PHONG THỦY LUẬN . BÀI 7.

7/26/2013 |
PHONG THỦY LUẬN . BÀI 7.

PHẦN II : KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG ( tiếp theo ).
( Vì chỉ khảo sát qua Cổ dịch Huyền không nên dienbatn không đi sâu vào những kiến thức cơ bản. Những điều này hầu như sách nào cũng nói đến và các bạn có thể tham khảo trên trang http://www.huyenkhonglyso.com/. Đây là một trang quy tụ nhiều nhân tài như Vanhoai, VinhL...Longnguyenquang, vuivui...là những người quen của dienbatn từ trang Tuvilyso.net . Có ai qua đó, cho dienbatn gửi lời hỏi thăm và tặng vanhoai tấm ảnh khoảng gần 10 năm trước tại nhà chị Mai - Thái Bình. ).Phần viết của Khảo qua Huyền không chỉ chú trọng vào những điểm cần lưu ý và các sách ít nói đến .dienbatn.


NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý TRONG KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG.
1/ PHÂN KIM.
Phân kim là phép đặt sơn hướng, đặt tâm cổng, cửa vào những vị trí có độ số tốt nhất. Tránh phạm vào Không vong, lạc quái, sai thác.


A/ KHÔNG VONG : 
* Đại không vong : 
Là đường phân tuyến ( có 8 đường ) giữa các cung ( quẻ ) bát quái, trong đó có 4 Đại không vong có thấu Địa long và 4 Đại không vong không có Thấu địa long.
a/ Tứ Đại Không vong  không có thấu Địa long bao gồm những đường sau : 
* Đường phân tuyến giữa quẻ Chấn và quẻ Cấn.
Đường phân tuyến giữa quẻ Tốn và quẻ Ly.
*Đường phân tuyến giữa quẻ Khôn và quẻ Đoài.
Đường phân tuyến giữa quẻ Càn và quẻ Khảm.
Tứ Đại Không vong  có thấu Địa long là hung họa nhất trong trạch vận.
b/ Tứ Đại Không vong có Thấu Địa long là khi mà sơn hướng nhà , tâm cổng, cửa rơi vào các vị trí sau : 
* Long Nhâm Thìn ( Vòng 60 Thấu Địa long ).
* Long Ất Mùi.
* Long Mậu Tuất.
Long Kỷ Sửu.
Lạc vào Bát Đại không vong là tối hung họa, thường gây ra bệnh tật, tai họa, chết người, hao tiền , tốn của. Khi lạc vào Lạc vào Bát Đại không vong thì đa phần gia đình không hòa thuận , hôn nhân lục đục, hay bị cô quả .
* Tiểu không vong  : 
Là đường phân tuyến giữa 24 sơn. Có 16 đường Tiểu không vong , trong đó có 8 đường Tiểu không vong không có long và 8 đường Tiểu không vong có long.
a/ 8 đường Tiểu không vong không có long bao gồm :
* Đường phân tuyến giữa Mão - Ất .
Đường phân tuyến giữa Thìn - Tốn.
Đường phân tuyến giữa Ngọ - Đinh.
Đường phân tuyến giữa Mùi - Khôn.
Đường phân tuyến giữa Dậu - Tân.
Đường phân tuyến giữa Tuất - Càn.
Đường phân tuyến giữa Tý - Quý,
Đường phân tuyến giữa Sửu - Cấn.
b/ 8 đường Tiểu không vong có long.
 Đường phân tuyến giữa  Tân - Mão.
Đường phân tuyến giữa  Quý - Tỵ.
Đường phân tuyến giữa  Giáp- Ngọ.
Đường phân tuyến giữa Bính - Thân.
Đường phân tuyến giữa Đinh - Dậu.
Đường phân tuyến giữa  Kỷ - Hợi.
 * Đường phân tuyến giữa  Mậu - Tý.
Đường phân tuyến giữa  Canh - Dần.

Tiểu Không Vong .

Tuyến Tiểu không vong: nếu tuyến Đại không vong là những tuyến nằm ngay lằn ranh của 2 hướng, thì tuyến Tiểu không vong là những tuyến nằm ngay lằn ranh của 2 sơn. Như chúng ta đã biết, trên la bàn gồm 360 độ được chia ra 8 hướng, mỗi hướng chiếm 45 độ. Trong mỗi hướng lại được chia ra làm 3 sơn, nên mỗi sơn chiếm 15 độ. Cho nên tổng cộng có 24 sơn trên la bàn, và vì vậy cũng có 24 tuyến Tiểu không vong chính như sau:

- Hướng BẮC: gồm những tuyến: 352 độ 5, 7 độ 5, và 22 độ 5.

- Hướng ĐÔNG BẮC: những tuyến: 37 độ 5, 52 độ 5, và 67 đô 5.

- Hướng ĐÔNG: gồm những tuyến: 82 đô 5, 97 độ 5, và 112 độ 5.

- Hướng ĐÔNG NAM: những tuyến: 127 độ 5, 142 độ 5, và 157 độ 5.

- Hướng NAM: gồm những tuyến: 172 độ 5, 187 độ 5, và 202 độ 5.

- Hướng TÂY NAM: những tuyến: 217 độ 5, 232 độ 5, và 247 độ 5.

- Hướng TÂY: gồm những tuyến: 262 độ 5, 277 độ 5, và 292 độ 5.

- Hướng TÂY BẮC: những tuyến: 307 độ 5, 322 độ 5, và 337 độ 5.

Tuy nhiên, nếu để ý kỹ thì ta thấy tất cả những tuyến Tiểu không vong cuối cùng của mỗi hướng như 22 độ 5 của hướng BẮC, 67 độ 5 của hướng ĐÔNG BẮC, 112 độ 5 của hướng ĐÔNG... cũng chính là những tuyến Đại không vong.

Cho nên trên thực tế, những nhà có hướng phạm phải những tuyến Đại không vong bao giờ cũng kèm thêm vấn đề phạm cả tuyến Tiểu không vong nữa. Chính vì vậy mà mức độ phát sinh tai họa của chúng mới càng thêm mãnh liệt.

Ngoài 24 tuyến Tiểu không vong chính ở trên, còn cần phải để ý đến những tuyến nằm gần khu vực đường ranh giới giữa 2 sơn, nhưng cũng chia thành những trường hợp khác biệt như sau:

1) Những tuyến nằm ở phần giữa 2 sơn, nhưng 1 sơn thuộc Địa nguyên Long, 1 Sơn thuộc Thiên nguyên Long (xin xem lại bài “24 sơn-hướng và Tam nguyên Long): thì tất cả những tuyến nằm gần tuyến Tiểu không vong chính trong khoảng cách là 1 độ rưỡi - dù là bên trái hay bên phải của nó – cũng đều bị coi là những tuyến Tiểu không vong.

Thí dụ: Hai sơn NHÂM và TÝ của hướng BẮC được phân chia bởi tuyến vị 352 độ 5. Đó là tuyến Tiểu không vong chính. Nhưng vì NHÂM thuộc Địa nguyên Long, còn TÝ thuộc Thiên nguyên long, cho nên tất cả những tuyến nằm cách tuyến vị 352 độ 5 trong phạm vị 1 độ 5 – dù là bên phải hay bên trái của nó – như các tuyến 351 độ, 352 độ, 353 độ, 354 độ cũng đều là những tuyến Tiểu không vong cả. Nhưng các tuyến như 350 độ 5, hoặc 354 độ 5 thì lại không còn được coi là những tuyến Tiểu không vong nữa, vì đã cách tuyến Tiểu không vong chính hơn 1 độ 5 rồi.

Một điều cần nói thêm là vì giữa Địa nguyên long với Thiên nguyên long trong cùng 1 hướng bao giờ cũng có vấn đề trái nghịch âm-dương, nếu Thiên nguyên long là sơn âm thì Địa nguyên long sẽ là sơn dương, và ngược lại, cho nên những tuyến Tiểu không vong nằm giữa 2 sơn (hướng) này còn bị gọi là những tuyến “sai lạc âm-dương” hoặc “âm-dương sai thố”.

2) Những tuyến nằm ở phần giữa 2 sơn, nhưng 1 sơn thuộc Thiên nguyên Long, 1 sơn thuôc Nhân nguyên Long: thì chỉ có tuyến vị chính giữa 2 sơn mới bị coi là tuyến Tiểu không vong mà thôi. Tuy nhiên trên thực tế thì những tuyến Tiểu không vong này đều vô hại. Lý do là vì trong cùng 1 hướng thì sơn thuộc Thiên nguyên Long bao giờ cũng cùng âm-dương với sơn thuộc Nhân nguyên Long. Mà vì đã nằm trong cùng 1 hướng, lại cùng 1 khí âm hoặc dương, nên dù có nằm chồng lên đường phân giới giữa 2 sơn cũng vẫn không sợ khí bị pha tạp hay hỗn loạn.

Cho nên nguyên tắc chính của Huyền không vẫn là vấn đề thuần khí. Khí đã thuần thì có thể kiêm nhiều, khí không thuần thì dù 1 độ cũng không kiêm, còn những tuyến vị Đại-Tiểu không vong chỉ là những mức độ ấn định sự kiêm hướng sai lạc quẻ (Đại không vong) hoặc âm-dương (Tiểu không vong) đã tới mức độ tối đa, cực kỳ hung hiểm rồi vậy.

Thí dụ: Hai sơn TÝ và QUÝ thuộc hướng BẮC được phân chia bởi tuyến vị 7 độ 5, nên trên lý thuyết thì đó là tuyến Tiểu không vong chính. Nhưng vì TÝ là âm sơn, thuộc Thiên nguyên Long; còn QUÝ cũng là âm sơn, thuộc Nhân nguyên Long. Giữa chúng không có sự khác biệt về âm-dương (vì cùng là âm sơn) hay tính chất (cùng thuộc hướng BẮC). Cho nên ngay cả những nhà có tuyến vị là 7 độ 5 (tức trùng với tuyến Tiểu không vong) cũng không sao cả.

3) Những tuyến nằm giữa 2 sơn, nhưng 1 sơn là Nhân nguyên long, 1 sơn là Địa nguyên Long: đây chính là trường hợp của những tuyến Đại không vong đã nói ở phần trên.

Như vậy nếu xét kỹ thì thật ra trên la bàn chỉ có 8 tuyến Đại không vong và 8 tuyến Tiểu không vong chính mà thôi. Bên cạnh chúng còn có thêm 1 số tuyến nằm trong khoảng cách 1 độ 5 ở 2 bên cũng đều được xem là những tuyến vị Đại-Tiểu không vong cả. Còn ngoài ra, những tuyến vị nằm giữa 2 sơn thuộc Thiên nguyên Long và Nhân nguyên Long trên thực tế không phải là Không vong. Còn những tuyến nằm giữa 2 sơn thuộc Nhân nguyên Long và Địa nguyên Long là trường hợp Đại không vong rồi vậy.

Xét về mức độ tác hại thì những hướng Tiểu không vong cũng gây ra nhiều tai họa cho những ai sống trong căn nhà đó, như gia đình đổ vỡ, ly dị, tài lộc hao tán, dễ bị thưa kiện, hình ngục, người sống trong nhà cũng thường bất chính, hay vi phạm luật lệ, phạm pháp hoặc trộm cắp, hung dữ, lại dễ thấy ma quỷ... Cho nên sách “Trạch vận tân án” mới viết những nhà phạm tuyến Tiểu không vong (tức âm-dương sai thố) thì thường là “tiến, thoái lưỡng nan, không tạo dựng nổi uy quyền, danh tiếng. Lại chuốc kiện tụng, thị phi, trở thành bại cục (cách thất bại), hao tổn công sức”.

Ngoài những tuyến Đại-Tiểu không vong ở trên thì trong 1 số sách vở còn đề cập đến những đường phân giới của 64 quẻ tiên thiên, và cũng xem những tuyến đó là Đại không vong. Rồi gộp hết tất cả những tuyến đó, cộng với những tuyến Đại-Tiểu không vong chính và gọi chúng là những tuyến “BẤT KHẢ LẬP” (tức những tuyến vị không thể chọn để lập hướng nhà hay mộ).

Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì thấy những đường phân giới của 64 quẻ Tiên thiên thật ra cũng trùng với những tuyến vị “Phân châm” hoặc “Phân kim” trên Tưởng bàn (tức 1 loại la bàn do Tưởng đại Hồng làm ra), mà trong đó, cách tính để chia tuyến vị của 64 quẻ Tiên Thiên như sau: lấy 64 quẻ chia cho 8 hướng, thì mỗi hướng có 8 quẻ. Mỗi hướng tổng cộng có 45 độ, chia cho 8 quẻ thì mỗi quẻ chiếm 5 độ, còn dư 5 độ. Để phân chia cho đồng đều, Tưởng đại Hồng xếp 5 quẻ tiên thiên vào phần giữa của mỗi hướng (tỗng cộng là 40 độ). Còn khu vực tiếp giáp giữa mỗi hướng thì để chừa ra mỗi bên là 2 độ 5 (tổng cộng là 5 độ). Khu vực này được coi là khu vực “xuất quái” (ra khỏi quẻ hay hướng).

Như vậy, tổng cộng độ số của 8 quẻ (40 độ) và khoảng trống ở gần ranh giới giữa 2 hướng (5 độ) là 45 độ, tức đã bao hàm hết 1 hướng. Nếu tính như vậy thì tất cả mọi tuyến vị chính giữa của 24 sơn đều nằm trên đường phân giới của 64 quẻ Dịch.

Đó là lý do tại sao có 1 số trường phái Phong thủy (nhất là Tam hợp phái) thường cho rằng tuyến vị chính giữa của 24 sơn là những tuyến “Đại không vong”, cho nên khi lập hướng nhà hay mộ thì họ thường tránh những tuyến vị đó, mà kiêm sang bên phải hoặc trái 3 độ, chứ không dám lấy đơn hướng.

Đây là 1 sai lầm, chẳng những vì họ đã không biết tới vấn đề hướng nhà phải thuần khí, mà còn có thể kiêm không đúng độ số, vì không phải tọa-hướng nào cũng có thể kiêm 3 độ, mà còn tùy thuộc vào những sơn mà chúng tọa lạc là âm hay dương.

Hơn nữa, hướng kiêm 3 độ cũng là lằn ranh giới giữa chính hướng và kiêm hướng, nên nếu kiêm không cẩn thận, hướng đó có thể đã ra ngoài chính hướng và thuộc về kiên hướng, nên có thể đang từ tốt biến thành xấu...

Ngoài ra, vì các sách vở cổ xưa hoặc đã thất bản, hoặc cố tình không nói tới lý do tại sao lại đem 64 quẻ Tiên thiên vào trong la bàn. Nhưng theo thiển ý của người viết thì có lẽ chỉ là dùng để phụ đoán thêm tính chất của từng hướng nhà mà thôi (như trường hợp Nhị thập bát tú...), chứ không phải mục đích là để chọn phương hướng.

Chính vì vậy mà tuy Tưởng đại Hồng vẫn đưa 64 quẻ Tiên thiên vào trong la bàn do ông chế tạo, nhưng khi chọn hướng thì vẫn lấy đơn hướng (tức là đè lên đường phân giới của quẻ Dịch). Điều này chứng tỏ đường phân giới của 64 quẻ Tiên thiên thật ra không có giá trị gì về phương diên lập hướng cả.

Đối với những nhà phạm tuyến Đại-Tiểu không vong tuy rằng rất xấu, nhưng nếu biết cách hóa giải thì cũng có thể biến xấu thành tốt mà xử dụng được, chứ cũng không phải nhất quyết vì chúng thuộc những tuyến "bất khả lập" nên hoàn toàn không xử dụng được.

Ngoài ra, đối với trường hợp những nhà có tọa-hướng thuộc Thiên nguyên Long kiêm Nhân nguyên Long, hoặc Nhân nguyên Long kiêm Thiên nguyên Long tuy có thể kiêm nhiều mà không sợ phạm Không vong, nhưng vẫn phải kiêm đúng pháp độ, tùy theo tọa-hướng thuộc sơn dương hay âm. Nếu thuộc sơn dương thì có thể kiêm tới 7 độ, nếu là sơn âm thì chỉ có thể kiêm tới 6 độ mà thôi.

 

I. ĐẠI KHÔNG VONG:

1 Xác Định Phân Độ:

* Bắc: Từ 337, 5 độ - 0độ (Chính Bắc) - 22, 5 độ; Quái Khảm quản.

* Đông Bắc: 22,5 độ - 45 độ (Chính Đông Bắc) - 67, 5 độ. Quái Cấn quản.

* Đông: 67,5 độ - 90 độ (Chính Đông) - 112,5 độ. Quái Chấn quản.

* Đông Nam: 112, 5 độ - 135 độ (Chính Đông Nam) - 157, 5 độ.Quái Khôn quản. (Theo Phong Thủy Lạc Việt).

* Nam: 157, 5 độ - 180 độ (Chính Nam) - 202,5 độ.Quái Ly quản

* Tây Nam: 202,5 độ - 225 độ (Chính Tây Nam) - 247.5 độ. Quái Tốn quản (Theo Phong Thủy Lạc Việt)

* Tây: 247,5 độ - 270 độ (Chính Tây) - 292, 5 độ. Quái Đoài quản.

* Tây Bắc: 292,5 độ - 315 độ (Chính Tây Bắc) - 337, 5 độ. Quái Càn quản.

Dễ dàng nhận thấy rằng hướng (hay tuyến) 22,5 độ, 67,5 độ, 112,5 độ, 157,5 độ, 202,5 độ, 247,5 độ, 292,5 độ và 337,5 là tất cả 8 tuyến biên của hai Cung khác nhau, nghĩa là tuyến giáp ranh, tuyến biên giữa hai Cung khác nhau, thế thì 8 tuyến này gọi là Hướng (hay Tuyến) Đại Không Vong. Nói một cách chính xác hơn là hướng Chính Đại Không Vong.

Nhưng, bên cạnh đó Tuyến Đại Không Vong lại có quy định rằng

từ Chính Đại Không Vong, nếu nghiêng qua trái 1,5 độ hay nghiêng qua phải 1,5 độ thì vẫn thuộc phạm hướng Đại Không Vong.

Ví dụ: Hướng nhà có tọa độ: 157,5 độ.

Xét trên đồ hình 24 Sơn Bát Trạch, ta thấy rằng đó là biên của hai CungTốn và Ly. Cụ thể hơn nữa là biên, giáp ranh giữ hai sơn: Sơn Tị và sơn Bính. Vậy nhà này đã phạm hướng Đại Không Vong.

Giả sử nhà này không ở hướng 157,5 độ mà là hướng 159 độ  ta thấy rằng, từ hướng Chính Đại Không Vong 157,5 độ qua phải 1,5 độ là 156 độ thì theo tiêu chí trên, nhà này vẫn phạm Đại Không Vong.

Cũng như vậy, nếu ở hướng 159 độ thì vẫn thuộc Đại Không Vong.

Vì vậy trong một biên độ từ 156 độ đến 159 độ đã phạm hướng Đại Không Vong. Các hướng Đại Không Vong theo đó suy ra.

2. Ảnh Hưởng Của Đại Không Vong:

Nhà phạm hướng Đại Không Vong thì người trong nhà thường ngủ gặp ác mộng, ma quái, tinh thần dễ bất an, tâm lý hay xáo động, cáu gắt, nóng giận vô cớ, dễ liên quan chuyện thị phi, kiện cáo, hình ngục, nếu phạm nặng (thêm các yếu tố cực xấu khác) thì nhà có kẻ chia ly, thân thuộc ly tán, gia đạo bất an, biến động...

 II. TIỂU KHÔNG VONG:

Cũng giống như Đại Không Vong, nhưng là tuyến biên hay tuyến giáp của hai Sơn trong cùng một Cung.

1. Âm Dương Sai Thố:

Theo quy ước 24 Sơn Bát Trạch được phân định Âm Dương. Một cung gồm 3 sơn trong 3 sơn đó có một sơn Dương 2 sơn Âm hoặc 1 sơn Âm 2 sơn Dương. Vì vậy, khi chọn hướng, nếu chọn nhầm hướng là biên của hai sơn thì đã phạm Tiểu Không Vong; mặt khác, nếu hai sơn đó, một sơn Âm và một sơn Dương, thì gọi là "Âm Dương sai thố", tức là Âm Dương tạp loạn.

Ví dụ:Nhà hướng 172,5 độ. Xét trên đồ hình 24 sơn Bát Trạch, 172,5 độ là ranh giới giữa hai sơn Bính và Ngọ trong cùng một Cung Ly. Hơn nữa, sơn Bính dương, còn sơn Ngọ âm, như vậy đã phạm Tiểu Không Vong và âm dương sai thố.

Giả sử nhà đó không phải hướng 172,5 độ mà là 174 độ thì sao? Vẫn thuộc Tiểu Không Vong Tuyến vì từ biên Tiểu Không Vong 172,5 đánh qua phải hay qua trái 1,5 độ thì vẫn phạm Không vong. Do vậy trong biên 171 đến 174 độ, hướng nhà đó đã phạm Tiểu Không Vong.

2. Đồng Âm Đồng Dương:

Trong cùng một cung nếu hướng nhà là biên giáp ranh của hai sơn mà hai sơn đó đều là Âm hay đều là Dương thì theo sách xưa, không phạm Không Vong mà gọi là được hướng.

Ví dụ: hướng 187,5 độ là biên của hai sơn Ngọ và Đinh, đều là hai sơn Âm; tuyến 142,5 độ là biên của hai sơn Khôn và Tị là hai sơn Dương nên các hướng này đồng Âm đồng Dương nên , theo sách xưa, không coi là Không Vong.

3. Ảnh Hưởng Của Tiểu Không Vong:

Cũng như Đại Không Vong, nhưng mức độ thấp hơn, người trong nhà đó mọi sở cầu đều bất như ý, công danh, tài lộc đều không thuận, sức khỏe và tình cảm gia đình đều có vấn đề, hay ngủ mơ thấy điềm gở, tinh thần không thông suốt...

III. HÓA GIẢI KHÔNG VONG:

Khi nhà phạm hướng "Bất khả lập tuyến", tức phạm Không Vong, thường là xấu, do vậy có cách hóa giải hướng này bằng những phương pháp trấn yểm của phong thủy. Có nhiều giải pháp, nhưng thường thì phương pháp phổ thông nhất vẫn được biết đến là xây xéo, tức chuyển xéo hướng Đại môn, hay hướng cửa cộng thêm việc thiết kế số đo Thông thủy cửa nhà sao cho vào cung tốt của thước Lỗ Ban. Tuy nhiên kích thước phổ thông thường dùng trên thị trường hiện nay có những điểm chưa chuẩn . Do vậy muốn có số đo thước tấc chính xác cần phải tìm hiểu về  thước Áp bạch xích và Thốn bạch xích của người xưa hoặc người có chuyên môn phong thủy giỏi trực tiếp đo hoặc tư vấn về phương pháp đo.

B/ LẠC QUÁI.
Lạc quái là đường sơn hướng của nhà , đường tâm cổng, cửa nằm sát vào đường phân tuyến giữa các quẻ. Long lạc quái bao gồm :
* Giáp Dần - Đinh Mão.
* Đinh Tỵ - Canh Ngọ.
* Canh Thân - Quý Dậu.
* Quý Hợi - Giáp Tý.
Lạc quái là tiến thoái bất nhất, vợ chồng lục đục, anh em bất hòa, văn nhân hay mắc phải bệnh tâm thần, nhiều sự việc bất hạnh liên tiếp xảy ra. Người ta gọi nhà Lạc quái là " tiện cục ".

C/ ÂM DƯƠNG SAI THÁC .
Âm dương sai thác là đặt sơn hướng của nhà hoặc tâm của cổng, cửa  nằm đúng vị trí của bát long sau :
* Bính Thìn - Kỷ Tỵ.
* Kỷ Mùi - Nhâm Thân.
* Nhâm Tuất - Ất Hợi.
* Quý Sửu - Bính Dần. 
Nhà phạm vào âm dương sai thác là tiến thoái lưỡng nan ( Còn gọi là âm dương sai thố ). Nhà loại này hay bị kiện tụng , miệng tiếng thị phi, khẩu thiệt, tổn nhân đinh, dễ mất chức, giới sĩ bị bôi bẩn , hoen ố. Nhà này gọi là nhà " Bại cục ".

D/ PHÂN KIM.
1/  Giải thích phân kim: Vòng tròn 360 độ chia cho 60 phần, bắt đầu từ Giáp Tý cho đến Quý Hợi. Giáp Tý hành Kim nên gọi là phân Kim.

2/ Chính Kim : Là vượng khí.
Chính kim có 24 thấu địa long như sau : 
Kỷ Mão - Nhâm Ngọ - Ất Dậu - Bính Tý.
Quý Mão - Nhâm Ngọ - Ất Dậu - Canh Tý.
Canh Thìn - Quý Mùi - Bính Tuất - Đinh Sửu.
Giáp Thìn - Đinh Mùi - Canh Tuất - Tân Sửu.
Tân Tỵ - Giáp Thân - Đinh Hợi - Mậu Dần.
Ất Tỵ - Mậu Thân - Tân Hợi - Nhâm Dần.
Đây chính là 24 Huyệt khí Bảo châu. Trên La kinh phần trên Huyệt khí Bảo châu được tô màu đỏ.

E/ PHÂN CHÂM THEO TRẠCH VẬN.
Khi đặt La kinh lấy hướng nhà, hướng cổng , cửa chúng ta phải lấy theo Tam nguyên Long ( Thiên, Địa , Nhân nguyên Long ).
* Địa nguyên long : + Giáp, Canh , Nhâm , Bính.
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
* Thiên nguyên long : + Càn , Khôn , Cấn, Tốn.
- Tý , Ngọ , Mão, Dậu.
* Nhân nguyên long : + Dần , Thân , Tỵ , Hợi.
- Ất , Tân , Đinh, Quý.

Lưu ý : Hướng nhà dương, hướng cửa âm và ngược lại cùng một Long thì khí mạnh. Thí dụ : Hướng nhà Dần , Thân, Tỵ, Hợi thì dùng hướng cửa Ất, Tân , Đinh, Quý.
Khi đặt phân châm thì lấy hướng nhà và cổng, cửa cùng một Long ( Thiên, Địa, Nhân ) . Nếu hướng nhà dương thì lấy hướng cửa , cổng âm và ngược lại.
Khi đặt phân châm phải lấy chính hướng ở giữa 24 hướng để lọt bào Huyệt khí Bảo châu. Không đặt vào hướng Không vong, lạc quái và Không vong sai thác.
Ví dụ : Nhà tọa Sửu - Hướng Mùi : Cả hướng và tọa đều là âm Địa nguyên long. Nên mở cửa các hướng Canh , Bính.

G/ KHI LÀM NHÀ CẦN CHÚ Ý : 
1/ Hướng nhà ; Nằm vào Huyệt Khí Bảo châu.
2/Tuổi chủ nhà.
3/ Cổng.
4/ Cửa : Theo hướng nhà.
5/  Cung vị : Cung vị hung đặt WC, nhà kho, chuồng nuôi gia súc. Cung vị cát : Đặt bếp, bàn thờ, giường ngủ.
6/ Hợp hướng : Sau khi được vị cát thì xoay theo hướng cát . Lưu ý : Vị là tọa độ trong nhà, hướng là theo phương 24 hướng.
7/ Vận : Cứ 20 năm tính là một vận. Nếu :
* Mệnh tốt, vận xấu là nhà trung bình.
* Mệnh tốt , vận tốt là nhà rất tốt.
* Mệnh xấu , vận tốt là nhà khá.
* Mệnh xấu , vận xấu là nhà rất xấu.
8/ Đặt cổng : Khi đặt cổng phải đặt vào các vị trí cát như Sinh khí, Phúc đức, Thiên y để được sinh vượng. 
Kỵ đặt cổng :
"Quý nhập lôi môn thương trưởng tử.
Hỏa kiến thiên môn thương lão ông.
Ly xâm Tây Đoài phương thương nữ.
Tốn nhập Khôn vị mẫu ly ông.
Đoài gia Chấn , Tốn trưởng nhi nữ.
Cấn Ly âm phụ hoa gia phong.
Cấn , Khảm tiểu khẩu đa tật bệnh.
Khôn Khảm trung nam mạng tảo vong." 

Giải thích :
* Nhà tọa Chấn , nếu mở cổng phương Càn là phương động khí do người qua lại . Vì vậy khi Càn kim tràn vào khắc Chấn mộc là trưởng nam  ( Càn phối Chấn ra Ngũ quỷ ).
* Nhà tọa Càn nếu mở cổng, cửa phương Ly hỏa - Càn  phối ly thành tuyệt mạng khiến bố, ông chết.
* Nhà Đoài mở cổng cửa phương Ly . Đoài phối Ly sinh Ngũ quỷ, khắc Sơn chủ Đoài là con gái.
* Nhà tọa Khôn mở cổng cửa phương Tốn . Khôn phối Tốn thành Ngũ quỷ, khắc người mẹ.
* Nhà tọa Tốn mở cửa phương Đoài . Đoài phối với Tốn thành Lục sát khắc tốn là trưởng nữ.
* Nhà tọa Cấn mở cổng phương Ly. Cấn phối Ly tạo thành họa hại 
Các câu khác tương tự.
Lưu ý : Ta cần lưu ý khi gọi nhà theo sơn hoặc hướng. Ví dụ : Nhà hướng Nam, sơn chủ Khảm người ta gọi là Ly trạch, dùng để phối hướng. Còn gọi là Khảm trạch để sử dụng khi mở cổng cửa nhà. Mặc dù vẫn chỉ là một căn nhà có mặt tiền Nam, mặt hậu Bắc gọi là Sơn chủ.

H/ HOÀNG TUYỀN - BÁT SÁT.
1/ Hoàng tuyền ca ( Tính theo hướng ).
Đinh , Canh, Khôn thượng thị hoàng tuyền.
Ất , Bính tu phòng Tốn thủy tiên.
Giáp, Quý hướng lai hưu kiến Cấn.
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương Kiền.
Ví dụ : * Nhà hướng Khôn mà tại các hướng Đinh, Canh có đường đi vào , hoặc có thủy lao đến từ 2 hướng đó là phạm vào Hoàng tuyền..
* Nhà hướng Cấn mà có con đường hoặc thủy chạy tới từ hướng Giáp, hướng Quý là phạm Hoàng tuyền. Kể cả khi có hồ ao ở hai hướng đó cũng là phạm Hoàng tuyền.
* Nhà hướng Càn mà gặp đường đi vào , hoặc có thủy lao đến từ 2 hướng Tân, Nhâm phạm Hoàng tuyền. Kể cả khi có hồ ao ở hai hướng đó cũng là phạm Hoàng tuyền.
Hoàng tuyền là vị trí tử huyệt của tọa Sơn mà thôi. Với Sơn là can âm thì sợ vị trí Tử. Với Sơn là can dương thì sợ chữ Tuyệt.

I/ VÒNG TRÀNG SINH.
* Giáp + trường sinh khởi thuận từ Hợi.
* Ất - Tử tại Hợi khở nghịch.
* Bính , Mậu khởi thuận Trường sinh tại Dần.
* Canh khởi thuận Trường sinh tại Tỵ.
* Tân Khởi Tử nghịch tại Tỵ.
* Nhâm Khởi Trường sinh thuận tại Thân.
* Quý khởi Tử nghịch tại Thân.
Ví dụ : Nhà tọa Giáp - Hướng Canh khởi Trường sinh tại Hợi theo chiều thuận.

K/ BÁT SÁT CA.

Khảm Long Khôn Thỏ Chấn sơn Hầu.
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
Cấn Hổ Ly Chư vi sát diệu.
Mộ trạch phùng chi nhất về hưu.
Nếu lưng nhà (Sơn chủ ) ở Khảm tức Nhâm , Tý , Quý . Khảm thuộc hành Thủy mà mở cửa chính hay phụ, cổng ngõ ở phương Thìn , hoặc tại phương Thìn có thủy lưu, thủy tụ hoặc có con đường đâm xộc thẳng đến là Thìn Thổ khắc Khảm Thủy. Do vậy gọi là phạm Bát sát. Các câu khác tương tự.
Người ta có câu : Nhất vị - Nhị Hướng để chỉ tầm quan trọng của hướng và vị.

L/ LINH THẦN - CHÍNH THẦN.
a/ Chính Thần : Phương vị chính vận gọi là chính Thần. Chính Thần là phương vượng Khí.
b/ Linh Thần: Là phương vị đối xứng với Chính Thần. Linh Thần là phương thoái Khí.
c/ Chính Thủy : Ở phương vị Linh Thần nếu thấy Thủy gọi là Chính Thủy. Chíh Thủy là Thủy vượng.
d/ Linh Thủy : Ở phương vị Chính Thần nếu thấy Thủy gọi là Linh Thủy. Linh Thủy là Thủy suy.

2/ LẬP VẬN BÀN.
 Vận bàn bao gồm 3 tinh đẩu : Vận tinh - Hướng tinh - Sơn tinh. Việc sắp xếp vận bàn là sắp xếp sự vận hành giữa 3 cung tinh đẩu trong cửu cung trạch.
a/ Vận tinh : Lấy số của vận đặt vào trung cung thuận phi tinh ( Thiên vận cửu tinh ).
b/ Hướng tinh : Lấy vận tinh đến Hướng nhập Trung cung , ghi nhỏ bên phải rồi dùng số của Lạc thư phối âm hoặc dương để định quỹ đạo thuận nghịch.
c/ Sơn tinh : Lấy vận tinh tới Sơn nhập trung cung ghi nhỏ bên trái rồi lấy số của Lạc thư phối âm hay dương để định quỹ đạo thận hay nghịch.
( Các bạn nên tham khảo kỹ trong các cuốn : Thẩm thị huyền không học )
Đồ hình bay thuận.



Đồ hình bay nghịch .



Thiên nguyên Long Sơn Ngọ - Hướng Tý vào Bát vận.




3/ ĐÁO SƠN - ĐÁO HƯỚNG.
Đáo là sự trở về. 
* Đáo Sơn là Sơn tinh của Vận lại trở về đúng vị trí của Sơn.
* Đáo hướng : Là Hướng tinh của Vận lại trở về đúng vị trí của Hướng.
Đáo Sơn tức là vượng Sơn.
Đáo Hướng tức là vượng Hướng.
Khi Sơn tinh của Vận khí ra số trùng với số của Đại vận thì ta gọi là Sơn Vận.
Khi Hướng tinh của Vận khi ra số trùng với số của Đại Vận ta gọi là Hướng Vận.
Trong mối quan hệ giữa Sơn và Hướng : Sơn chủ nhân đinh - Hướng chủ về Tài lộc.
Trong Địa lý Phong thủy phải xét Lý khí và môi trường . 
Lý khí : Trạch vận bên trong ngôi nhà là nội lực , chiếm 40 %.
Môi trường : Ngoại cảnh bên ngoài căn nhà , chiếm 60 %.
Vượng sơn vượng hướng:  thích hợp nhất dùng cho sơn long, cũng hợp nhất với đa số : Phía sau có chủ tinh đẹp, thanh tú, long hổ đều dừng, mắt trước có đoạn cong đẹp của dòng nước chảy bao quanh, hoặc có nước trong sâu của hồ phát quang, là thế cục đạt tiêu chuẩn. Từ cục diện đó trọng lai long tinh thể, quá hẹp, xuất mạch, thắt lại, huyệt tinh dựa vào nhọn, tròn và vuông là ba ngôi sao tốt. Toạ hướng của xuấ mạch và kết huyệt không thể phạm và xuất quẻ, sai lầm. Nếu kết hợp những người liêm khiết, có phúc lâu dài, chủ chính là quân tử, nhân khẩu đông đúc, xuất hiện quý nhân, trường thọ, ái tinh lại có được "thập hợp", "Thư hùng chính phối", "Tam ban quẻ", phúc trạch dài lâu.

4/ THƯỚNG SƠN - HẠ THỦY.
Thướng là sự lên cao không đúng chỗ.
* Thướng Sơn là Hướng tinh của Vận lại đến vị trí của Sơn ngụ.
* Hạ thủy là Sơn tinh của Vận lại đến vị trí của Hướng ngụ.
Sách Thanh nang kinh có viết : " Sơn thượng long thần bất hạ thủy. Hạ lý long thần bất thướng Sơn. "
Vì vậy : 
* Thướng Sơn là suy Hướng.
* Hạ thủy là suy Sơn.Nếu trạch vận rơi vào cả thướng Sơn lẫn Hạ thủy là cực hung số 1 của trạch vận.
Thượng sơn hạ thuỷ:  thích hợp nhất với địa hình bằng phẳng. Đằng sau địa hình tương đối thấp, xa hơn một chút có suối, sông, dòng nước, hoặc có hồ nước, thác nước tụ họp. Mặt trước địa hình tương đối cao, núi cao có hình thế đẹp. Dương trạch lấy mặt nhà cao tầng là bố cục thích hợp. Từ bố cục này, mặc dù phía tứước cao phía sau thấp, phía tứước có phía sau không nhưng lại được coi là bố cục phù hợp. Nhưng cũng cần phải rõ ràng, không nên hiểu sai cho rằng chỉ cần dựa vào phía sau toạ có thuỷ, phía trước có sơn là có thể sử dụng được. Nếu mà như vậy thì lại không có nơi nào là không có đất. Thuỷ ở phía sau của toạ phải tào thành hình cong giống như hình dáng của cái tổ hoặc cái kìm ( Hình dáng là nửa hình tròn hoặc là hình chữ U). Đỉnh núi, gò đồi, kiến trúc của các toà nhà cần phải có một khoảng cách nhất định ( để không còn có cảm giác bị bức bách). Hình dáng của chúng phải đẹp, cân đối (nhìn thuận mắt), bao bọc lấy bản thân chúng ta, đó mới là mảnh đất có khí mạch, nếu sử dụng mảnh đất này sẽ có được phúc lộc dài lâu. Nếu thuỷ ở phía sau toạ nghiêng, và hướng tới mạch, đây là mảnh đất không tốt, rất dễ bị tuyệt tự, vì thế mà không nên sử dụng mảnh đất này.

5/ PHẢN PHỤC NGÂM .
Hai sao Sơn và Hướng nhập trung cung , thuận cục gọi là Phục Ngâm, nghịch cục gọi là Phản Ngâm.
* Phục ngâm là phi tinh của Sơn hướng có số trùng với số của Lạc thư.
* Phản ngâm : Phi tinh của Sơn hướng có số trùng với số của Cửu cung địa bàn ( Lạc thư ) . Khi hợp thập thành 10 , Phản ngâm hại không kém gì thướng Sơn hạ Thủy. Đây là họa đứng thứ 2 , nếu phạm phải thì tiền hết, người chết. Tuy nhiên nếu Hướng tinh vượng khí thì không coi là Phản ngâm . Các trường hợp khác không sợ phản phục ngâm là khi tạo thành cung Khảm đả kiếp, cung Ly đả kiếp, Tam ban xảo số .
Phản, phục ngâm:  Sơn tinh của Ái tinh, hướng tinh và "nguyên đơn bàn" tương đồng viết là "phục ngâm"; tương phản viết là "phản ngâm". Đương lệnh do dự, mất đi lệnh thì sẽ gặp phải rất nhiều tai hoạ, chủ về mắc nhiều bệnh, phá sản, gặp nhiều bât trắc trong cuộc sống, thậm chí còn bị tuyệt tự không có người nối dõi. Tại âm quẻ, nữ giới bị thương, tại dương quẻ thì nam giới bị thương.

Xin xem tiếp bài 8 - dienbatn .

PHONG THỦY LUẬN .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/06/phong-thuy-luan-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/06/phong-thuy-luan-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-11.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-12.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-13.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-14.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-15.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-16.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-16_16.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-18.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/khai-mo-luan-xa-bt1-dieu-khi-qua-7-luan.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-20.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-21.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/09/phong-thuy-luan-bai-22.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/09/phong-thuy-luan-bai-23.html

Xem chi tiết…

PHONG THỦY LUẬN. BÀI 6.

7/24/2013 |
PHONG THỦY LUẬN. BÀI 6.


PHẦN II : KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG.

( Tất cả các tài liệu dẫn trong bài này đều là tài liệu sưu tầm, dienbatn chỉ xin tóm lược lại ).



Cổ dịch Huyền không học là môn Địa lý bí truyền có từ rất lâu đời , nhưng cũng vì bí truyền nên những người được truyền thụ chân truyền rất ít, do vậy mà các kiến thức lọt ra bên ngoài khá muộn. Theo truyền lại bắt đầu do Quách Phác đời nhà Tấn , sau đó nối tiếp là Dương Quân Tùng đời Đường, Tưởng Đại Hồng cuối đời Minh , Ngô Cảnh Loan đời Tống và mãi đến đời Thẩm Trúc Nhưng cuối đời Thanh tác phẩm này mới lọt ra bên ngoài. Cổ dịch Huyền không học có 3 đặc điểm quan trọng : 
1/ Dùng lý luận Dịch học hậu thiên làm cơ sở.
2/Lấy phương pháp sắp xếp sao theo Lường Thiên xích làm công cụ.
3/ Lấy phân bố trường khí và môi trường tự nhiên làm căn cứ. 
Môn học này có tính lý luận cao, rất linh hoạt nên còn được gọi là " Hoạt dịch học " . Về mặt lý luận , nó lấy Khí và trường khí làm căn bản. Cái mà người đời gọi là cát hay hung đều do sự biến đổi âm dương và quan hệ sinh khắc của ngũ hành mà tạo nên. Cổ dịch Huyền không chính là nghiên cứu quy luật biến đổi của hai khí Âm - Dương cùng tính chất sinh khắc của ngũ hành trong môi trường tự nhiên , ngõ hầu tìm ra những quy luật vận động và hiểu rõ chúng để phục vụ co con người mưu cầu xu cát tỵ hung. Trong môn học này, người ta dùng La kinh làm công cụ , lấy sự sắp xếp cửu tinh , Lạc thư để xác định lý khí , lấy bố cục sông núi địa hình làm căn cứ , kết hợp cả hai mặt đó lại để xác định sự vượng suy.




A/ CĂN CỨ DỊCH LÝ CỦA HUYỀN KHÔNG HỌC.

Trong cổ dịch Huyền không, công cụ cơ bản để nghiên cứu là Dịch học. Dùng Dịch học nghiên cứu các phương vị khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong một môi trường nhất định - Đó chính là bản chất của cổ dịch Huyền không học. Nội dung chính của nó là Khí và sự vận hành của Khí . Hình thức biểu diễn của nó là sự thống nhất của phương vị không gian với sự dịch chuyển của thời gian -Đây cũng là tiền đề của lý thuyết tương đối của Anhxtanh trong môi trường 4 chiều Không - Thời gian. 

1/ Vạn vật trong vũ trụ đều hình thành từ Khí .

Kinh dịch viết " Tinh Khí là vật " , " Thiên địa yên ấm, vạn vật nảy sinh " . Hai câu đó nói rằng nguyên tố cơ bản của vũ trụ là Khí. Khí ở trạng thái hỗ độn thì trời đất chưa sinh. Khí trong, nhẹ nổi lên thành trời, khí nặng, đục chìm xuống thành đất. Trời bắt đầu phân thành dương trên , âm dưới . Khi dương Khí ở trên giao hòa với Khí Âm ở dưới thì sinh thành vạn vật. Linh Khí giao nhau sinh ra con người và vạn vật. Cho nên Khí ở khắp nơi , tồn tại mọi lúc, tạo thành vạn vật. Chúng ta cũng cần phải hiểu rằng : Khí này có bản chất bao quát hơn khí mà chúng ta thở hàng ngày. Khí mà chúng ta thở hàng ngày chỉ là một dạng thù hình của Khí mà chúng ta đang xét. Các cụ xưa có câu : " Nhất bản tán vạn thù - Vạn thù quy ư nhất bổn " - Đó chính là tính chất đặc trưng của KHÍ mà chúng ta đang xem xét.
Như vậy đến đây bắt buộc chúng ta cần phải có một định nghĩa cụ thể về KHÍ. Trong tất cả các sách từ trước đến nay, Khí không được định nghĩa cụ thể mà chỉ nêu ra những tính chất cụ thể của khí như : 
" Theo sách cổ để lại “Khí” gặp gió thì tán, nghĩa là “Khí” nhẹ, lẫn vào không khí nên bị gió cuốn đi. Nếu gió nhẹ vừa phải sẽ có tác dụng dẫn khí lưu thông, được coi là tốt. Còn gió mạnh làm tán khí, mất khí lại là không tốt.
Sách cũng ghi “Khí” gặp nước thì dừng. Thường thì khí trong tự nhiên vận động dựa theo sức mang của không khí, khi gặp vật cản sẽ đổi hướng theo dòng khí. Khí gặp nước thì dừng nghĩa là nước có khả năng giữ khí lại , khái niệm chuyên môn của phong thuỷ là “Tụ khí”. Hay nói một cách mang tính hình tượng hơn là nước có khả năng hút khí, hòa tan khí. Nước chảy chậm rãi, có chỗ dừng là rất tốt vì mang được khí tươi mới đến và lưu lại ở đó. Đó là nguyên nhân để các chuyên gia phong thuỷ nhìn dòng nước chảy để dự đoán khí vận trong lòng đất mà từ chuyên môn gọi là “Long mạch”. Tính chất của khí sẽ khác nhau tuỳ theo sự tụ thuỷ, sức chảy mạnh yếu trong lưu thông của dòng nước…..
Như vậy trong mô hình cơ học chất lưu đề nghị để nghiên cứu sự vận động, “Khí” được mô phỏng như là một chất lưu có các đặc tính sau:
* Có tính tụ hoặc tán.
* Có khối lượng quán tính nhỏ, dễ bị gió cuốn đi
* Có thể coi như độ nhớt động học thấp
* Có thể coi như có tính dính ướt mạnh với các vật thể có độ ẩm và nhiệt độ phù hợp, đặc biệt là vật thể sống, sinh vật.
“Khí” cần lưu động nhẹ nhàng, bình ổn mới có tác dụng tương tác tốt. Cũng giống như với các chất lưu khác, dòng chảy tầng bình ổn là dòng chảy lý tưởng. được coi là mang sinh khí đến. 
Dòng chảy hỗn tạp, chảy rối, dòng xoáy hay các dạng dòng chảy hẹp, vòi phun, dòng xung kích đều không tốt, gây nguy hiểm.
Chúng ta có thể hình dung tính chất thủy khí động học của “Khí phong thủy” gần giống của nước, trừ tác dụng của trọng lực, để dễ dàng cho việc khảo sát. Dòng nước chảy siết, nước xoáy mạnh cũng tạo ra xung khí, tạp khí. Nếu dòng nước bẩn thỉu, hôi hám thì khí cũng sẽ bị uế tạp, không còn mang được năng lượng sống cho con người nữa." ( Thạc sỹ Hà Mạnh Hùng ).
 Theo thiển ý của dienbatn tất cả những tính chất đã nêu ở trên chỉ là những dạng thù hình cụ thể của Khí mà chưa đi vào đúng bản chất của Khí. Với câu : " Nhất bản tán vạn thù - Vạn thù quy ư nhất bổn " - Đó chính là tính chất đặc trưng của KHÍ mà chúng ta đang xem xét , dienbatn cố gắng gượng gạo thử định nghĩa về Khí trong Phong thủy như sau, mong rằng các cao nhân bổ xung cho hoàn chỉnh.

ĐỊNH NGHĨA KHÍ VÀ TRƯỜNG KHÍ CỦA DIENBATN :

 Khí trong Phong thủy là một dạng năng lượng cơ bản để sinh ra mọi hình thức thù hình của vũ trụ và có quy luật vận động tuân theo quy luật vận động của Vũ trụ. Một tập hợp các dòng năng lượng sẽ tạo nên một Trường năng lượng có mật độ năng lượng thay đổi cả về độ lớn và chiều chuyển động. Trường năng lượng là dạng tồn tại của vật chất mà các tương tác cơ bản được thực hiện thông qua nó. Năng lượng tạo ra trường năng lượng này không phải do các hạt cơ bản như điện tử, proton... mà là những hạt có cấu trúc từ các quark với điện tích phân số. Chúng vẫn chưa được tìm ra. Tuy chưa tìm ra bản chất của chúng nhưng bằng nhiều cách, chúng ta vẫn có thể đo được chúng . Trong một không gian vật lý, có thể tồn tại nhiều trường năng lượng và các trường năng lượng này đều tuân theo Định luật bảo toàn năng lượng. Đối với thuyết Tương đối Einstein, chúng ta có thể vắn tắt như sau: Mỗi hệ quy chiếu quán tính đều tương đương nhau và vận tốc ánh sáng là tối đa. Trong khuôn khổ lý thuyết Einstein, đó là tiền đề. Nên trong một hệ tiền đề khác, thế giới khác rất có thể tồn tại vật chất nào đó có vận tốc nhanh hơn ánh sáng. Ví dụ: Chúng ta có một Hạt có khối lượng ảo thì tự nhiên nó chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Trường năng lượng của chúng ta đang xem xét có chiều không gian >= 3. Tùy theo số chiều không gian càng lớn thì tính chất của trường năng lượng này càng tinh khiết ( nhẹ, trong ). Quy luật vận động của chiều không gian lớn bao gồm toàn bộ quy luật của chiều không gian nhỏ và quy luật vận động của chiều không gian nhỏ không bao gồm toàn bộ quy luật vận động của chiều không gian lớn hơn. Trong các chiều không gian > 3 thì không còn tồn tại khái niêm không gian, thời gian và vận tốc ánh sáng không phải là lớn nhất. Thời gian trong các chiều không gian lớn hơn 3 có thể co lại hay kéo dài, có thể chồng quá khứ và tương lai lên với nhau và có thể thắng được lực hấp dẫn bằng ý chí của mình. Như vậy tại đó không có khái niệm về Thời gian.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, tất cả mọi dạng vật chất mà chúng ta có thể nhận biết đều là những dạng thù hình của KHÍ - Trường năng lượng đặc biệt tuân theo quy luật Âm - Dương , Ngũ hành.


Octonion và lý thuyết hạt cơ bản của GS.TSNguyễn Hoàng Phương.

" Vũ trụ là một hệ thống sinh học cần phải có 2 phần không thể thiếu được : 1/ Phần cứng : Vật lý học với tính chất duy lý của nó . 2/ Phần mềm : Kinh dịch với tính Minh triết của nó . Ý đồ thống nhất Đông - Tây của nhà Phật là không phải loại trừ một trong hai phía khoa học trên mà là tìm cách gộp cả hai phía trong một sơ đồ chung " 

2/ Âm - Dương đối lập và thống nhất là trạng thái cơ bản của Khí :
Một vật là một Thái cực nên thái cực chia thành âm dương. Do vậy mọi vật đều do hai khí âm - dương cấu thành. Sự đối lập và thống nhất của Khí biểu hiện thành trạng thái vật chất . Âm - dương đối lập và thống nhất là quy luật vận động của vũ trụ , nhưng giữa âm khí và dương khí không phải lúc nào cũng cân bằng nhau. Chúng có thể biểu hiện nhiều hơn hoặc ít hơn, hoặc biểu hiện thành bao dung nhau.  


Âm - dương chuyển hóa gọi là biến. Cực dương sinh âm , cực âm sinh dương. Âm dương vận hành gọi là thông - Cùng tắc biến - Biến tắc thông. Âm - dương không biến , không thông thì trời đất không tồn tại .  Sự biến hóa của âm - dương trên gọi là Đạo, dưới gọi là Khí . Nói về vạn vật là nói về Đạo, nói về hình của vạn vật là nói về Khí. " Nhất âm - Nhất dương chi vi Đạo " là cái lý này. Trong Phong thủy, phần mộ gọi là âm trạch, nhà cửa gọi là dương trạch. Địa lý Phong thủy lấy âm - dương trạch làm đối tượng nghiên cứu. Tất nhiên là chúng ta thực hiện trong hệ tọa độ Đề các - Tức là trong không gian 3 chiều. Tuy nhiên nhiều trường hợp , chúng ta vẫn cần phải có kiến thức về những chiều không gian >3 mới giải quyết chính xác công việc nghiên cứu. Các phương vị trong không gian đều là âm - dương đối lập - thống nhất. Hậu thiên Bát quái chia thành 24 sơn và hướng . Sơn và hướng lại được chia thành âm và dương, giới hạn của chúng rất rõ không thể lẫn lộn . Sự vận hành của Khí cũng chia ra âm - Dương , âm vận hành nghịch, dương vận hành thuận.  Tọa Sơn và lập hướng đều phải căn cứ theo sự vượng, suy của hai khí âm - dương.

3/ Biến đổi là sự tồn tại của sinh mệnh vạn vật. 
Trong vũ trụ này, cái duy nhất không biến đổi - Chính là sự biến đổi. Sự biến đổi của Khí là vĩnh hằng, không ngừng nghỉ. Vòng chu kỳ : Trường sinh - Mộc dục - Quan đới - Lâm quan - Đế vượng - Suy - Bệnh - Tử - Mộ - Tuyệt - Thai - Dưỡng cứ luân chuyển không ngừng không nghỉ. Trong Địa lý thì thất sắc ( 7 màu ), cửu Khí ( 9 khí ) biến đổi tuần hoàn trong sự dịch chuyển của thời gian , biến đổi tuần hoàn theo mùa, biến đổi tuần hoàn trong sự thuận nghịch của Âm - Dương. làm Phong thủy chính là phương pháp tìm cách xu cát - Tỵ hung. Chúng ta nghiên cứu Phong thủy và áp dụng vào cuộc sống không phải là tìm vũ khí chống lại Trời, chống lại quy luật vận động của vũ trụ mà chính là dựa trên sự hiểu biết của mình để hòa đồng cùng quy luật vận động của vũ trụ, thuận theo quy luật vận động của vũ trụ ngõ hầu tìm cho mình một cuộc sống an vui , hài hòa.

4/ Hệ thống lý luận của Cổ dịch Huyền không bắt nguồn từ " Thuyết quái " của Kinh dịch.
Dịch biến theo một phương vị nhất định và có tượng vật tương ứng. Các phương vị do câu : " Đế xuất hồ Chấn - tề hồ Tốn - tương kiến hồ Ly- chí dịch hồ Khôn - thành ngôn hồ Cấn " . Đây cũng chính là căn bản của Hậu thiên Bát quái Văn vương.



Mối quan hệ giữa 8 phương vị là mối quan hệ của 8 loại yếu tố của môi trường sơn - thủy. Huyền không lấy bát quai của Văn vương làm cơ sở , lấy mối quan hệ phương vị bát quai Văn vương  và thuyết Ngũ hành để xây dựng nên toàn bộ hệ thống ly luận mà chúng ta sẽ nghiên cứu. Sự phát minh ra La kinh chính là biểu hiện tập trung của hệ thống lý luận này. Hình thức nguyên thủy của La kinh là hậu thiên bát quái của Văn vương và đây cũng là loại La kinh thông dụng nhất.
Trong Địa lý, người ta dùng tượng ( hình tượng - Ý nghĩa ) của quẻ để phán đoán cát hung cho âm - dương trạch. Cho dù dùng tượng quẻ hay ngũ hành để chọn ra các tượng vật dùng để phán đoán đều phải gắn chặt với nội dung mà " Thuyết quái " bao hàm , lấy nội dung đó làm căn bản để mở rộng suy luận.

Lưu ý của dienbatn : Qua các phần trên chúng ta phải hiểu rõ định nghĩa của Khí trong phong thủy với những tính chất tổng quát. Chúng ta không thể nhầm lẫn giữa Khí và gió mặc dù gió cũng là Khí ...nhưng lại không hoàn toàn là Khí !!!! Có như vậy chúng ta mới không dẫn đến những kết luận sai lầm đến tức cười ví như cầu thang không có lan can sẽ rơi mất Khí...hoặc như sau khi dẫn khí vào nhà mà có một con mẹ mập nào đó cỡ ...dienbatn ngồi chắn trước cửa sẽ che mất đường khí lưu thông. Khí vận hành không thô thiển như vậy đâu các bạn ạ - Xin lưu ý điều này.
Xin xem tiếp bài 7 - dienbatn.

PHONG THỦY LUẬN .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/phong-thuy-luan-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/06/phong-thuy-luan-bai-4.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/06/phong-thuy-luan-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/07/phong-thuy-luan-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-11.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-12.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-13.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-14.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-15.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-16.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-16_16.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-18.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/khai-mo-luan-xa-bt1-dieu-khi-qua-7-luan.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-20.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/08/phong-thuy-luan-bai-21.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/09/phong-thuy-luan-bai-22.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/09/phong-thuy-luan-bai-23.html

Xem chi tiết…

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI.

7/10/2013 |
TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI.


( Hai thày trò tự nhận là chó hoang và mèo hoang lang thang trên đường phố Sài thành )

* TA LÀ AI ???

Những ngày mới bước chân vào nghiên cứu và thực hành Huyền Môn - dienbatn thấy có lúc mình giống Phật và cũng rất nhiều lúc thấy mình giống Quỷ quá . Những lúc vui cùng những em học sinh nhỏ nghèo khổ trong giá lạnh Tây Bắc , thấy được những nụ cười rạng rỡ trong ánh mắt trẻ thơ - Lòng mình tự nhiên chùng xuống và mơ ước có thật nhiều tiền để có thể giúp các em được nhiều hơn nữa . Tự thấy mình bé nhỏ trước nghị lực của các thày cô giáo vùng cao , trước những bàn chân trần đi học trong giá rét của các em nhỏ . Lòng thanh thản và thật bình yên . Nghĩ mình là con Phật !!!!
Những lúc gặp những người khách quái quỷ , van xin , khóc lóc vì chồng bỏ đi , tới lúc mình nhận lời nhờ Sư phụ giúp thì người đó mới ngửa bài là : Phải cho con đĩ kia một trận . Bản chất con người vốn hèn , cả mình cũng vậy . Không dám đối đầu với sự thật , phải đánh lén nhờ Huyền môn . Tức quá , mình kêu giá thật cao - Chấp nhận . Giá nào để có thể hại một con người ??? Mình lúc đó là Quỷ hay Ma ???
Mang điều đó hỏi vị A Xà Lê . Thầy mình trả lời mới nghe tưởng chớt quớt : MÀY LÀ MÀY CHỨ CÒN LÀ AI NỮA !!!!
Híc , thế mà cũng đòi là A Xà Lê .
Nhưng ngồi bình tâm suy nghĩ . Con bò , con trâu ăn cỏ nhưng rồi thứ cỏ đó sẽ biến thành máu bò , thịt bò , óc bò . Con lợn ăn cám , nó cũng biến được cám thành máu lợn , thịt lợn , óc lợn .
Còn mình , mê mải học Huyền môn , thấy ai hay cũng đến tìm kiếm và bắt chước . Mất bao thời gian làm con công , lấy lông các con khác cắm vào làm lông của mình - Riết rồi trở thành cái con ...kỳ cục .
Rất nhiều năm sau mình mới hiểu được câu nói của A Xà Lê : MÀY LÀ MÀY .
Như con ong lấy hương của trăm loại hoa , mang về làm mật ngọt của riêng nó . Mình bắt đầu mới biết tiêu hóa một chút kiến thức của nhân loại và làm ra cái giống : Thịt của dienbatn , máu của dienbatn và óc cũng là của dienbatn . Thơm hay thối cũng là dienbatn . Đơn giản như đang rỡn . Vậy mà hai phần ba cuộc đời đi qua mới hiểu được chút kiến thức tý tẹo đó .
Các bạn có ai như tôi không ???

* TAO LÀ AI ?


Vị A Xà Lê của dienbatn năm nay cũng đã gần 80 tuổi rồi nhưng vẫn rất lém lỉnh và vui tính . Ông thường nhận mình là " Đạo Sĩ - Tức là Đĩ Xạo ". Với giọng sang sảng ông phân tích cho dienbatn : Mày thấy không - Đĩ đã ghê gớm lắm rồi mà tao còn là cái con đĩ xạo thì còn ghê gớm tới đâu . Nói rồi ông cười khà khà đắc chí .

* YÊU VÀ GHÉT .


A Xà Lê cũng rất thích tám cùng dienbatn . Ông thường bảo : Tao là tao ghét nhất mấy đứa tu tu ...nghe lạ , dienbatn hỏi tu tu là sao ? Ông trả lời : Tu tu tức là miệng tu đó , mũ áo chỉnh tề , đầu tròn áo vuông , miệng Nam mô mà thí chủ nào công đức nhiều thì vồn vã , thí chủ nào không công đức thì mặt lạnh như tiền . Tao thà chơi với ma thích hơn . Ma muốn gì là nói thẳng , chẳng phải dấu diếm , màu mè vì ai cũng biết rằng : " Xấu như Ma " .
Còn dienbatn cũng gặp ma nhiều rồi - Nhưng toàn chơi với Ma đẹp không à !

* TAO LÀ THÀY MIỄU .


Một hôm dienbatn cắc cớ hỏi A Xà Lê của mình : Thày ơi - Thế Thày là Thày gì . Tỉnh bơ ông đáp : TAO LÀ THÀY MIỄU .
Ngẩn ngơ . Thấy vậy ông giải thích : Thì các thứ Thày khác người ta chiếm hết rồi . Ở Chùa có Thày Chùa , Nhà Thờ có Cha hay Linh mục , Ở trong Đạo có các ông Đạo . Đi coi bói có Thày bói , xem số có Thày tướng , bên cạnh các Vip có Thày Dùi ... Tao hay đi cúng Miễu cho các Linh hồn nên tao là ...THÀY MIỄU .

* CHAY HAY MẶN .


Có một vị Đạo trưởng Thiên Khai Huỳnh Đạo kia là bạn cũ của dienbatn . Một lần đến thăm thấy bạn mới bệnh quá gày yếu bèn buột miệng : Chắc dạo này huynh ăn uống thiếu chất ? Nghe như cởi tấm lòng , Đạo trưởng trả lời : Lỡ nhận thọ Sắc rồi nên phải trai trường và có vẻ nuối tiếc ăn mặn lắm .
Về , hỏi A Xà Lê : Thày ơi , ăn chay và ăn mặn có khác nhau không ?
A Xà Lê trả lời tỉnh bơ : Tao đâu có biết , thức ăn đã qua khỏi họng là tao đã hết trách nhiệm với nó rồi . Híc .

* TAO LÀ ĐẠI UÝ MIỄU .


Một bữa dienbatn xem phim Tàu thấy có mấy vị sư đầu húi trọc và có điểm một số chấm trên đỉnh mới cắc cớ thắc mắc với A Xà Lê : Thày ơi , tại sao sư lại phải cạo trọc đầu và còn đốt lên trên Huyệt Bách Hội một số chấm tròn như vậy để làm chi ????
A Xà Lê trả lời : Tao cũng ngu luôn , chỉ biết nếu đốt trên Huyệt Bách Hội thì tức là phá mất đường thông Thiên Khí mất rồi . Còn số chấm trên đầu có lẽ để ....phân biệt chức vụ , tỷ như Đại úy sư , Trung tá sư , Thiếu tướng sư ...nôm na là vậy . Có điều tao học Phật đã lâu , thấy hình các vị Phật toàn là Phật Mô đen không à , như Phật Thích Ca Mâu ni còn chơi cả tóc Hai - Lai ( line ) nữa chứ . Không tin mày cứ lên Tam Bảo mà coi .
dienbatn lên Tam Bảo thấy như vậy thật bèn kêu A Xà Lê : Thày ơi , nếu mình sợ phá mất Huyệt bách Hội thì Thày và con làm mỗi người hai cái quân hàm sư : Thày là Đại úy Sư còn con là binh nhất sư Thày nhé . Ông Thày liền rãy nẩy lên : Mày Xạo , tao là Đại úy sư hồi nào ?? Tao là Đại Uý Miễu !!!!!

* SAO TAO THẤY DỄ QUÁ MÀ !


Dienbatn ngồi đọc báo trên inh tờ nét : 
" Hiện nay, các cơ quan chức năng chỉ tăng cường các hình thức xử phạt người dân qua các hành vi bắt bớ, phạt tiền, giam giữ xe… và đó mới chỉ là giải quyết phần ngọn của vấn đề.
Chỉ riêng năm 2006, số tiền thu phạt đã lên tới 460 tỷ đồng. 
Tất cả các biện pháp trên chỉ là cái ngọn. Bởi nguyên nhân gốc rễ, cốt lõi đâu phải chỉ ở phía người dân mà chính từ phía các cơ quan Nhà nước lại không được làm rõ, hoặc cố tình che giấu, né tránh. 
Đọc chán rồi ngồi phàn nàn : Thôi thì đủ các thứ Phòng , Ban , Trạm , Trại , Xưởng , tả pí lù ban ngành họp ngày họp đêm , họp và họp ... nhưng ùn tắc giao thông và tai nạn xảy ra là ...chuyện thường ngày ở Huyện . Chán chẳng muốn đi ra đường ....
A Xà Lê ngồi bên cạnh xem ké buột miệng xuýt xoa : Dễ ợt , thế cũng đòi ...

dienbatn quay sang hỏi : Bao nhiêu người , bao nhiêu trí thức , trí ngủ , bao nhiêu tiền tổ chức, bao nhiêu thời gian bỏ ra mà ...Vũ Như Cẩn sao Thày lại nói dễ ợt . 
Và sau đó quay mặt đi nói nhỏ : Thày mà cũng xạo ...

Nghe vậy Thày Miễu tức quá làm một tràng : Ai bảo tao xạo ??? Thì mày thấy không , Pháp luật có rồi , bảng hiệu giao thông có rồi . Nếu như cho tao làm Tổng chỉ huy , tao lấy 460 tỷ đó mở một tháng rầm rộ tuyên truyền luật giao thông , sơn sửa , làm mới bảng hiệu trên toàn Quốc , Tuyển vô số lượng công an và trật tự giao thông cho ra đứng trên đường . Ai phạt được 1 triệu cho hẳn 300 ngàn đồng . Khỏi trả lương . Cứ 10 người thuê một kiểm tra , kiểm soát . Cũng tự hưởng lương bằng cách phát hiện thằng nào diếm tiền công quỹ thì phạt thằng đó gấp hai lần , cho kiểm soát 30 % số tiền đó . Ai vi phạm giao thông bất kể lớn , bé , già , trẻ , osin hay VIP đều phạt như nhau và đúng quy định . Tao cam đoan với mày chỉ 6 tháng là êm . Nhà nước lại có hàng trăm ngàn tỷ đồng để xây cầu , làm đường , hàng vạn người có việc làm . Thằng nào đào đường không đúng thời gian cho phép - Phạt . Làm xong không hoàn lại đường cho láng cho trơn như ban đầu - Phạt ... Có luật thì cứ theo đúng luật mà PHẠT - PHẠT - PHẠT...HÙM PHẠT - OM MANY PADME HUM PHẠT PHẠT. Dễ ợt .....
dienbatn ngồi nín khe - Ừa - Cũng có lý .

* CHÙA NÀO THIÊNG NHẤT ?


Ngồi buồn , dienbatn hỏi Thày Miễu : Thày ơi , Thày đã đi khắp nơi từ Nam chí Bắc , từ Lào sang Miên , từ núi cao biển rộng tới hang cùng ngõ hẻm Thày thấy chùa nào thiêng nhất ? Chùa Đồng Yên Tử , Chùa Bái Đính , chùa Hương , chùa Thày , chùa Thiên Mụ .....????

Thày Miễu lắc lư cái đầu , lắc lư cái mình và chỉ vào đầu mình mà phán : Đây là chùa Tao linh thiêng nhất !!!!

Bịt miệng không kịp , dienbatn nói : X....ạ .....o .

Thày Miễu tức quá liền giảng : Mày thấy không ? Tao nghĩ đến Phật và làm theo lời Phật thì tao là Chùa Phật . Tao nghĩ đến Quỷ và làm ác theo Quỷ thì tao là chùa Quỷ . Tao hay nghĩ đến Vong hồn người ta và cúng cầu siêu cho họ thì tao là ...Miễu vong . Tao nghĩ đến các Đấng , các Cõi nào thì họ liền về Chùa Tao và tao là cái chùa đó . Vậy thì Linh Nhất vẫn là cái Chùa Tao . Hàng ngày tao lo quét dọn cho cái Chùa Tao sạch sẽ , làm nhiều điều thiện thì cái Chùa Tao là linh thiêng nhất .
* ĐẠI HÙNG - ĐẠI LỰC - ĐẠI TỪ - ĐẠI BI .


Ngồi tám với Thày Miễu , dienbatn lại cắc cớ hỏi : Thày ơi , Thày đi cúng Miễu như vậy có lấy tiền của người ta không ?
Tỉnh bơ Thày đáp : Lấy chứ , không lấy tiền tao ăn cỏ mà sống hay sao ? Cái thằng ....
Dienbatn : Thế sao con thấy các Thày khác toàn làm phúc thôi , đâu có lấy tiền .
Thày Miễu : Xạo ke , không lấy tiền thì họ sống bằng gì ? Tiền đâu mua gạo , mua bông , mua nhang đèn ...tiền đâu mà đi làm từ thiện . Mày muốn làm từ thiện , giúp đỡ người khác thì trong túi mày phải có ...Xiền . Có điều tao lấy tiền theo đúng công sức của tao bỏ ra , làm mười nhận mười , làm năm nhận năm ...đừng nhận quá sức của mình . Lấy được tiền thì chia làm ba phần : Một phần để sinh sống , một phần mua nhang đèn , một phần giúp người nghèo tận tay họ . Phật có dạy : ĐẠI HÙNG - ĐẠI LỰC - ĐẠI TỪ - ĐẠI BI . Phải có HÙNG, có LỰC mới có thể làm TỪ , làm Bi mới được con ạ . Không có Hùng , có Lực thì khi muốn giúp người khác mà lực bất tòng Tâm phỏng có ích gì đâu . Ai bảo mày là tao không lấy tiền ????.

Dienbatn : Híc !!!!

* THÀY DẮT TRÒ ĐI ĂN TRỘM ....QUÁN ĐẢNH .


Một bữa , nghe người ta rủ nhau đi Quán đảnh của một vị Thày bên Nê Pan sang Việt Nam đông quá , dienbatn cũng sốt ruột xin A Xà Lê của mình đi Quán đảnh . Thày Miễu liền nói : Mày đang học Mật tông Việt Nam sao còn muốn học của Thày Nê Pan ? Bộ mày tưởng Thày Việt nam mình dở lắm hay sao ? Hay mày chuộng Thày ngoại hơn Thày nội ? 

Nghe thấy Thày nói vậy nên dienbatn ngồi im không xin đi Quán đảnh nữa nhưng vẫn buồn buồn như chưa được ăn cơm . Thấy vậy Thày Miễu đến dỗ dành : Mày thật là cái đồ ....đồ tham Quán đảnh . Thế mày có biết Quán đảnh Mật Tông là cái gì không và tác dụng như thế nào không ? Thấy dienbatn ngu ngu , Thày liền giảng : Quán đảnh là một cái lễ về hình thức là người Thày vẩy mấy giọt nước lên đầu mày , đọc cho mày nghe Kinh Vô Lượng Thọ và chấp nhận từ nay dìu dắt mày trên con đường tu Phật . Quán nghĩa là sự gia trì từ bi , cũng như sự quan tâm chăm sóc chân chính , ái hộ giúp đỡ . Đảnh tức là đỉnh , nghĩa là đem đến cho mày một Đại Pháp của Phật không gì cao hơn . Quán đảnh là một biểu pháp , lấy nước Cam lồ biểu trưng cho Phật pháp , là pháp cao tột cùng . Chúng ta đem Kinh Vô Lượng Thọ đọc từ đầu đến cuối một lần , chẳng những Phật A Di Đà trao truyền Quán đảnh mà khắp Mười phương chư Phật làm lễ Quán đảnh cho chúng ta , tuy rằng điều đó ta không biết . Trong phép Quán đảnh mà chúng ta còn khởi niệm vọng tưởng phân biệt , chấp trước thì làm sao tiêu trừ được nghiệp chướng . Nghe vậy dienbatn mới bớt làm cái mặt buồn . Lại nói với Thày : Thày ơi , con đã được các Thày bên Bắc Tông Quán đảnh , bên Mật Tông Liên hoa phái quán đảnh rồi . Thày tìm cho con một vị Thày bên Nam Tông để con xin Quán đảnh cho đủ bộ  . Thày Miễu ngồi suy nghĩ và reo lên : Tao nhớ ra rồi , tao có ông bạn từ mấy chục năm trước tu bên Nam Tông . Tao sẽ đưa mày đi đến xin Quán đảnh vậy . Mà ông này khó lắm đấy nhe . Ổng đang xây Tổ đình lớn lắm , không biết ổng có thời gian làm lễ Quán đảnh cho mình không ? 


Nghe vậy , dienbatn đánh xe ra liền , hai Thày trò phóng một mạch lên Tổ đình Bửu Long . Lên đến nơi , Thày Viên Minh đang chỉ huy mọi người xây dựng một ngôi Tổ đình rất đẹp theo đúng kiểu Nam tông . Thấy bạn gìa tới thăm , Thày mời vào phòng khách uống nước . Thày Miễu nói : Tôi có thằng đệ , dẫn lên nhờ Sư làm cho nó cái lễ Quán đảnh để nó theo học Phật pháp . Thày Viên Minh nói : Làm lễ Quán đảnh cho nó thì được , xong bữa nay đang xây Chùa nên bận quá . Nói rồi , Thày vào nhà trong lấy nước Lavis ra cho chúng tôi uống . Khi Thày Viên Minh vừa đi khuất , Thày Miễu ghé tai dienbatn nói nhỏ : ...cứ thế .. cứ thế . 

Thày Viên Minh rót nước lạnh ra mấy cái ly lớn và mời chúng tôi uống . dienbatn liền cầm ly nước đến bên Thày Viên Minh quỳ xuống và nói : Bữa nay Thày bận nên con chỉ xin Thày đổ ly nước này lên đầu cho con và Thày đọc cho con mấy câu Kinh Vô Lượng Thọ . Hai ông Thày nhìn nhau cười phá lên và Thày Viên Minh cầm ly nước trì trú vào , sau đó đổ tất tần tật lên đầu dienbatn . Thày đọc cho dienbatn Kinh Vô Lượng Thọ và kêu đứng dậy . Dienbatn lạy tạ Thày ba lậy và nói : Đệ tử xin cảm ơn Sư phụ . Thày Viên Minh ngồi nói chuyện với Thày Miễu , nhân thể giảng cho dienbatn biết mục đích của công việc tu tập....

Tiễn chúng tôi về , Thày Viên Minh cho dienbatn số điện thoại và dặn khi gặp khó khăn gì trong tu tập cứ gọi điện cho Thày . 


Ra đến ngoài đường , Thày Miễu mới cười nói : Gần 80 năm nay tao mới thấy có thằng như mày đi ăn trộm ...Quán đảnh . Hai Thày trò lúc này đều cảm thấy khoài khoai khoái khoai . Hi Hi .

* TỪ THIỆN CHO AI ???


Đi từ thiện về , dienbatn hớn hở khoe với Thày Miễu : Thày ơi , bữa nay chúng con đi làm từ thiện vui lắm , chắc được công đức vô lượng Thày nhỉ ? Ông Thày mặt lạnh tanh : Thế ai làm từ thiện cho ai ?

- Chúng con làm từ thiện cho đồng bào mình bị bão lụt .

- Thế mang cho họ được những gì ?

- Dạ , mang cho họ được mỗi nhà một thùng mì ăn liền và quần áo ạ .

- Thế nhà họ ăn được bao lâu ? 

- Lúc này dienbatn mới giật mình và lí nhí thưa : Dạ , nhiều lắm được 3 ngày ạ .

- Thế lúc đưa đồ bọn mày có nói gì không ?

- Dạ có . Chúng con nói chúng con đi làm từ thiện giúp đỡ đồng bào trong lúc khó khăn ạ .

Lúc này ông Thày trông buồn hẳn , chẳng nói chẳng rằng quay đít đi chỗ khác . dienbatn vội chạy theo năn nỉ : Thày ơi , sao Thày không vui ?????

Thày liền bảo : Cả đoàn rầm rộ trống giong , cờ mở đi như vậy mà 3 ngày sau thì người dân ở đó đói vẫn hoàn đói . Tương tự như thấy thằng nghiện Xì ke đang trong cơn vã thuốc . Chúng mày đem cho nó 100 ngàn để nó mua thuốc cho khỏi cơn vã - Sau đó là cái gì ? Lại tưởng tượng ra rằng mình công đức vô lượng !!!!

Thực ra chính những đồng bào bị nạn bão lụt mới là người đang từ thiện cho bọn mày đó . Họ giúp cho bọn bay có được cơ hội trả nợ nghiệp dữ mà bọn bay đã làm trong vô lượng kiếp trước . Bọn bay phải cảm ơn họ mới đúng . Tất cả ốm đau , bệnh tật , tai nạn ngày hôm nay là do nghiệp quả của nhiều đời kiếp trước . Bọn bay cho họ 100 ngàn mà chẳng nói gì thì vẫn chỉ là 100 ngàn - Sống được 3 ngày . Nếu khi tặng quà mà bọn bay biết cầu xin chư Phật giúp đỡ cho họ thoát khỏi tai nạn , bệnh tật , nghiệp quả của họ và hồi hướng công đức của mình cho họ thì 100 ngàn của bọn bay sẽ biến thành tiền tỷ tỷ đó hiểu chưa ?

- Thế hồi hướng làm sao ạ ? 

- Thế này này : " Nguyện đem công đức này hướng về mười phương Pháp giới Chúng sinh , thân tâm thường an lạc, bệnh tật , tai nạn đều tiêu trừ , mọi sở cầu đều được như ý , tất cả mọi nghiệp chướng , phiền não chướng , sở tri chướng đều tiêu trừ , thành tựu vô lượng giải thoát môn Tam Muội . Ngộ nhập Phật Tri Kiến và tốc chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đảng Chánh Giác .
CHÚ HỒI HƯỚNG : OM , SA MA RA , SA MA RA , DI MA NA , CHẮC KỜ RA , MA HA , CHẮC KỜ RA , HÙM – 7 LẦN .
( OM , SAMARA , SAMARA , JIMANA , CAKKRA , MAHA , CAKKRA , HUM ) ." 
dienbatn : Con mẹc xi bô cu Thầy . 

* TÁO BÓN .


Một bữa, dienbatn đưa Thày Miễu đi chứng giấy tờ trên phường . Lên đến cơ quan , Thày Miễu xếp hàng chờ chứng giấy . Một vị Phụ Mẫu chi dân uy nghi lẫm liệt ngồi sau chiếc bàn to đùng mặt lạnh như tiền . Đến lượt Thày Miễu , vị Quan không thèm ngó chỉ buông thõng một câu : Cần gì ? Thày Miễu vội đưa xấp giấy tờ ra và trình bày lý do . Vị Quan ký đánh rẹt một cái và hất hàm bảo sang bàn bên đóng dấu .
Khi ra cửa , Thày Miễu đăm chiêu bảo dienbatn : Tao thương cho ông Quan đó quá mày ạ ?
dienbatn hỏi : - Sao lại thương ???
- Chắc ông Quan đó đang bị táo bón nên khó chịu trong người .
- Không phải vậy đâu Thày ơi , ổng phải làm ra cái bộ mặt khó như vậy mới đúng là Quan mà .
- Ơ , chứ không phải ổng bị táo bón à ? May mới chỉ là Quan Phường , nếu là Quan to chắc các ổng đó còn táo bón dữ nữa há ???
- Bây giờ đi đâu cũng vậy Thày ơi !
- Vậy thì mấy ổng khổ rồi . Mày thấy không , Ông Phật Di Lặc chức to như thế mà cứ cười toe toét suốt ngày . Không tin mày nhìn thử coi . Đời mà không có nụ cười thì khổ lắm đó . Mày nhìn mấy bông hoa dại ven đường kia kìa , nó nở hoa ra cũng cười toe toét đó thôi . Người ta phải biết rằng : Nụ cười là lời cầu nguyện linh thiêng nhất đó mày . Người không có nụ cười thì còn thua cả những bông hoa dại ven đường . Mày thấy không , tao già rồi chứ còn đĩ lắm , cứ cười hoài à , khà khà ...
Cắc cớ , dienbatn hỏi : Thày ơi , ban nãy gặp ông Quan đó Thày có sợ không mà tay Thày run quá vậy ???
Thày Miễu : Sợ quá - Sợ quá - Sợ quá . Mà tao sợ là sợ cho mấy ổng . Ngày nay , luật nhân quả vay là trả liền à , đâu có như ngày xưa ba tao dạy : Đời cha ăn mặn - Đời con khát nước .
dienbatn : !!!

* CHUYỆN MẶT HỒ :


Một bữa , hai Thày trò đang ngồi uống cafe bên cạnh một cái hồ nước trong veo . Một vị khách quen thấy Thày liền đến than thở : Thày ơi , sao dạo này con khổ quá , nhà con xẩy ra đủ thứ chuyện buồn . Làm ăn thất bại , chồng thì theo gái , con cái rong chơi chẳng chịu học hành gì cả . Con lo lắng quá mà không biết làm sao . Càng ngày con càng cảm thấy mọi chuyện không thể giải quyết được nữa . Thày giúp cho con với .
Thày Miễu đứng dậy , nhặt cục gạch ở bên cạnh ném ùm một cái xuống hồ rồi thản nhiên ngồi uống cafe tiếp . dienbatn và vị khách đó trợn tròn mắt ngạc nhiên ?????
Lúc đó Thày Miễu mới thủng thỉnh nói rằng : Bọn bay nhìn mặt nước hồ mà xem . Lúc tao ném cục gạch xuống , nó cuốn bùn nổi lên làm nước đục ngầu , đâu có nhìn ra được thứ gì ở dưới đáy đâu ? Nếu bọn bay càng khoắng nó lên nó càng đục . Việc nhà bay cũng vậy , phải để tâm hồn bay yên lặng như mặt hồ kia , khi bùn đất chìm xuống , nước trong lại mới nhìn thấy rõ mọi sự vật con à . Khi nhìn nhận rõ sự việc rồi mới tìm được cách giải quyết tốt nhất đó nhe .

* SỰ QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG TIỀN .


Một bữa , dienbatn thấy Thày Miễu ngồi nhà ngâm nga :
" Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ ,
Người khôn người kiếm chốn lao xao ".
Thấy vậy liền hỏi : Bữa nay Thày có tâm sự hả ???
- Tâm sự gì đâu . Mày không thấy mặt tao bữa nay sò ke à ?
- Sao vậy Thầy ?
- Bữa nay tao dại , tao tìm nơi vắng vẻ , không thèm chơi với ai nữa .
- Vậy con cũng đi tìm nơi vắng vẻ nhe Thầy ???
- Mày ngu quá . Sở dĩ tao đi tìm nơi vắng vẻ bỏi vì ... bởi vì
- Bởi sao Thày ?
- Cái thằng ngu quá cỡ thợ mộc , bởi vì tao ...hết Xiền chứ sao !!! Mày thấy không, bữa nào có Xiền , ra đường cái bản mặt tao vênh vênh thấy ghét . Tao giơ tay , giơ chân múa may trông đĩ hết sức . Bữa nay hết tiền tao đóng vai hiền triết không được à ???

dienbatn.
Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *