long trước thế kỷ XIX , dường như đều nằm trên các bản đồ Hà Nội vẽ từ đầu thế kỷ XIX . Nhân đây cũng xin nhắc lại một số bản đồ cổ Hà Nội đang được lưu hành trong thời gian qua :
1/ HOÀI ĐỨC PHỦ TOÀN ĐỒ : 
Đây là một tấm bản đồ cỡ lớn có kích thước 100x129 cm ; được nhập vào kho khách của EFEO khoảng những năm 40 của thế kỷ XX , không rõ nguồn gốc , có ký hiệu kho là A.2-3.32 , có ghi tên người vẽ là Lê Đức Lộc và NGuyễn Công Tiến ( cả hai nhân vật này đều không rõ lai lịch ) . Theo ghi chú trên bản đồ thì bản đồ vẽ về Phủ Hoài Đức năm 1831 . Chúng tôi đã xem xét một cách kỹ lưỡng văn bản học bản đồ này , và đi đến một nhận xét rằng đây là một bản đồ vẽ về Hà Nội sau Đại chiến Thế giới I , và thời gian thực hiện vào khoảng cuối những năm 20 đầu những năm 40 của thế kỷ 20 , chứ không phản ánh Hà Nội năm 1831 ( Xem đối thoại sử học - 1999 ) . Vì vậy các ghi Tạp chí Xưa và nay không đáng tin cậy và không được dùng trong nghiên cứu .
2/ BẢN ĐỒ HÀ NỘI NĂM 1873 : 
Bản đồ này do Trần Đình bách thực hiện năm 1910, tư liệu đáng tin cậy , song có một số sai lạc . Chẳng hạn 3 chữ Hán lớn trước cổng điện chính là Thăng Long Thành với nghĩa thành Rồng lên , song viết ngược với cấu trúc của Hán tự . Ai cũng biết năm 18 Gia Long cho đổi 2 chữ Thăng Long là Rồng lên sang Thăng Long là Hưng thịnh , nên việc giữ nguyên nó là phạm nguyên tắc . Thứ hai là việc xuất hiện tấm biển có hai chữ Hán là Đoan Môn ở trước cổng vào tòa chính điện , và tòa chính điện có tấm biển là Kính Thiên một cách không chuẩn mực , có lẽ là sáng tạo của Trần Đình Bách ? Điều này thực sự gây tai hại cho những ai sử dụng để nghiên cứu Thăng Long thành trước thế kỷ XIX mà không có kiến thức về bản đồ học và đặc biệt là thiếu công tác văn học bản đồ và chưa quen sử lý thông tin qua ngôn ngữ bản đồ ....
3/ ĐOAN MÔN : 
Tấm biển đặt trên cổng vào điện chính của thành Hà Nội , có hai chữ Hán là Đoan Môn . Một số tài liệu nói rằng Đoan Môn là chứng tích của cựu triều , hay nói cách khác là Đoan Môn của Thành Thăng Long trước thế kỷ XIX . Vì vậy , một số người xác định đây chính là Đoan Môn của thành Thăng Long . Sự thật thì một tấm biển Đoan Môn có còn lại sau thế kỷ XVII và ở vào những vị trí trang trọng của thành Hà Nội đi chăng nữa , chưa thể sang ngang một cách thiếu chứng cứ rằng đây chính là vị trí Đoan Môn xưa . Có thể đặt ra nhiều câu hỏi về tấm biển này , liệu có sự di chuyển từ Đoan Môn cũ đến vị trí hiện nay ( bởi vì nhà Nguyễn không muốn cho Thiên hạ nhớ về cựu triều , trong khi vẫn còn giữ nguyên Đoan Môn ) .Riêng tôi , tôi không tin Đoan Môn hiện tại là Đoan Môn ngày xưa bao giờ , với lẽ rằng Đoan Môn trước Thế kỷ XIX là cửa chính Nam vào cung thành cũng chính là cửa chính Nam vào thành Thăng Long . Còn Đoan Môn thế kỷ XIX cũng là cửa cổng vào tòa chính điện của thành Hà Nội , còn muốn vào thành ở phía Nam có cửa Đông Nam và Tây Nam . Hai Đoan Môn trước và sau thế kỷ XIX đã hoàn toàn khác nhau về vai trò và vị thế , tất yếu vị trí của nó cũng hoàn toàn khác . Giả sử Đoan Môn của Thăng Long trước thế kỷ XIX ở đúng vào vị trí Đoan Môn hiện nay thì chiều Nam - Bắc của Cung thành Thăng Long có số đo chưa quá 500 m , vả lại khu vực khai quật khảo cổ học ở góc Hoàng Diệu - Hoàng Văn Thụ hiện nay dường như cùng vĩ độ Đông với tòa chính điện ( có người gọi là Kính Thiên ) của thành Hà Nội . Liệu Đoan Môn chếch về phía Nam khu khai quật khảo cổ học này một ít , có còn là Đoan Môn của thành Thăng Long nữa hay không ? Từ đó tôi cho rằng Đoan Mộn hiện tại không đủ tư cách vật chuẩn trong quá trình tìm kiếm vị trí Thăng Long trước thế kỷ XIX .
Lời bàn : Chúng tôi đã trao đổi với KTS.PHẠM VŨ HỘI , ông có ý kiến là theo cấu trúc Thành cổ : Cửa Đoan Môn chỉ là những cửa nằm ở phía Nam trên trục BẮC - NAM của KINH THÀNH . Như vậy có thể có nhiều cửa Đoan Môn trong một Kinh Thành . ( dienbatn ) .
3/ KÍNH THIÊN :
Như đã nói ở trên điện Kính Thiên của thành hà Nội thế kỷ XIX là một ngộ nhận , vì tòa thành là một Tổng trấn , không thể có điện Kính Thiên . Bởi tòa nhà này tượng trưng cho đấng tối cao , đó chỉ là nơi Vua ngự , các quan Tổng trấn Bắc thành cỡ như Nguyễn Văn Thành cũng không thể là chủ của một tòa điện gọi là Kính Thiên ấy . Khởi sự của tên gọi này bởi bản đồ Hà Nội 1873 như đã nói ở trên , và đây là một thông tin không dùng được . Vậy mà có nhiều vị xưng danh nọ hiệu kia coi đây là một cứu cánh để cho phép chỉ điện Kính Thiên của Thăng Long trước thế kỷ XIX là ở chỗ này đây . Sao người ta nhẹ dạ cả tin đến như vậy , vì đây là một " cú lừa " của Vương triều Nguyện do Gia Long chủ xướng , hòng xóa sạch dấu tích của cựu Vương triều một cách có chủ ý . ....
BÙI THIẾT . ( Tư liệu đã dẫn ) .
Thành Thăng Long: Không có điện Kính Thiên xây năm 1805 .
Một sự kiện đáng quan tâm vừa xảy ra ở Hà Nội làm dư luận sôi động, đó là việc Bộ Quốc phòng bàn giao khu vực được gọi là điện Kính Thiên cho UBND thành phố Hà Nội quản lý và sử dụng.
Theo nguyên tắc thì điện Kính Thiên được xây dựng ở kinh đô, là toà điện chính nơi các hoàng đế coi chầu. Thành Thăng Long xây năm 1805, là toà thành của Tổng trấn Bắc Thành, thì trong tòa thành không thể có cung điện nào được phép mang tên là Kính Thiên cả, bởi vì ở Bắc Thành làm gì có vua để xây điện Kính Thiên.
Truy tìm trong sử sách, chúng tôi thấy chính sử của nhà Nguyễn không hề nói có toà điện Kính Thiên xây ở Thăng Long năm 1805. Sách Đại Nam Thực lục (ĐNTL) bắt đầu biên soạn từ năm 1841 dường như không nói gì đến việc xây tòa thành vô băng ở Hà Nội vào năm 1805, duy chỉ có nói dến việc là vào tháng 6 âm lịch sai xây 5 cửa thành, trước mỗi cửa có dựng bia. Sách Đại Nam Nhất thống chí (ĐNNTC), bắt đầu biên soạn vào đầu những năm 80 của thế kỷ 19, cũng không nói đến có một điện Kính Thiên của thành Hà Nội; ở mục Thành trì của tỉnh Hà Nội, ĐNNTC chép: “... năm thứ 4 (1805), sai quan đốc sức việc xây đắp, trong thành dựng kỳ đài và hành cung với hai điện chính, một tả vu, một hữu vu, mặt sau dựng 2 toà nội điện”. (ĐNNTC; T III, tr 166 - bản dịch).Nhân đây xin được nhắc lại rằng không hề và không bao giờ có một toà điện gọi là Kính Thiên xây năm 1805 trong thành Hà Nội.ấy vậy mà lâu nay nhiều người cứ nói đại lên rằng có một toà điện Kính Thiên ở trong thành Hà Nội cổ, nơi Bộ Quốc phòng sử dụng và quản lý và là trụ sở của Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng tham mưu; bởi vì ở bậc thềm lên xuống toà điện, có một con rồng đã được chạm trổ tinh vi thuộc về phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XV -XVII) và người ta lan truyền rằng đây chính là con rồng đá trước thềm điện Kính Thiên của thành Thăng Long trước thế kỷ 19. Từ một con rồng đá để rồi nói nơi có con rồng đá đó là điện Kính Thiên cũ là một sai lầm tai hại đối với lịch sử.
Về chính danh không có điện Kính Thiên trong thành cổ Hà Nội, và về thực tế, ở nơi đây chưa bao giờ toạ lạc điện Kính Thiên của thành Thăng Long các triều đại Lý - Trần - Lê (thế kỷ XI -XVII). Đây là một sự thật lịch sử đã và đang bị ngộ nhận, cho nên việc nói lên sự thật lịch sử quả là khó khăn, nhưng không thể không nói và thậm chí phải nói đi nói lại nhiều lần để xóa đi những ngộ nhận đó. Đã nhiều lần, căn cứ vào nhiều tư liệu lịch sử tin cậy, được xử lý khoa học, chúng tôi chứng minh rằng, thành Thăng Long trước thế kỷ 19, có giới hạn phía Đông đến quảng trường Ba Đình (hay là đường Hùng Vương) quận Ba Đình hiện tại; các cung điện chính của thành Thăng Long trước thế kỷ 19 đều nằm về phía Tây quảng trường Ba Đình; còn phía Đông quảng trường Ba Đình mà chủ yếu là khu vực thuộc thành Hà Nội xây năm 1805, chưa bao giờ thuộc về Hoàng Thành Thăng Long, nếu có chăng là một số biệt điện, cỡ như Đông cung của các Hoàng tử của nhà Lê thuộc các thế kỷ 17-18, sau khi các chúa Trịnh mở rộng toà thành về phía Đông. Các cung điện chính, như điện Kính Thiên các triều đại Trần và Lê sau đó. Hơn 10 bản đồ vẽ về thành Thăng Long trước thế kỷ 19, được biên vẽ từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, điều ghi nhận giới hạn phía Đông của thành Thăng Long trước thế kỷ 19 không quá giới hạn vừa nêu, đó là giới hạn lấy vị trí đền Quán Thánh làm mốc cho tường đông cuả Thăng Long (xem bản đồ).
Bản đồ thành Hà Nội khoảng 1873 được biên vẽ vào năm 1910 là một tư liệu tin cậy để nghiên cứu về thành Hà Nội xây năm 1.805 ấy. Kiến trúc được gọi là điện Kính Thiên; có lẽ là lần đầu tiên xuất hiện ở bản đồ này, với chú thích có ký hiệu A trong tòa thành (citadelle) với tiếng Việt là: Kính Thiên và tiếng Pháp Palais du Roi. Theo bản đồ thì cột cờ và tòa điện được gọi là Kính Thiên nằm trên trục Nam - Bắc và cửa Bắc thành Hà Nội. Có lẽ từ bản đồ này lần lượt xuất hiện cái gọi là điện Kính Thiên chăng? Từ đó mà người ta nhầm lẫn đây chính là điện Kính Thiên của Thăng Long trước thế kỷ 19.
Lịch sử bao giờ cũng là lịch sử, những ngộ nhận lịch sử cũng là thường tình và cũng rất là lịch sử do đó luôn luôn có sự đính chính lịch sử và tìm tòi lại sự thật lịch sử. Khu vực được gọi là Kính Thiên được Bộ Quốc phòng bàn giao lại cho chính quyền địa phương cũng có giá trị lịch sử của nó, để giới nghiên cứu lịch sử có được tiếp cận thực địa, để cho mọi người tham quan thành cổ Hà Nội. Dù đây không phải là điện Kính Thiên của Thăng Long thế kỷ 19, thì vẫn là một di tích vô giá của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội. Biết bao biến đổi của Thăng Long - Hà Nội mà còn lại được cỗ rồng đá tuyệt mỹ này cũng là một vinh hạnh tột cùng cho đế đô ngàn năm trước.
Bùi Thiết
PHẢN BIỆN CỦA : Vũ Hoàng - 18/294 ngách 11/6 Đội Cấn, Cống Vị, Ba Đình .
Sau khi đăng bài "Hoàng thành Thăng Long: Không có điện Kính Thiên xây năm 1805” (DĐDN số 37) và bài "Hoàng thành Thăng Long các thế kỷ XI - XIX ở đâu?” (DĐDN số 40) của nhà sử học Bùi Thiết - Thư ký khoa học Viện Văn hóa, BBT đã nhận được bài viết của ông Vũ Hoàng - nhà nghiên cứu môn Địa lý học lịch sử với nhiều ý kiến khác xa quan điểm của tác giả Bùi Thiết. Để rộng đường dư luận, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Theo từ điển của Đào Duy Anh thì "ngộ nhận" có nghĩa là nhận lầm, nhận sai; theo nghĩa đó tôi nhận ra trong cuộc đời gần 80 năm của mình, tôi đã nhiều lần nhận lầm, hiểu sai và chắc vẫn còn ngộ nhận nhiều lần nữa. Cái khó nhất là nhận ra sớm điều mình đang ngộ nhận để sửa. Vì vậy khi đọc bài "Thành Thăng Long: Không có điện Kính Thiên xây năm 1805” của ông Bùi Thiết đăng trên Báo DĐDN số 37 ra ngày 12/5/2004 có nhiều chỗ "ngộ nhận" nên cũng muốn trao đổi với ông đôi điều. Cũng chỉ xin trao đổi trên cơ sở các tài liệu mà chính ông Bùi Thiết đã sử dụng trong các bài viết của ông.
Mở đầu bài ông viết: "Thành Thăng Long xây năm 1805 là toà thành của Tổng trấn Bắc Thành thì trong toà thành không thể có cung điện nào được phép mang tên là điện Kính Thiên cả, bởi vì ở Bắc Thành làm gì có vua để xây điện Kính Thiên". Theo tôi trong câu này có nhiều điều ngộ nhận. Theo Hoài Đức phủ toàn đồ hoạ năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) do ông Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến vẽ - Địa Đồ Bác Cổ số A - 2 - 3 - 32 thì thành Thăng Long xây 1805 có tên điện Kính Thiên. Thành này có dành một dinh ở phía Đông điện Kính Thiên cho Tổng trấn Bắc Thành ở; đến năm 1931 Minh Mệnh bỏ Tổng trấn Bắc Thành ở; đến năm 1931 Minh Mệnh bỏ Tổng Trấn Bắc Thành lập tỉnh Hà Nội thì dinh đó dành cho Tổng đốc Hà Nội ở, không làm gì có thành của Tổng trấn Bắc Thành riêng. Điện Kính Thiên này là hành cung cho vua khi ra Bắc trú chân. Sách Đại Nam Thực Lục chính biên (ĐNTL) Tập 3 Tr 190 chép: Năm 1804 sửa hành cung ở Bắc Thành. Bắc Thành trước dùng điện Kính Thiên của nhà Lê làm hành cung. Đến nay sai làm thêm một toà ở sau điện làm nơi trú chân khi vua đi tuần thú.
Còn câu: ở Bắc Thành làm gì có vua để xây điện Kính Thiên thì cũng không hẳn như vậy. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) T3, Tr 174, 175 chép: “Từ đời nhà Lê, kinh đô đều đặt ở đây, lại có tên là thành Phụng Thiên, ở trong thành Đại La. Thành lâu năm sụt lở, đến đời Tây Sơn theo nền cũ đắp quanh từ cửa Đông Hoa đến cửa Đại Hưng”. Như đã biết: Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân, ở Thăng Long không có vua, nhưng điện Kính Thiên vẫn tồn tại. ở Huế, cung điện của các vua triều Nguyễn bị tàn phá nặng nề, nhưng những năm gần đây nhiều cung điện ở đó được xây dựng, tu bổ lại mà không có vua. Điện Kính Thiên trong thành Thăng Long không chỉ dùng làm hành cung mà còn được dùng làm sở bang giao với các sứ thần phương Bắc. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí Tập 3 Tr 175 chép: “Các đời Gia Long, Minh Mạng, Triệu Trị dùng thành này làm sở bang giao. Sách Đại Nam Thực Lục chính biên Tập 3 chép: "Để đón sứ nhà Thanh đem cáo sắc và quốc ấn đến phong (Tr 158)... ngày Quý Mão làm đại lễ bang giao. Hôm ấy sáng sớm đặt lộ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên đến cửa Chu Tước, ngoài cửa đến sông Nhị Hà thì bày lễ binh tượng". Đọc tiếp bài viết của ông Bùi Thiết ta thấy trong đó có đưa ra một kết luận khẳng định là: "Thành Thăng Long trước thế kỷ XIX có giới hạn phía Đông đến Quảng trường Ba Đình (nay là đường Hùng Vương). Điều này chẳng có gì mới vì nó giống như ý kiến của các tác giả sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội do Trần Huy Liệu chủ biên xuất bản năm 1960. Sách này viết: "Phía Đông giáp với thành Hà Nội thời Nguyễn tức là giáp với Quảng trường Ba Đình và con đường Hùng Vương".
Điều khác biệt lớn nhất là sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội chỉ xem đây là một dự đoán, đúng nghĩa là còn có chỗ cho các ý kiến khác, còn trong bài viết của ông Bùi Thiết thì kết luận đó là khẳng quyết và từ đó dẫn đến nhận định: “Đây là một sự thật lịch sử đang bị ngộ nhận” và Bùi Thiết viết tiếp: "Việc nói lên sự thật lịch sử quả là khó khăn... Bùi Thiết nhận cho mình sứ mệnh lịch sử là: "Không thể không nói thậm chí phải nói đi nói lại nhiều lần để xoá đi những ngộ nhận đó”.
Thưa ông Bùi Thiết: "Có bao giờ ông nghĩ rằng sự khẳng định trên là một sự ngộ nhận lớn nhất trong đời của mình không?". Thưa ông các sử gia xưa đều cho rằng điện Kính Thiên hay điện Thiên An đều dựng trên núi Nùng. Trong sách ĐNNTC Tập 3 Tr 179 chép về núi Nùng như sau: "Núi Nùng: ở trong kinh thành, còn tên là núi Long Đỗ; Lý Thái Tổ đóng kinh đô, dựng chính điện ở trên núi, đời Lê gọi là điện Kính Thiên; bản triều đặt làm hành cung, vẫn gọi theo tên cũ; năm Thiệu Trị thứ ba đổi gọi là điện Long Thiên (điện đình ở núi Nùng có xây bệ rồng cao 9 bậc, tả hữu có 2 con rồng dài hơn 1 trượng).
Thưa ông Bùi Thiết, ông có cho đây cũng là một sự ngộ nhận không?
Khoảng 10 ngày sau tôi lại được đọc bài: "Hoàng thành Thăng Long các thế kỷ XIX ở đâu?” tác giả vẫn là ông Bùi Thiết đăng ở Báo DĐDN số 40 ra ngày 21/5/2004. Để đi thẳng vào vấn đề chính mà đầu đề bài báo đã đặt ra ta có thể bỏ qua những thông tin không cần thiết, mà xem vào kết luận của bài báo, xem tác giả viết thế nào: "Bởi vì hơn 10 bản đồ Thăng Long thời Lê (có nguồn gốc từ bản đồ Thăng Long năm 1490 đều chỉ định phía Đông thành Thăng Long không quá đại lộ Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình hiện nay". Thế là đáp số vẫn như bài báo trước; không cần nói thêm.
Xin hỏi mấy câu về bản đồ:
- Bản đồ ông cho đăng ở bài báo này có ghi là Bản đồ thành Thăng Long trước thế kỷ XIV (tức thế kỷ XIII); không rõ ông có lẫn không bởi thế kỷ XIII thuộc thời nhà Trần thì làm sao có vương phủ chúa Trịnh được, Vương phủ của chúa Trịnh chỉ có thể có vào thời Trịnh Tùng (1570-1623).
- Ông chỉ căn cứ vào những bản đồ có nguồn gốc từ bản đồ Thăng Long năm 1490 mà suy cho đời Lý, đời Trần từ 1010 đến 1490 lại biết được các bản đồ này đều chỉ định phía Đông thành Thăng Long có thể không quá đại lộ Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình hiện nay thì người đọc liệu có thể tin được sự suy diễn đó là có cơ sở khoa học hay chỉ là lời nói ngoa ngôn, nghĩa là lời nói bày đặt ra.
- Tất cả bản đồ thời Lê ta đều thấy địa danh Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam trước mặt điện Kính Thiên, có bản đồ còn vẽ Quốc Tử Giám nằm chếch về phía Tây Nam điện Kính Thiên trông xa. Xin đăng tấm bản đồ vẽ năm 1490 theo sách Hồng Đức số A 2499 của Thư viện khoa học TƯ để độc giả cùng xem.
Nếu giở bản đồ du lịch Hà Nội trước sau năm 2000 ta cũng có thể thấy Quốc Tử Giám nằm ở phía Tây Nam điện Kính Thiên ngày nay thật./.
Vũ Hoàng - 18/294 ngách 11/6 Đội Cấn, Cống Vị, Ba Đình
BẢN ĐỒ HỒNG ĐỨC 1490 .
Hoàng thành Thăng Long các thế kỷ XI - XVIII ở đâu?
BÙI THIẾT 
Vấn đề toà thành Thăng Long thế kỷ XI - XVIII, trong đó có hoàng thành, nằm vào vị trí nào của Hà Nội hiện tại là vấn đề được giới nghiên cứu xem xét từ nhiều thập kỷ nay; các ý kiến nêu ra vẫn còn là những giả thiết khoa học, bởi vì trên thực địa Hà Nội chưa làm lộ ra dấu vết của tòa thành. Được biết sắp tới Viện Khảo cổ học sẽ tổ chức Hội thảo xác định vị trí Hoàng thành Thăng Long chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu bản đồ cổ. 
Cuối năm 2003, kết quả ban đầu của cuộc khai quật khảo cổ lớn nhất từ trước đến nay, tại số 1 phố Hoàng Văn Thụ, làm loé lên hi vọng có thể xác định được vị trí thành Thăng Long. Nhân lộ ra những dấu tích vật chất về hơn 1.000 năm của Thăng Long, Hà Nội, một số người chỉ mới đến quan sát hiện trường, với những ngổn ngang hiện vật và dấu tích nền kiến trúc, chưa thông qua xử lý thông tin và thông tin chưa có hệ thống, đã vội vã khẳng định rằng đây là Hoàng thành Thăng Long, có người còn khẳng định cụ thể hơn là phía Tây Hoàng thành hoặc là điện Giảng Võ hay là điện Thiên An, Chí Kinh... 
Lập luận của họ thật đơn giản, đó là vô vàn hiện vật gỗ, đá, đất nung và nền của một số công trình kiến trúc mà theo họ thì nền kiến trúc đó chính là nền của các cung điện nằm ở trong Hoàng thành, những hiện vật đó là thuộc về các cung điện?
Câu hỏi đặt ra là vì sao nó thuộc về cung điện của Hoàng thành? Một phản biện cần thiết phải được đặt ra, bởi vì những hiện vật, di tích nền kiến trúc như thế có thể tìm thấy bất kỳ nơi nào trong khu vực 4 quận nội thành cũ của Hà Nội những hiện vật các thời Lý - Trần - Lê có ở khắp nơi trong lòng đất Hà Nội. Nếu các khu vực có những hiện vật trường khai quật rộng như thế! Chẳng hạn khu vực Vương Phủ, nay nằm ở phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, nếu được giải tỏa và khai quật với diện tích rộng hàng vạn m2 cũng có thể cho những hiện vật không thua kém gì? Như vậy để muốn nói rằng, những hiện vật của một kiến trúc nào đó nhất định, nếu không có những bằng chứng khác nhau chỉ định đích danh kiến trúc.Tương tự như vậy, dấu vết của nền kiến trúc (dù lớn hay bé) một khi chỉ là nền kiến trúc, không có một chứng cứ địa danh cụ thể nào, thì không cho phép nói kiến trúc đó là thuộc loại nào (cung điện, biệt điện, kiến trúc tôn giáo, và tậm chí là dinh thự riêng...). 
Bởi vì hiện nay, chúng ta chưa có tiêu chí chuẩn nền móng cho những loại kiến trúc lịch sử, rằng cung điện thì phải kiểu nền này, chùa chiền thì kiểu nền nọ, dinh thự quan lại có kiểu cách khác của nền... Vả lại khái niệm cung điện, chùa quán, dinh thự, phủ... mang nặng tính chất sử dụng hơn là kết cấu kiến trúc, rằng một kiến trúc như thế cũng có thể gọi là cung điện, cũng có thể gọi là dinh thự biệt điện và cũng có thể dùng vào những mục đích sử dụng khác nhau nếu người ta sử dụng chúng có chủ đích. Như vậy chúng ta vẫn chưa có chứng cứ để xếp các nền kiến trúc kèm theo hiện vật vừa khai quật thuộc về cấu thành nào của Thăng Long trước thế kỷ XVIII; nó chưa thể là cung nọ, đền kia, chưa chắc là khu vực của hoàng thành, biết đâu đó lại nằm ở phần đất ngoài thành Thăng Long thuộc vào một biệt điện hay một ngôi chùa lớn nào đó của kinh thành thời Lý - Trần?
Địa điểm vừa khai quật chắc chắn thuộc kinh đô Thăng Long trước thế kỷ XVIII, nhưng thuộc kinh thành - hoàng thành - cấm thành là một câu hỏi khó khăn; bởi vì ngần ấy tư liệu như đã được lộ ra, như chúng tôi nói đặt vào đâu của Thăng Long cũng được nếu có thêm những chỉ định mang tính địa danh học lịch sử tin cậy. Để có thể có được những chứng cứ tin cậy, cần thiết phải tiến hành công tác xử lý thông tin có hệ thống, có nghĩa là những tư liệu khảo cổ học đã lộ ra phải đặt vào trong tổng thể đã xác định là kinh thành là Hoàng thành, là cấm thành hay là một cung điện cụ thể nào đó? Trong khi chưa xác định được khu vực số 1 Hoàng Văn Thụ hiện nay thuộc vào vị trí và giới hạn nào của Thăng Long xưa, thì chưa cho phép nói đây là điện Thiên An hay điện Giảng Võ, hay là khu vực Tây Hoàng thành Thăng Long được! 
Chúng tôi nghiêng và giả thiết cho rằng khu vực này nằm ngoài Hoàng thành thời Lý - Trần và đến thời Lê Trung Hưng, khi mở rộng thành Thăng Long về phía Đông, là khu vực xen kẽ các công trình chùa thời Lý - Trần và biệt điện hay Đông cung, nhiều biệt điện mới xây chồng lên trên nền các ngôi chùa hoang phế?Bởi vì hơn 10 bản đồ Thăng Long thời Lê (có nguồn gốc từ bản đồ Thăng Long năm 1490) đều chỉ định phía Đông thành Thăng Long có giới hạn không quá nhiều về phía đông so với chùa Quán Thánh, có thể xác định phía đông thành Thăng Long không quá đại lộ Hùng Vương và quảng trường Ba Đình hiện nay, cho nên khu vực đang khai quật nằm sát tường phía đông và ngoài thành Thăng Long.Một khi xác định được giới hạn của thành Thăng Long sẽ cho phép ta xác định vị trí nền kiến trúc đã lộ ra, và đó là kiến trúc nằm ngoài Hoàng thành còn kiến thúc đó thuộc loại hình nào, là biệt điện, là dinh thự, là chùa quán... vẫn là những ẩn số chưa dễ gì có lời giải cuối cùng và là lời giải chính xác. Ẩn số này vẫn đi mãi theo năm tháng, và chờ những cơ may thật ngẫu hứng lịch sử mới hiểu được.
Là một bộ sưu tập lớn và hiện vật văn hóa - lịch sử của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội; việc nghiên cứu, khai thác và phát huy di sản là những công việc khó khăn và nặng nề, đặt lên vai các ngành, các cấp và những ai có liên quan, một sự vội vàng nào đó cần được điều chỉnh và những thờ ơ chần chừ cũng không kém phần nguy hại. Thành Thăng Long và cả Hoàng thành cũng như các cung điện trong thành Thăng Long trước thế kỷ XVIII đã và đang thu hút công sức của mọi người yêu mến Thăng Long - Hà Nội; song phải có đủ mọi chứng cứ để đi đến kết luận.
Bùi Thiết
Cửa nghiên cứu Thăng Long rộng mở - BÙI THIẾT .
Những tháng cuối năm 2003, cuộc khai quật khảo cổ học (KCH) tại số 1 phố Hoàng Văn Thụ, Quận Ba Đình, làm lộ ra hàng triệu hiện vật, di vật, dấu tích... của hơn 1.000 năm lịch sử, làm cho mọi người dân Hà Nội và đồng bào cả nước hân hoan như được sống lại với Thăng Long xa xưa ấy. 
Những thông tin về cuộc khai quật KCH tầm cỡ này bay đi mọi nơi khắp hành tinh, và chúng ta nhận được nhiều lời đáp từ ngoài biên giới về sự kiện này.Không ít băn khoăn trước một hiện tượng ngổn ngang cổ vật vừa được lộ ra ấychưa thông qua xử lý một cách khoa học - khách quan và có hệ thống. Vấn đề lớn nhất và cơ bản nhất đối với địa chỉ này là cái gì hay vị trí nào ở Thăng Long các thời Lý- Trần- Lê (thế kỷ XI-XVIII)? Để trả lời câu hỏi này, theo một thông lệ và quy trình nghiên cứu đối với một di chỉ KCH, các nhà nghiên cứu phải dựa vào toàn bộ hiện tượng, tầng văn hoá - hiện vật và đặt tất cả vào trong hệ thống để có kết luận nên chăng và bao giờ cũng giữ một khoảng cách để có thể có những kết luận mới. Những người và cơ quan hữu trách trong quá trình khai quật hoặc sau khi khai quật xong, sẽ công bố một báo cáo đầy đủ đánh giá xác định những giá trị của hiện vật và địa điểm đã khai quật một cách khoa học. Quyền phát ngôn trước hết thuộc về những ai và cơ quan nào chỉ trì khai quật. Tất nhiện để có được báo cáo và những kết luận khoa học, phải có sự nỗ lực nghiên cứu khoa học của nhóm cộng tác và với nhiều nhà khoa học chuyên ngành và liên ngành. Đối với địa điểm khai quật KCH này, sự nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành là vô cùng cần thiết để trả lời câu hỏi nó là cái gì của Thăng Long xưa? Trong khi chờ đợi câu trả lời trên, vài tháng qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất hiện những câu trả lời như đinh đóng cột rằng đây là Hoàng thành Thăng Long, cũng có người xác định gần hơn là phía tây Hoàng Thành, lại có người chỉ định đây là cung điện của Hoàng thành hoặc là điện Giảng Võ hay là điện Thiên An... Với hơn 2 vạn m2 và hơn 4 triệu hiện vật thu được, di chỉ KCH này có được một sức hút lớn đối với những ai quan tâm đến Thăng Long xưa; rất nhiều vấn đề sẽ được đặt ra để nghiên cứu và tìm hiểu đối với nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng có thể nói được rằng đã bắt đầu xuất hiện nghiên cứu chuyên ngành - liên ngành đối với địa điểm KCH này.
Tuy nhiên cũng cần nói lại rằng phải có một định hướng cho nghiên cứu khoa học, để quy tụ mọi đóng góp, giúp cho việc tìm hiểu Thăng Long qua địa điểm KCH này. Việc tìm hiểu nghiên cứu phải được đặt trong hệ thống và không vi phạm lịch sử, trước hết nhằm để trả lời câu hỏi đã nêu, rằng đây là nơi nào của Thăng Long xưa? Một câu hỏi bao trùm lên hàng vạn câu hỏi và thay cho hàng triệu triệu điều mà lịch sử dân tộc ta băn khoăn, trăn trở từ khi Thành Thăng Long bị hoang phế cuối thế kỷ 18 đến nay.
Bùi Thiết
Ngọn gió của ngàn đời
Chiều nay ùa trở lại
(Lưu Quang Vũ)
1. Về khai quật .
1. Cuộc khai quật khảo cổ học do lúc đầu là khai quật chữa cháy nên ít nhiều đã mang tính ồ ạt, dẫn đến có lúc đã không theo nguyên tắc khai quật khảo cổ học. Theo PGS. TS Tống Trung Tín, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam: “Nếu thực hiện theo đúng phưng pháp khảo cổ học, 20.000 m2 ấy phải khai quật trong vòng 50 năm”(Báo An Ninh thế giới, số 163 ra ngày 2/9/2004). Đọc được thông tin trên đây, bất cứ ai là người bình tĩnh và giàu lòng tin vào giới khảo cổ nhất, cũng không khỏi lo lắng khi người ta tiến hành khai quật khảo cổ học như vậy ở đây. Một khi nguyên tắc của khai quật khảo cổ học không được tôn trọng, thì kết qủa của cuộc khai quật này có tin cậy hoàn toàn được không? Người ta có quyền cho rằng một cuộc khai quật chữa cháy sẽ mang lại một kết qủa “chữa cháy”. 
2. Vì không được rộng về mặt thời gian, hơn nữa khối lượng công việc lại quá lớn nên việc khai quật chưa đi liền với nghiên cứu và chỉnh lý hiện vật (việc nghiên cứu và chỉnh lý ngay các hiện vật rất quan trọng, vì nó sẽ ghi lại được những nhận xét ban đầu rất quan trọng; để từ đó có thể định hướng được cho công việc khai quật: trữ lượng hiện vật ở đâu nhiều, ít, các hiện vật đào được nhiều thì nằm vào hố nào, nằm vào tầng văn hóa nào,...). Các báo chí lúc đó đã cho biết đoàn cán bộ khai quật ở công trường này đã phải làm việc rất gấp rút, ồ ạt để chạy đua với thời gian để bàn giao mặt bằng, và để tránh các mùa mưa bão đang ập đến. Sức ép như vậy cũng không nhỏ. Khai quật để chạy đua với thời gian không cho phép các nhà khảo cổ học vừa khai quật vừa nghiên cứu và chỉnh lý hiện vật. Và như vậy khai quật mà không có định hướng, khai quật mải miết, không cần biết nên dừng lại ở đâu, có nên đình chỉ lại công tác khai quật hay không. Mục tiêu là phải làm hết 20 ngàn mét vuông đất. 
3. Khai quật khảo cổ học chưa đi liền với nghiên cứu bảo tồn. Chính vì thế mà ngay từ đầu Viện Khoa học xã hội Việt Nam chưa có sự hợp tác chặt chẽ với UBND Hà Nội và Bộ Văn hoá thông tin. Và do vậy, các chuyên gia về bảo tồn, bảo tàng, các chuyên gia về thiết kế xây dựng chưa có dịp tiếp cận với hố khai quật khi nó đang được mở ra. Thật đáng tiếc vì có thể một số vấn đề có thể đã bị bỏ qua: Chất đất, chất lượng nước, môi trường trong lòng đất, độ ẩm, ...
Bài toán bo tồn còn treo lơ lửng, cũng có một phần là do công việc này chưa làm cho tốt. 
2. Về hiện vật .
Từ khu vực khai quật, theo báo cáo tổng hợp là các hạng mục sau: Nền móng kiến trúc, Hệ thống thoát nước, Giếng nước, Dấu vết của một dòng sông cổ, Vật liệu xây dựng, Đồ sứ gia dụng và ngự dụng.
Các báo cáo khoa học cá nhân và các báo cáo tổng hợp của các tiểu ban đều đã đề cập đến giá trị của các hiện vật này. Một số báo cáo khoa học đã nhấn mạnh đến tính chất cung điện, tính chất hoàng thành, cấm thành của các hiện vật này, với các nhận xét sau: Là các cung điện có nền móng kiến trúc lớn nhất từ trước đến nay; Hệ thống thoát nước đa dạng về loại hình và với kỹ thuật cao; Gạch ngói có các chữ Hán; Đồ gốm ngự dụng: đẹp, tinh xảo, có chữ Kính, chữ Trường Lạc khố, ...
Tuy nhiên, với các góc nhìn thận trọng hơn, cũng đã có một số ý kiến nhận định khác với ý kiến của số đông các nhà khoa học. Dưới đây là tóm tắt các ý kiến đó:
1. Hiện vật khai quật được, xét về loại là không có gì mới hoặc lạ so với những gì đã biết, đã đào được ở Hà Nội, Hoa Lư, Tam Đường, Thiên Trường. Các cán bộ Bảo tàng cũng không thấy có gì mới (kể cả gạch ngói có chữ viết). Hơn nữa những hiện vật này là những hiện vật mang tính lưu động (Trần Lâm Biền - Báo Thể thao & Văn hóa. Số 90, ngày 11/11/2003. tr. 35).
2. Về các giếng nước được phát hiện trong khu khai quật, ông Trần Lâm Biền cho biết theo truyền thống á Đông trong nhiều khu vực tại Cấm thành là không có giếng nước (Báo Thể thao & Văn hóa. Số 90, ngày 11/11/ 2003. tr. 35).
Thạc sĩ Phan Thanh Hải (TT Bảo tồn di tích cố đô Huế) cho biết tại Huế trong khu vực trục đường từ Ngọ Môn đến điện Thái Hòa tức là khu vực tiền triều, nơi diễn ra những điển lễ của triều đình không hề có các giếng nước. Thạc sĩ còn cho biết, tại Tử Cấm thành và Hoàng thành Bắc Kinh Trung Quốc cũng như vậy. 
Theo báo cáo khai quật thì trong khu vực khai quật có đến 9 cái giếng (sớm nhất là thời Đại La và muộn nhất là thế kỷ XIX). Và do vậy, chỉ có thể ca ngợi ở đây có những cái giếng cổ, với môi trường tốt. Điều này tự thân nó bác lại ý kiến cho rằng khu vực khai quật nằm trong khu vực quan trọng của Cấm thành. 
3. Khu vực khai quật được nhiều nhà khoa học nhấn mạnh đến tính chất Cung đình, Cung cấm, Hoàng thành ... nhưng trừ đồ gốm ngự dụng (cũng là một loại hiện vật lưu động), chúng ta không thấy có các đồ dùng trong cung điện, mang tính chất quý tộc như: đồ trang sức (vàng, bạc, ngọc, đá quý), gương đồng, lược đồi mồi, giá bút, lư trầm, cúc áo bằng đồng, vũ khí trang trí và thị uy ... 
Mãi đến khi Hội nghị toàn quốc tại 2 Lê Thạch thì chúng ta mới thấy được hình ảnh một mảnh kim loại màu vàng có chạm khắc hình rồng - xin lưu ý đây cũng chỉ là hiện vật mang tính lưu động và quá đơn lẻ. 
4. Kết quả khai quật khảo cổ học cho thấy đã phát hiện được di tích của lò gốm trong hố khai quật. Cho dù các lò gốm này là để sản xuất gốm ngự dụng đi nữa thì đây cũng là một chứng tích để chứng minh rằng khu vực đang khai quật không phải là khu cung điện (thuộc Cấm thành hay Hoàng thành). 
Hơn nữa, các đồ gốm mà ta đào được, có những vật có đề chữ Trù (Bếp), chữ Khố (Kho - cho dù là kho Trường Lạc),...cho thấy đây thuộc khu vực không quan trọng (khu Bếp, khu kho tàng). Xin lưu ý rằng, đồ sứ ngự dụng để nhà vua dùng cơm hàng ngày, chắc không cần đánh dấu chữ Trù (Bếp), chữ Khố (Kho) như kiểu đánh dấu bát đĩa thường gặp ở nhà quê.
3.5. Về hướng của các kiến trúc trong khu vực khai quật, có ý kiến cho rằng nó không tiêu biểu (Báo Thể thao & Văn hóa. Số 90, ngày 11 - 11 - 2003. tr. 35) khi so với điện Kính Thiên. Không biết phát biểu này có gợi mở được những suy đoán khoa học gì cho các nhà khảo cổ học. 
3.6. Theo các nhà khảo cổ học thì tại khu vực khai quật thấy có dấu tích một dòng sông cổ (có thể là sông Ngọc Hà), và ở đó thấy có vỏ ốc, nhuyễn thế, sen và các thực vật dưới nước. Một số vị cho rằng có thể các trụ lục giác được bố trí dọc theo dấu tích dòng sông cổ này là các đài tạ dựng bên sông để hóng mát. 
Vậy phải chăng có dòng sông chảy giữa lòng Cấm thành, Hoàng thành ? Sông này có tên gọi là gì? Chảy từ đâu đến đâu? Là sông tự nhiên hay sông đào? Tồn tại trong bao lâu thi bị lấp đi?
3. Công tác thông tin .
Công tác công bố thông tin, họp báo để giới thiệu về công tác khai quật khảo cổ học và công bố kết luận của các nhà chuyên môn là một vấn đề hết sức quan trọng và đòi hỏi thận trọng. Chúng ta đã từng có sai lầm về công tác công bố thông tin ở cuộc khai quật Dưng Lôi. 
Nhiều người trong chúng ta hôm nay không biết ai là người đầu tiên gọi khu khai quật là Hoàng thành Thăng Long; và cơ quan thông tấn nào đưa ra tên gọi Hoàng thành Thăng Long trước nhất.
Tạp chí Xưa & Nay là cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã in ấn và phát hành cuốn sách “Hoàng thành Thăng Long - phát hiện khảo cổ học”.
Như vậy, rõ ràng là các cơ quan này đã khẳng định khu vực khai quật chính là một phần của Hoàng thành - thậm chí Cấm thành Thăng Long, tức là đã có thể định vị nó trên bản đồ cổ.
Tuy nhiên, sau đó, các tiểu ban mãi đến tháng 6, tháng 7, tháng 8 mới đặt vấn đề muốn các nhà khoa học trả lời vị trí mà ta đào là ở đâu, có phải là Hoàng thành không ? Tức là đã khẳng định là Hoàng thành rồi, lại đi hỏi xem chỗ đào đây có phải là Hoàng thành không. Việc hỏi này không khoa học. 
Theo dõi các cuộc hội thảo, chúng ta thấy rằng, không có sự tham gia của các nhà khoa học trước đó đã có ý kiến khác. 
4/ Hợp tác và phối hợp liên ngành .
Theo dõi việc nghiên cứu Hoàng thành sẽ thấy Viện Khảo cổ học chưa tập hợp được đầy đủ các chuyên gia cho các vấn đề mà mình quan tâm. Đây là điều mà nhiều người nhận thấy và đã phát biểu về vấn đề này. Ví dụ, trong Hội nghị khoa học toàn quốc về Hoàng thành Thăng Long (19 và 20/8/2004, tại 2 Lê Thạch) cả ông Dương Trung Quốc (Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử) và Trương Quốc Bình (Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật) đều cho rằng việc khai quật và nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long từ đầu chí cuối đều không thấy có sự tham gia của các kiến trúc sư (Xem Báo Tiền Phong chủ nhật. Số 34, ra ngày 22 - 8 -2004. tr. 1 và tr. 14). Trường hợp ông Nguyễn Việt Châu ở Viện Kiến trúc là tự viết báo cáo và xin đến đọc (Xem Báo Thể thao & Văn hóa. Số 68, ra ngày 24 - 8 - 2004. tr. 35). 
Trong dư luận giới khoa học cũng đã có nhắc đến việc không thấy các ông Trần Lâm Biền, Phạm Quốc Quân, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Duy Hinh, Lương Ninh,... có điều kiện và diễn đàn để phát biểu rõ và thẳng thắn các nghi vấn khoa học của mình xung quanh việc khai quật và nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long. Các ông này chỉ được mời đến phát biểu một lần rồi không thấy trở lại nữa. Và nếu đúng như thế, thì Viện Khảo cổ học đã tự khép hẹp lại cánh cửa học thuật, mất đi cơ hội nghe hết, nghe đủ các ý kiến của nhiều nhà khoa học.
5/ Về vấn đề Bảo tồn .
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học có quy mô khai quật lớn nhất. Hố khai quật lại nằm ngay tại trung tâm Hà Nội, một khu vực quan trọng và có nhiều ý nghĩa lịch sử là khu Ba Đình. Hiện vật khảo cổ học thu được rất lớn, trong đó lần đầu tiên thấy dấu tích một kiến trúc rất lớn; nhiều dấu vết kiến trúc của nhiều thời đại xếp chồng lên nhau.
Với các ý nghĩa trên, cuộc khai quật này được sự quan tâm rất sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước cũng như của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bè bạn trên thế giới. Đây cũng là cuộc khai quật được các cơ quan thông tấn báo chí quan tâm nhiều nhất. Đặc biệt đây là một cuộc khai quật đầu tiên đặt ra rất gay gắt về vấn đề bảo tồn.
Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng: Là cuộc khai quật lớn nhất nhưng lại thu được ít hiện vật mới/ lạ nhất, nếu so với trước đó. Việc khai quật diễn ra với tốc độ chóng mặt để đảm bảo về mặt thời gian, nên dẫn đến nhiều sơ xuất nhất: khai quật nhanh, nhiều lúc không theo nguyên tắc khảo cổ học; khai quật không kết hợp với nghiên cứu; khai quật xong mà chưa đưa ra được dự án về bảo tồn dẫn đến các hố khai quật bị chịu sự phá huỷ của thời tiết. 
Đây là cuộc khai quật kho cổ học nhiều ý kiến tranh cãi nhất về vấn đề bảo tồn.
Bài viết nhỏ này gom các ý kiến khác nhau đã được các báo chí ghi lại trong suốt thời gian qua, hy vọng sẽ là một duyên cớ để tất cả chúng ta cùng ngẫm lại một chặng đường đã qua, trong mối quan tâm chung về một di sản quý báu của dân tộc. 
Xem bài CÂU CHUYỆN VỀ DI TÍCH 18 HOÀNG DIỆU của Nguyễn Lâm Khang (Nguyễn Xuân Diện) đã đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật số 1-2005, tr. 69-72. Bài viết đăng ở đây đã có sửa chữa và thêm một số đoạn ngắn so với bài trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số1-2005.
( Xin xem tiếp bài 7 ) - dienbatn.

ĐI TÌM THĂNG LONG THÀNH .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/i-tim-thang-long-thanh-bai-11.html

 

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *