NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM. BÀI 11.

5/19/2011 |
NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
ĐẠO CAO ĐÀI - LICH SỬ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO.
Đạo Cao Đài là một tôn giáo vừa độc thần, vừa đa thần được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Thầy.
Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút cho các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là Nền đạo lớn phổ độ lần thứ Ba.
Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.
Tuy được khai sinh chính thức vào năm 1926, Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài, đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc. Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín đồ Cao Đài là khoảng 5 triêu.
Lược sử hình thành và phát triển

Lịch sử của đạo Cao Đài gắn liền với sự phổ biến Cơ bút tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Có thể nói, Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút.
Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) đến từ Pháp, và Đại ngọc cơ (大玉機) xuất xứ từ Trung Quốc.
Những môn đồ đầu tiênCác tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận người được xem là tín đồ đầu tiên của đạo là ông Ngô Văn Chiêu. Là một viên chức trong chính quyền thực dân Pháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư đạo, một nhánh của Tam giáo, thường sử dụng hình thức cơ bút để giao tiếp với giới thần tiên, trong những năm 1921 đến 1924, ông đã thông qua các cơ bút để hình thành những nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài và truyền bá cho nhóm bạn hữu công chức tại Sài Gòn, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi một nhóm tu tập tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.
Cùng giai đoạn này, một nhóm công chức gốc Tây Ninh làm việc trong chính quyền thực dân Pháp khác ở Sài Gòn, chịu ảnh hưởng của phong trào Thông linh học gồm Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc, thường xuyên tổ chức cầu cơ ở đường Arras. Do các thành viên ban đầu mang họ Cao và họ Phạm, nên còn được gọi là nhóm Cao - Phạm. Nhóm còn có một thành viên nữ là bà Nguyễn Thị Hiếu, tức Hương Hiếu, vợ ông Cao Quỳnh Cư. Nhóm này cũng được cho là tiếp xúc với Thượng đế qua danh hiệu AĂÂ vào khoảng tháng 7 năm 1925. Nhóm cũng độc lập xây dựng nền tảng giáo lý riêng và cũng phát triển thêm nhiều người, quan trọng nhất là việc thu nhận thêm ông Lê Văn Trung, cựu Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, người có giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển đạo Cao Đài.
Hợp nhứt khai đạoQua các liên hệ cá nhân, giữa các nhóm hầu cơ bắt đầu có sự liên hệ hợp nhất. Ngày 21 tháng 2 năm 1926, một bài thơ được lưu truyền là cơ giáng của Thượng đế, trong đó có tên của 13 người, về sau được tín đồ Cao Đài xưng tụng là những tín đồ đầu tiên của đạo, với tên ông Ngô Văn Chiêu được tôn xưng Anh Cả. Kể từ đó, những nền tảng giáo lý của Cao Đài được bổ túc và hoàn thiện dần. Số lượng tín đồ nhanh chóng phát triển lên hàng chục ngàn người. Một đàn cơ quy mô được thành lập ở Cầu Kho , về sau hình thành nên Thánh thất Cầu Kho, được xem là thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài.
Việc phát triển số lượng tín đồ nhanh chóng đòi hỏi phải có người lãnh đạo với quyền vị chính thức. Vì vậy, giữa cuối tháng 4 năm 1926, thông qua việc giáng cơ, các tín đồ đầu tiên đã tôn xưng ông Chiêu là Giáo tông và may sẵn bộ đạo phục riêng cho ông. Tuy nhiên, ông Chiêu từ chối ngôi vị Giáo tông, do những bất đồng trong việc hình thành giáo hội, và từ đó không tham gia cũng như không có liên quan gì đến các hoạt động phát triển của giáo hội Cao Đài.
Để có tư cách chính thức với chính quyền thực dân, ngày 7 tháng 10 năm 1926, các tín đồ gởi đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol một bản tuyên cáo khai đạo bằng tiếng Pháp với chữ ký của 28 tín đồ có địa vị cao nhất trong xã hội, kèm theo tờ khai tịch đạo của 247 tín đồ. Sau đó, các tín đồ tổ chức 3 nhóm truyền đạo khắp Nam Kỳ. Và ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng 11 năm 1926), các tín đồ Cao Đài đã tổ chức lễ ra mắt rất long trọng tại chùa Gò Kén, còn gọi là Từ Lâm Tự, Tây Ninh với sự hiện diện của quan chức chính quyền của cả người Pháp lẫn người Việt.
Thăng trầm nền đạoTuy vậy, giữa các tín đồ đã xuất hiện những quan điểm bất đồng về cách thức tu tập, tổ chức giáo hội, hoặc do những mục đích cá nhân, cũng dần tách ra để hình thành các nhánh Cao Đài độc lập. Một số nhánh thành lập tổ chức giáo hội (Hội Thánh), một số khác hoạt động độc lập, cũng không thành lập tổ chức giáo hội. Ngoài ra, còn một số tổ chức của các tín đồ Cao Đài mang tính chất đoàn thể cũng được thành lập.
Lý giải cho hiện tượng này, các tín đồ Cao Đài tin rằng việc hình thành các nhánh Cao Đài khác nhau đã được Thượng đế tiên tri qua bài cơ điểm tên 12 tín đồ đầu tiên, sẽ hình thành 12 nhánh Cao Đài. Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu, trong đó có cả tín đồ, số lượng các nhánh Cao Đài khác nhau tùy theo thời điểm chứ không cố định là 12 phái. Theo thời gian, các nhánh Cao Đài diễn ra nhiều cuộc chia tách, sát nhập, thống kê trong lịch sử có hơn 30 tông phái khác nhau. Rất nhiều nỗ lực hoạt động để thống nhất giáo hội nhưng đều bất thành do những chỉ trích và trở ngại từ nhiều phía, kể cả giữa các tín đồ.
Trong cơn động loạn của dân tộcSự phân chia các hệ phái không làm giảm tốc độ phát triển tín đồ, Cao Đài nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Kỳ, thậm chí phát triển ra cả ở Trung, Bắc Kỳ và cả Cao Miên. Các lãnh đạo Cao Đài đều là những người có học thức, có địa vị xã hội và rất có ảnh hưởng đến dân chúng. Vì vậy, Cao Đài luôn là đối tượng hoặc lôi kéo, hoặc đả kích của các thế lực nắm chính quyền.
Người Pháp ra tay trước tiên. Một tôn giáo có tổ chức như hình thái nhà nước có nhiều khả năng lôi kéo quần chúng đe dọa đến sự cai trị của chính quyền thực dân. Dưới áp lực của thực dân Pháp, các chỉ dụ cấm đạo ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Cao Miên và Ai Lao đã được ban hành. Đỉnh điểm, ngày 28 tháng 6 năm 1941, lo ngại việc một tôn giáo hoạt động mạnh ở Sài Gòn và phụ cận có thể rơi vào ảnh hưởng của người Nhật, bấy giờ đã xâm nhập Đông Dương và ra sức lôi kéo các nhóm tôn giáo, chính trị người Việt ủng hộ Chính sách Đại Đông Á, chính quyền thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào các tín đồ Cao Đài, bắt giữ Hộ pháp Phạm Công Tắc và đày đi Madagascar. Nhiều chức sắc Cao Đài khác cũng bị bắt giam hoặc quản thúc. Tòa Thánh Tây Ninh bị chiếm đóng. Nhiều thánh thất Cao Đài các cũng bị chiếm đóng hoặc phá hủy.
Cả người Nhật lẫn Việt Minh đều tranh thủ ra sức lôi kéo các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, một nhóm các chức sắc Cao Đài, nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa ở Tây Nam Kỳ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng Thanh niên Đạo đức đoàn, có xu hướng chống cả Pháp lẫn Nhật. Người Nhật thì can thiệp mở lại Tòa Thánh Tây Ninh tại Sài Gòn, đổi lại việc Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh), người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tập hợp các tín đồ hợp tác với quân đội Nhật để chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công của xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Nam Bộ. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi Nội ứng nghĩa binh, dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng bán vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 6 năm 1945, được sự hậu thuẫn của Hội Cao Đài Cứu Quốc, một đại hội các hệ phái Cao Đài (không có Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh) được tổ chức tại Sài Gòn, thành lập tổ chức Cao Ðài Hiệp Nhứt 11 Phái và bầu ông Cao Triều Phát làm Chủ tịch. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ.
Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh tỉnh, một chức sắc Cao Đài khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn.
Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, các nhóm lực lượng vũ trang Cao Đài tham chiến tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Sau khi vào Nam, đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội Vệ Quốc đoàn. Lực lượng vũ trang Cao Đài được tổ chức thành 2 chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và chi đội số 8 do Nguyễn Hoài Thanh chỉ huy.
Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã đưa lực lượng của mình tự rút về Tây Ninh và tự xây dựng các căn cứ để bảo vệ Tòa Thánh.
Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh quá khích lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh quá khích. Một số đơn vị vũ trang Cao Đài bị tước khí giới trong những cuộc thanh trừng nội bộ. Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch Việt Nam Độc lập Đảng.
Nắm được sự mâu thuẫn này và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại các tín đồ Cao Đài sẽ không tấn công người Pháp và được quân Pháp bảo trợ. Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các lãnh thổ do Tòa Thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, do Trung tướng Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng[10], có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh.
Bất đồng với sự hợp tác này, một số chức sắc Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham gia kháng chiến đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc, mở rộng thành Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt. Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh.
Hợp tan - Tan hợpSau năm 1954, tổ chức Cao Đài Cứu Quốc tuyên bố giải thể. Các phái liên hiệp trước đây trở về sinh hoạt riêng rẽ. Một số chức sắc tập kết ra Bắc, hình thành Hội Thánh Duy Nhất thuần túy sinh hoạt tôn giáo. Tại miền Nam, Tòa Thánh Tây Ninh dưới sự hậu thuẫn của người Pháp đã trở thành tổ chức Cao Đài lớn nhất, có quân đội riêng, có ảnh hưởng chính trị mạnh, đã trở thành cái gai lớn của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để dẹp các trở ngại trong việc thâu tóm quyền lực, Thủ tướng Diệm đã mua chuộc, gây chia rẽ trong nội bộ, và cuối cùng tấn công lực lượng quân đội Cao Đài, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải lưu vong sang Campuchia cho đến ngày ông liễu đạo.
Giáo hội Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chỉ được công nhận trở lại tại miền Nam từ năm 1965, khi Hội đồng tướng lĩnh lên nắm quyền và muốn xóa đi thành kiến tôn giáo. Mặc dù vậy, với sự cầm quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, các tín đồ tốt nhất chỉ thuần túy sinh hoạt tôn giáo, không nên can thiệp vào chính trị, vì vậy các tổ chức Cao Đài không còn ảnh hưởng mạnh đến chính trị và xã hội như trước.
Các tín đồ Cao Đài một lần nữa phải chịu thử thách khi những người Cộng sản nắm quyền kiểm soát toàn bộ quốc gia. Giáo hội Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị buộc tội là đã cộng tác với những kẻ thù, thậm chí đã tham gia chống đối chính quyền mới. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị giải thể. Các tổ chức Cao Đài khác cũng là đối tượng công kích khi bị chính quyền mới buộc tội tuyên truyền cho tệ nạn mê tín. Các hoạt động tôn giáo hoàn toàn bị hạn chế, chỉ giới hạn những sinh hoạt trong nhóm nhỏ tín đồ.
Một tôn giáo lớn tại Việt NamCùng với chính sách mở cửa của chính quyền Việt Nam, các tôn giáo, trong đó có cả Cao Đài cũng được dễ thở hơn. Tòa Thánh Tây Ninh được mở cửa lại cho các hoạt động tôn giáo lớn, thậm chí được xem như một điểm di tích tham quan du lịch. Từ năm 1995 đến 2010, chính quyền bắt đầu công nhận các tổ chức tôn giáo Cao Đài như những tổ chức hợp pháp, gồm 9 Hội Thánh Cao Đài có tổ chức giáo hội, 1 Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và 18 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập. Ước tính hiện tại, toàn đạo có khoảng gần 3 triệu tín đồ trong cả nước, sinh hoạt tại 38 tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc.
Các tổ chức giáo hội Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân xếp theo số lượng tín đồ:
1.Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh: là tổ chức giáo hội Cao Đài đầu tiên, được thành lập năm 1926, và cũng là lớn nhất với hơn 1 triệu 312 ngàn tín đồ, với 371[14] thánh thất, 110 điện thờ Phật mẫu, phân bổ trong 32 tỉnh thành trong cả nước. Khoảng 3 vạn tín đồ đang cư trú tại nước ngoài như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Campuchia. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tây Ninh. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 9 tháng 5 năm 1997. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh (xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh).
2.Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ hai, được thành lập năm 1934, quản lý hơn 80 vạn tín đồ, với hơn 299 thánh thất ở 25 tỉnh thành. Một số lượng nhỏ tín đồ cư trú tại nước ngoài. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Bến Tre. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 8 tháng 8 năm 1997. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Bến Tre (phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).
3.Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ ba, được thành lập năm 1932, quản lý hơn 8 vạn tín đồ, với hơn 127 thánh tịnh ở rải rác 15 tỉnh thành. Là Hội Thánh Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân sớm nhất vào ngày 29 tháng 7 năm 1995. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Châu Minh (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
4.Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ tư, được thành lập năm 1956, quản lý gần 1,5 vạn tín đồ, với 61 thánh thất nằm rải rác 17 tỉnh thành. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Quảng Nam, Đà Nẵng. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 24 tháng 9 năm 1996. Trung ương Giáo hội đặt tại Trung Hưng Bửu Tòa (phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng).
5.Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ năm, được thành lập năm 1935, quản lý 47 thánh thất phân bổ trong 4 tỉnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cà Mau. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 2 tháng 8 năm 1996. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Ngọc Sắc (xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau).
6.Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ sáu, được thành lập năm 1931. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 14 tháng 3 năm 2000. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Chơn Lý (xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).
7.Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ bảy, được thành lập năm 1960, quản lý 33 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Bình Định. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 28 tháng 4 năm 2000. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan (xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định).
8.Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ tám, được thành lập năm 1956, quản lý 16 thánh tịnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Hậu Giang, Cần Thơ. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 27 tháng 7 năm 1996. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Long Châu (xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang).
9.Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ chín, được thành lập năm 1955, quản lý 14 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Kiên Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 8 tháng 7 năm 1998. Trung ương Giáo hội đặt tại Tòa Thánh Ngọc Kinh (xã Mông Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).
Tương quan tôn giáo Cao Đài

 
Nghi lễ Cao ĐàiCao Đài là một tôn giáo lớn được xem là "trẻ" nhất tại Việt Nam. Trong chưa đến 100 năm hình thành và phát triển, Cao Đài thể hiện là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn tại Việt Nam, mà chủ yếu là Tam giáo. Nhiều khái niệm cũng như hình thức của các tôn giáo lớn đều có thể thấy biểu hiện một phần tại Cao Đài.
Khác với hầu hết các tôn giáo có nguồn gốc lâu đời thường phủ nhận các tôn giáo khác, các tín đồ Cao Đài chấp nhận có tôn giáo khác và những tôn giáo đó hình thành nền tôn giáo Cao Đài. Họ lý giải đấy chính là ý đồ của Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm cụ thể, và tôn giáo Cao Đài chính là tôn giáo duy nhất do Thượng đế lập ra ở lần thứ 3 và là lần cuối cùng để phổ độ cho chúng sinh, không còn phân biệt tôn giáo, dân tộc hay ở bất kỳ nơi nào trên thế giới nữa. Chính vì vậy, điểm đặc biệt trong tôn giáo Cao Đài là sự tôn trọng tín ngưỡng và phong tục, không ép buộc tín đồ phải từ bỏ hoặc hạn chế các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng hay phong tục cổ truyền của mình.
Tuy nhiên, với tư cách là một tôn giáo bảo vệ truyền thống, Cao Đài là một tôn giáo có những quy định rất chặt chẽ và khá bảo thủ, cứng nhắc. Tuy được xem là một tôn giáo trẻ và phát triển rất nhanh ở giai đoạn khai đạo, Cao Đài lại có những yêu cầu khắt khe về tính truyền thống, ít có sự cải sửa thay đổi nhằm bảo vệ tối đa những nét đặc trưng của tôn giáo mình. Chính điều này đã làm cho Cao Đài trở thành một trong 2 tôn giáo đặc thù của vùng Nam Bộ.
Phương Đông
Phật giáo
Phật giáo là một tôn giáo lớn tại Việt Nam nên có ảnh hưởng lớn đến tôn giáo Cao Đài. Một số nhân vật Phật giáo cũng được tôn thờ trong đạo Cao Đài như Nhiên Đăng Cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Bồ Tát, và được xem như những vị tôn trưởng vô hình trấn giữ nền đạo. Pháp môn Tuyển độ của Cao Đài chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp môn Thiền của Phật giáo Thiền tông.
Trong tổ chức Hội Thánh Cao Đài, ngôi vị Hộ pháp của đạo Cao Đài cũng được mượn hình ảnh từ hình tượng các Hộ pháp trong Phật giáo. Thậm chí, phái Thái, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái của Hội Thánh Cao Đài, được xem là tượng trưng của Phật đạo trong Đại đạo Cao Đài, với đạo phục màu vàng tượng trưng cho áo cà sa của các nhà sư.
Lão giáoChịu ảnh hưởng rất lớn từ Minh Sư đạo, một nhánh của Thiên Sư đạo, có thể nói vũ trụ quan của Cao Đài gần sát với vũ trụ quan của đạo Hoàng Lão. Quan niệm Thượng đế có ngôi vị cao hơn tất thảy, phương pháp cơ bút để các đấng vô hình truyền dạy, các con số linh thiêng như 1 (Thiên Nhãn), 2 (Âm Dương), 3 (Tam giáo), 5 (Ngũ chi), 8 (Bát Quái), 12 (Thời Quân)... đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ Lão giáo. Một số nhân vật trong đạo Lão cũng được tôn thờ như Lão Tử, Lý Bạch. Thậm chí, trong một số Hội Thánh Cao Đài, Lý Bạch còn được xem là giữ ngôi vị Giáo tông vô hình, nên thường được nhiều tín đồ Cao Đài gọi kính trọng là Lý Giáo tông.
Trong tổ chức Hội Thánh, vị trí Bát Quái Đài là khu vực thiêng liêng nhất, chỉ dành cho các vị tiên trưởng vô hình, được xem như là nơi lập pháp của đạo. Hầu hết các văn bản pháp luật đạo, được các tín đồ tin là được giáng cơ từ Bát Quái Đài. Trong tổ chức Nam phái, cách đặt tên các phái cũng chịu ảnh hưởng từ Tam Thanh trong Lão giáo với biến cải đôi chút; thậm chí, phái Thượng, một trong 3 phái của Nam phái, cũng được xem là đại diện cho Lão giáo, với đạo phục màu xanh tượng trưng cho y phục các đạo sĩ. Vai trò của phái Thượng còn được đề cao khi trong tổ chức Hội Thánh Cửu Trùng Đài, chức phẩm của phái Thượng được xem là cao hơn so với 2 phái còn lại. Người giữ ngôi vị Thượng Chưởng pháp được quy định có thể thay mặt cho chức vị Giáo tông để chủ trì công việc của Cửu Trùng Đài.
Nho giáoCũng như Phật giáo và Lão giáo, Nho giáo cũng được xem là có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Nho giáo được trong đạo Cao Đài được đề xướng qua triết lý Nho tông chuyển thế. Nếu như Phật giáo và Lão giáo ảnh hưởng nhiều về mặt vũ trụ quan và cách thức tu tập thì Nho giáo hảnh hưởng rất nhiều về cách thức hành lễ. Đại diện cho Nho giáo là Khổng Tử cũng được trong Bát Quái Đài. Đặc biệt, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được thờ phụng như một vị Thánh của Việt Nam.
Trong tổ chức Hội Thánh Cao Đài, phái Ngọc, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái Cửu Trùng Đài, được xem là tượng trưng của Nho giáo, với đạo phục màu đỏ.
Tín ngưỡng dân gianCó thể nói tín ngưỡng dân gian Nam Kỳ đã có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Hầu hết các hoạt động tôn giáo của đạo Cao Đài chú trọng đến các nghi lễ trong gia đình liên quan đến phong tục truyền thống của người Việt ở Nam Kỳ như cưới hỏi, tang ma, cầu siêu… Những nghi lễ ấy mặc dù được tổ chức theo nguyên tắc và triết lý của đạo Cao Đài, nhưng lại không quá xa lạ với phong tục truyền thống của người Việt. Hơn nữa, các nghi lễ này đều được tổ chức quy củ, có sự tham gia đông đảo của chức sắc, chức việc và đạo hữu, làm không khí trong các buổi lễ trở nên trang trọng, tôn nghiêm[15]. Mặt khác, rất dễ nhận thấy nhạc lễ Cao Đài (đặc biệt là Đại đàn) mang đậm văn hóa truyền thống Việt Nam với cung cách đi trò lễ, nhạc cổ truyền trong các buổi lễ tại đình, miếu dân gian.
Ngũ chi Minh đạoBài chi tiết: Ngũ chi Minh đạo, Minh Sư đạo, và Minh Lý đạo
Ngũ chi Minh đạo (chữ Hán: 五支明道) là một thuật ngữ trong tôn giáo Cao Đài dùng để chỉ các nhánh tôn giáo phát triển từ Minh Sư đạo, một tôn giáo có sự tương hợp gần nhất với đạo Cao Đài, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.
Cao Đài Từ điển định nghĩa như sau:
“ "Ngũ Chi Minh Đạo là năm nhánh Đạo có tên khởi đầu bằng chữ MINH, có nguồn gốc từ nhà Minh bên Tàu.
Ngũ Chi Minh Đạo gồm: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân."
 ”
—Nguyễn Văn Hồng, "Cao Đài Từ điển", mục Ngũ Chi Minh Đạo
 
Trong lịch sử, một số nhánh của Ngũ chi Minh đạo sát nhập vào với đạo Cao Đài như tông Phổ tế của Minh Sư, hoặc Minh Tân, Minh Đường. Một số không còn tồn tại như Minh Thiện, hoặc vẫn phát triển độc lập như Minh Sư đạo, Minh Lý đạo.
Phương Tây
Thiên Chúa giáo
Thiên Chúa giáo bấy giờ đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam dưới sự bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp. Tuy nhiên, với các tín đồ Cao Đài đầu tiên, vốn là những người có tinh thần dân tộc, sự dung nạp Thiên Chúa giáo thể hiện một chừng mực không va chạm với truyền thống. Chính vì vậy, hình tượng chúa Jesus của Thiên Chúa giáo được xem là biểu trưng của Thánh đạo, một chi đạo trong Ngũ chi Đại đạo.
Hồi giáoGiai đoạn khai đạo Cao Đài cũng chính là giai đoạn Hồi giáo phát triển mạnh mẽ trong các cộng đồng dân tộc Chăm, Malay và Indonesia, ở cả Trung Kỳ lẫn Nam Kỳ, dưới sự bảo trợ của chính quyền thực dân. Mặc dù vậy, Hồi giáo lại rất ít được nhắc đến trong đạo Cao Đài, chỉ hiện diện với tư cách là một tôn giáo có dung hợp từ Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo, cũng thuộc chi Thánh đạo trong Ngũ chi Đại đạo.
Thông linh họcThông linh học (Spiritisme) tuy chỉ mới từ châu Mỹ thâm nhập vào châu Âu nửa cuối thế kỷ 19, tuy nhiên, với sự xuất tác phẩm "Cuốn sách của linh hồn" (tiếng Pháp: Le livre des esprits) ngày 1 tháng 4 năm 1857 bởi Allan Kardec, Thông linh học đã trở thành đối tượng tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất triết lý của nó.
Sự ảnh hưởng của Thông linh học đã ảnh hưởng ít nhiều đến sinh hoạt tâm linh của những tín đồ đầu tiên, vốn có kiến thức Tây học. Trong đó, quan trọng nhất là nhóm môn đồ Cao - Phạm, nền tảng hình thành Hội Thánh Cao Đài sau này.
Giáo lý cơ bảnCác tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra vũ trụ và hình thành nên các tôn giáo. Theo thời gian, tùy theo địa phương, Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm, và được phân làm 3 kỳ phổ độ với 3 nhánh khác nhau:
■Nhứt kỳ Phổ độ: Là thời kỳ hình thành các tôn giáo trên thế giới gồm Phật giáo ở Ấn Độ, Tiên giáo, Nho giáo ở Trung Hoa, Do Thái giáo ở Trung Đông. Thời kỳ này Thượng đế mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt mình để truyền đạo.
Nhị kỳ Phổ độ: Là thời kỳ chấn hưng các nền tôn giáo trên thế giới. Các tín đồ Cao Đài cho rằng sau một thời gian phổ độ, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy theo thời gian đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc, không còn mang đúng giáo lý nguyên thủy của Ngài. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa đã truyền dạy cho các đệ tử của mình ở các nơi trên thế giới, thực hiện hiện vụ chấn hưng nền đạo. Từ đó hình thành Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo. Thời kỳ này các tôn giáo được chấn hưng và phát triển mạnh mẽ, vượt ra khỏi ranh giới vùng miền quốc gia, dần truyền bá ra thế giới.
Tam kỳ Phổ độ: Là thời kỳ tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tôn giáo duy nhất dưới quyền cai quản Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng thông qua hình thức cơ bút. Đây cũng là lý do một số tín đồ gọi tôn giáo của họ là "Đạo Thầy" với hàm ý họ là những người thọ giáo trực tiếp từ Thượng đế.
Tam giáo quy nguyên 

Ảnh Cao Đài Tam Thánh ở Tòa Thánh Tây Ninh. Từ trái sang phải: Tôn Dật Tiên, Victor Hugo và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Khái niệm cơ bản, thể hiệp sự dung hợp các tôn giáo hình thành nên đạo Cao Đài được gọi là "Tam giáo quy nguyên" (Ba tôn giáo sẽ hợp về một mối). Theo họ, ở thời kỳ phổ độ lần thứ 3, các tôn giáo lớn sẽ hợp nhất giáo lý thành một nền Đại Đạo duy nhất và được truyền bá bằng tiếng Việt
Bên cạnh đó, khái niệm "Ngũ chi phục nhất" (Năm nhánh đạo sẽ trở thành một nền đạo lớn) được đi kèm với "Tam giáo quy nguyên", với cùng ý nghĩa. Theo đó, "Ngũ chi" hàm chỉ các tôn giáo trên toàn thế giới, kể cả Tam giáo, thực chất cũng chỉ là 5 nhánh đạo (con đường) gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Năm nhánh này thể hiện năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao trong quá trình tu tập của các tín đồ, dù theo hướng nào thì cũng quy về một mối.
Thiên nhãnQuan điểm của các tín đồ Cao Đài thì Thiên Nhãn biểu trưng cho con mắt của Thượng Đế nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp nhân gian, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Trước Thiên nhãn, không ai có thể che dấu hay chối cãi được.
Ngoài ra, biểu tượng Thiên nhãn còn ý thức Đại đồng, vì dù bất cứ quốc gia, chủng tộc, hoặc tôn giáo nào, thì biểu tượng Thiên nhãn đều giống nhau và không phản ảnh đặc tính phân biệt nào.
Những tính chất khác

Bên trong Tòa Thánh Tây NinhĐạo Cao Đài nhấn mạnh sự bình đẳng giữa các tín đồ, giữa nam và nữ trong xã hội. Khi xưng hô với nhau, tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "huynh', "đệ", "tỷ", "muội" (tức là anh chị em một nhà), tùy theo giáo phẩm, tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên ("hiền huynh", "hiền tỷ"...).
Một cơ sở tôn giáo Cao Đài được gọi là "Thánh Thất" hoặc "Thánh Tịnh". Mỗi cơ sở đều có chương trình truyền bá giáo lý.
Một số tín đồ nổi tiếng
■Ngô Văn Chiêu, môn đồ đầu tiên của Cao Đài.
■Lê Văn Trung, chức phẩm Thượng Đầu sư (1926), Quyền Giáo tông (1930), lãnh đạo tín đồ Cao Đài từ 1926 đến 1934.
■Phạm Công Tắc, chức phẩm Hộ pháp, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài (1926) và Chưởng quản Nhị hữu hình đài (1934), lãnh đạo các tín đồ Cao Đài từ 1934 đến 1959.
■Cao Quỳnh Cư, chức phẩm Thượng phẩm.
■Cao Hoài Sang, chức phẩm Thượng sanh.
■Vương Quang Kỳ, chức phẩm Thượng Giáo sư, về sau ly khai thành lập chi phái Thánh thất Nam Thành
■Nguyễn Ngọc Tương, chức phẩm Quyền Thượng Đầu sư, về sau ly khai thành lập chi phái Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, được phong chức phẩm Giáo tông.
■Cao Triều Phát, chưởng quản Cửu Trùng đài của chi phái Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái hiệp nhất.
■Trần Quang Vinh, chức phẩm Thượng Phối sư, quyền lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tây Ninh 1941-1946, Trung tướng, Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội Cao Đài (1946-1951).
■Nguyễn Văn Thành (1915-1972), Trung tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài 1951-1955.
■Nguyễn Thành Phương, Trung tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài 1955-1956.
■Trình Minh Thế, Thiếu tướng, Tư lệnh Lực lượng vũ trang Cao Đài Liên Minh.
■Hồ Tấn Khoa, chức phẩm Bảo đạo, Chưởng quản Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (1979-1983).
( Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Cách tổ chức Giáo hội Cao Đài được tổ chức theo qui luật cấu tạo vũ trụ và con người, gồm đủ TINH, KHÍ, THẦN . Theo đó, Pháp Đạo có 3 Đài:
Bát Quái Đài (THẦN)
Hiệp Thiên Đài (KHÍ)
Cửu Trùng Đài (TINH)
1. Bát Quái ĐàiGồm có 3 ngôi:
- Thượng Đế: tâm linh vũ trụ Càn Khôn
- Tòa Tam Giáo: chưởng quyền Luật pháp Thiên điều.
- Các Đấng Thiêng Liêng nơi Ngọc Hư Cung: điều hành Thiên cơ
2. Hiệp Thiên ĐàiHiệp Thiên là cách gọi tắt của bốn chữ Hiệp Nhứt Thiên Nhơn. Đây là cơ quan giữ phần thông công và bảo thủ Luật pháp chơn truyền của Đạo. Hiệp Thiên Đài còn được xem là cơ quan Tư pháp. Có 3 quyền:
- PHÁP: do Hộ Pháp đứng đầu, lo về luật pháp Thiên điều và bí pháp
- ĐẠO: do Thượng Phẩm đứng đầu, lo về Đạo pháp, Tịnh thất.
- THẾ: do Thượng Sanh đứng đầu, trông nom các phần liên hệ đến Đời như Ban Thế Đạo, các Thánh Thất.
Hiệp Thiên Đài có hai cơ quan: Pháp Chánh và Phước Thiện.
a- Pháp ChánhLà cơ quan gìn giữ luật pháp Đạo để bảo thủ đúng chơn truyền mà nhiệm vụ được nêu rõ trong câu liễn dành cho cơ quan.
PHÁP LUẬT VÔ TƯ, ĐẠO GIÁO TỪ OAI TÙNG LÝ
CHÁNH TÔNG BẤT DỊCH CHƠN TRUYỀN, THIỆN ÁC TÙY HÌNH.
Ý nghĩa:
Pháp luật không thiên vị ai nhưng hình phạt của tôn giáo thì hiền lành tùng theo lẽ phải.
Đạo chánh không thay đổi chơn truyền nhưng việc thiện ác tùy theo hình phạt mà áp dụng.
b- Phước ThiệnLàm nhiệm vụ bảo sanh dưỡng thiện, trợ giúp chúng sanh để có điều kiện no ấm, đặc biệt đối với trẻ mồ côi, người già yếu và tàn tật không nơi nương tựa.
Phước Thiện tạo nền kinh tế chính nghĩa, nền văn hoá xã hội hướng thiện. Lấy tình thương làm lẽ sống, lấy điều nghĩa phục vụ nhơn sanh nên cơ quan Phước Thiện được coi là cơ quan đem Đời về Đạo, giúp xã hội trở về thời Thánh đức. Phước Thiện lập cơ chế như những dòng tu, sống đem thân phụng sự cho đời, chết được an ngôi vị. Trong Phước Thiện có 12 cấp từ thấp lên cao.
Nhiệm vụ của Phước Thiện được minh họa bởi hai câu liễn treo trước cơ quan:
PHƯỚC ĐỨC THIÊN BAN VẠN VẬT CHÚNG SANH LY KHỔ KIẾP.
THIỆN DUYÊN ĐỊA TRỮ THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT HIỆP NGUYÊN NHÂN.
Ý nghĩa:
Trời ban phước đức cho vạn vật và chúng sanh khỏi kiếp sống khổ nhọc.
Đất chứa duyên lành, chư Phật mười phương độ các Nguyên nhân hội hiệp trở về.
3. Cửu Trùng ĐàiGiữ quyền Hành Pháp, trông coi về hành chánh Đạo, và điều hành cơ phổ truyền giáo hóa chúng sanh.
GIÁO TÔNG: đứng đầu Cửu Trùng Đài.
Dưới quyền Ngài, Hội Thánh, còn có:
- Ba Chưởng Pháp
- Ba Đầu Sư
- 36 Phối Sư
- 72 Giáo Sư
- 3000 Giáo hữu
Hội Thánh do Ba Đầu Sư lãnh đạo, nhưng quyền hành giao cho Ba Chánh Phối Sư. Ba Chánh Phối Sư đứng đầu Toà Nội Chánh, điều hành Chức sắc cả ba phái và hai cơ quan
- Ba Phái: Tam Thanh
o Phái Thái: mặc áo vàng (PHẬT ĐẠO)
o Phái Thượng : mặc áo xanh (TIÊN ĐẠO)
o Phái Ngọc : mặc áo đỏ (THÁNH ĐẠO)
- Hai cơ quan: Hành chánh và Phổ tế
a. Hành chánhTrong Toà Nội Chánh, văn phòng của Cửu Trùng Đài, có các cơ quan trực thuộc dưới quyền của ba Chánh Phối Sư.
Phái Thái trông coi về Hộ viện (tài chánh), Lương viện (thực phẩm) và Công viện (xây cất, tu bổ)
Phái Thượng trông coi về Học viện (giáo dục), Y viện (y tế) và Nông viện (sản xuất thực phẩm nuôi người hiến thân trọn đời hành Đạo)
Phái Ngọc trông coi về Hòa viện (hòa giải xích mích), Lại viện (lo về văn thơ, hồ sơ) và Lễ viện (lo về các cuộc tế lễ)
b. Phổ tế:Đây là cơ quan truyền giáo nên còn gọi là cơ quan đem Đạo vào Đời, dìu dẫn chúng sanh nương theo Đạo mà tiến hoá đến phẩm trọn lành. Người đi phổ tế phải có khả năng tâm linh vững chắc để giúp người giác ngộ, cải hoá.
Muốn vậy, chức sắc Phổ tế phải biết tu tiến, tham khảo các giáo lý, triết thuyết Đông Tây Kim Cổ để tìm đường hướng giải thoát vừa trình độ của chúng sanh đồng thời vừa nhập thế vừa xuất thế. Do đó, Pháp buộc từ phẩm Giáo hữu trở lên phải chọn trong bậc Thượng Thừa tức là người đã trực nhập phần tâm ấn bí truyền mới được đi dạy Đạo
Nhiệm vụ độ rỗi này được ghi rõ trong hai câu liễn:
PHỔ HÓA CHÚNG SANH CẢI ÁC TÙNG LƯƠNG QUI ĐẠI ĐẠO
TẾ NGUY VẠN LOẠI KHỬ TÀ TÔN CHÁNH HIỆP TAM KỲ.
Ý nghĩa:
Giáo hóa nhơn sanh khắp nơi, sửa đổi không làm ác mà làm theo điều lành trở về với Đại Đạo.
Cứu giúp điều nguy khốn cho muôn loài, trừ bỏ điều tà vạy, giữ cho còn điều chánh đáng, hợp vào Đạo Cao Đài.

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_24.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_06.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_08.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_13.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_22.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_16.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_19.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/06/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

Xem chi tiết…

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM. BÀI 10.

5/16/2011 |
NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ VÀ PHẬT GIÁO HÒA HẢO.



Đôi nét về Đức Huỳnh Giáo Chủ
Ngài là trưởng nam của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm; một gia đình trung lưu, nhiều phúc hậu và nhiều uy tín với nhân dân địa phương.Thuở nhỏ, vừa học đến hết bậc tiểu học thì đau ốm liên miên, nên Ngài phải rời nhà trường về dưỡng bịnh. Từ 15 đến 19 tuổi, Ngài không lúc nào dứt được cơn đau. Và không một lương y nào trị được.
Năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ đi miền Thất Sơn và Tà Lơn, Ngài hoát nhiên đại ngộ. Ngày 18 – 5 Kỷ Mão (1939), Ngài chính thức mở đạo. Bắt đầu là công việc chữa bịnh. Ngài chữa lành được các chứng hiểm nghèo với phương pháp thật giản đơn là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng, khiến các Bác sĩ Tây y, các dược sư  Đông Y lẫn các danh gia phù thuỷ đều phải ngạc nhiên.Song song với việc chữa bịnh, Ngài thuyết pháp thao thao bất tuyệt. Nhiều Thi sĩ, văn gia, luật gia nghe tiếng, đến chất vấn, đều phải nhận Ngài là một bậc siêu phàm.
Cũng từ năm 1939, Ngài sáng tác thật nhiều kệ giảng nội dung tiên tri chiến cuộc sẽ tràn lan, nhân loại sẽ điêu linh và kêu gọi mọi người nên bỏ dữ về lành, thực hành tứ ân, trau dồi thiền tịnh để trở thành hiền nhân trong xã hội và tiến đến sự nhập diệu cõi đạo.Nhìn qua công đức giảng dân cứu chúng, người ta thấy Ngài chữa được hằng vạn chứng hiểm nghèo, thuyết pháp hàng ngàn lần trước đại đa thình chúng và sáng tác sáu quyển kệ giảng cùng với hàng trăm bài thi, ca, văn, chú có giá trị siêu việt.
Văn chương của Ngài cực kỳ bình dân nhưng rất hàm xúc hấp dẫn. Ngài viết không cần giấy nháp.Giáo pháp của Đức Giáo Chủ tuy cao siêu nhưng không kém phần thực tế, có thể áp dụng cho bất cứ một nới nào trên thế gian. Ngài là một nhà cải cách tôn giáo. Vì trước khi Ngài ra đời, Đạo Phật Việt nam bị đình đốn sai lạc, và Đạo Phật thế giới chưa nói tới việc canh tân. Ngài đã cắt bỏ tất cả những nghi lễ phiền toái mà nguyên căn không phải của Đức Thích Ca chủ trương, đồng thời còn canh tân nhiều điểm trong phương pháp thực hành đạo Phật mà trước kia không hề có.Nhờ giáo pháp thích thời đó nên chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài thu phục được hai triệu tín đồ tại miền Nam Việt Nam và ảnh hưởng mỗi lúc càng lan rộng thêm ra.Gần một năm sau ngày khai đạo, ảnh hưởng tâm lý và tác động xã hội của Phật Giáo Hòa Hảo làm người Pháp lo ngại.
Nhằm cách ly tín đồ và triệt hạ êm thắm, ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn (1940) người Pháp cho dời Đức Thầy đến Sa Đéc. Rồi quản thúc Ngài ở làng Nhơn Nghĩa 4 ngày sau đó.Ơ đây Ngài lại được tôn sùng hơn trước, quy tụ quần chúng quy y nhiều hơn. Người Pháp buộc lòng tìm cho Đức Thầy một chứng bịnh, đưa vào khám ở bệnh viện Cần Thơ ngày 29 – 6, đến 4-7 chuyển thẳng lên nhà thương Chợ Quán.Đến ngày 19- 5 Tân Tỵ (19-6- 1941) bị đưa về Bạc Liêu. Ở đây, Đức Thầy không được thuyết pháp và trị bịnh, mỗi thứ hai đến trình diện tại Ty công an.Số lượng tín đồ vẫn gia tăng. Quân Nhật vào Đông Dương. Sợ Nhật liên kết cùng Phật Giáo Hòa Hảo, người Pháp có ý định đày Đức Thầy sang Lào. Chưa kịp hành động thì Nhật cưởng bách Đức Thầy đưa về Sài Gòn gây tình cảm hầu lợi dụng sau nầy. Phải tá túc ở Hiến Binh Nhật chờ đợi thời cơ gánh vác việc nước nhà, Ngài có làm một câu đối diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng của mình:
Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn
Quan Đế cư Tào bất đê Tào.
Những tháng đầu của năm 1945, những bài viết đặc sắc kêu gọi, khơi dậy lòng yêu nước thương dân của các tầng lớp dân chúng đứng lên giành độc lập, tự do được công bố. Cũng trong thời gian này, Đức Thầy thành lập Việt Nam Phật giáo Liên Hiệp Hội để đoàn kết Đạo Phật.Năm 1945, nạn đói khủng khiếp đã xảy ra ở miền Bắc đưa đến một thảm hoạ bi thảm nhất trong lịch sử cận đại, gần hai triệu đồng bào bị chết đói. Nhằm cứu vãn và chấm dứt nỗi đau chung, Đức Thầy đi thuyết pháp – khuyến nông gần hai tháng qua 107 đại điểm và kết thúc vào ngày 26 – 6 ở Hòa Hảo.Lúc bấy giờ Ngài giữ một thái độ dè dặt vì biết rõ thâm ý của quân phiệt Nhật. Cuộc đảo chánh ngày 9 - 3 - 1945 đến, rồi mấy tháng sau, số phận Nhật cũng tới hồi kết thúc. Pháp chạy Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, Cách Mạng tháng tám thành công, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn đọc lập ngày 2 – 9 – 1945, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.Kể từ khi thực dân Pháp theo chân đế quốc Anh trở lại miền Nam, chúng dùng mọi thủ đoạn hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây không biết bao nhiêu cảnh giết chóc lẫn nhau.
“Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau
Quyết rứt cà sa khoác chiến bào
Đuổi bọn xâm lăng gìn đất nước
Ngọn cờ độc lập phất phơ cao”
Sau tạm ước ngày 6 – 3 – 1946 Đức Thầy tham gia Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam Bộ của Mặt Trận Việt Minh, với chức vụ Uỷ Viên đặc biệt, góp phần un đúc, phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết giữa các tầng lớp đồng bào.Đầu năm 1947, để tránh cốt nhục tương tàn, Ngài đã về miền Tây Nam bộ nhằm mục đích giải hoà tình thế hầu đoàn kết chống thực dân hiệu lực hơn.Trong hoàn cảnh chính trị cực kỳ rối rắm ở miền Tây dưới sự khuynh loát cuả Phòng nhì tay sai thực dân Pháp, sau một cuộc binh biến, kể từ ngày 16 - 4 – 1947 không ai rõ tin tức về Đức Thầy, nhưng toàn thể tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vẫn mong đợi ngày về của Đức Tôn Sư. Trên bước đường thực hiện sứ mạng thiêng liêng của một vị Bồ Tát, Ngài luôn làm chủ tư tưởng, hành động đã từng thệ nguyện “Ta chịu khổ khổ cho bá tánh”.
Toàn bộ Sấm giảng Thi Văn giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ đã phản ánh đầy đủ tư tưởng, hành động của Ngài. Việc vắng mặt có mặt, đi hay về vẫn mở ra cho hầu hết tín đồ chân tu tâm đạo Phật Giáo Hòa Hảo một con đường đi tới cứu cánh của Đạo pháp.
Nhưng cũng từ đó, trược dài đến Hiệp định Genève (1954) sau các cuộc phân hoá nội bộ của một số phe nhóm cầm đầu trong đạo, miền Nam dưới chế độ gia đình trị họ Ngô, Phật Giáo Hòa hảo lại bị đàn áp mạnh tay. Đã không được tự do sinh hoạt mà nhiều tín đồ trung kiên còn bị thủ tiêu tù đày…
Nhẫn nhục dưới quyền lực và cắn răng chịu phân hoá đến ngày họ Ngô sụp đổ, năm 1966, Phật Giáo Hòa Hảo tái hoạt động. Cứ ngở là với kinh nghiệm đau thương chừng ấy năm đủ tạo thành một nhận thức tốt hơn để hành đạo, nhưng chưa được bao lâu lại bị tiếp tục xẽ chia. Tuy nhiên, với bản chất thuần phác của người nông dân, đa phần tín đồ vẫn một lòng theo Thầy giữ đạo, tham gia Cách mạng, giải phóng miền Nam.Không được dìu dắt tốt nhưng trong tâm tư người chân đạo vẫn y nguyên sắc nâu thuần khiết.30 -4- 1975, đất nước hoà bình thống nhất “ngọn cờ độc lập phất phơ cao” đã tạo ra một bước ngoặt.
Sau đó một thời gian, Phật Giáo Hoà hảo được hoạt động. Thông qua Đại hội đaị biểu tín đồ toàn đạo đã chính thức suy cử – thành lập Ban Trị sự Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa hảo, xây dựng đường hướng Vì Đạo Pháp – Vì Dân Tộc, thông qua hiến chương và chương trình đạo sự, hướng dẫn thống nhất toàn đạo tu đúng giáo lý, giáo luật, tôn chỉ hành đạo thuần tuý chơn truyền của Phật Giáo Hòa Hảo.
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
Đến Đức Huỳnh giáo chủ, khi Ngài ra đời, để dễ bề phổ hóa, Ngài cũng giả dạng, xưng hiệu khùng điên, đi đây đi đó, thức tỉnh chúng sanh như ông Sư Vãi Bán Khoai. Nhờ phương pháp khi ẩn khi hiện ấy mà sự truyền bá được lan rộng khắp nơi, mặc dù lúc bấy giờ quân Pháp cực lực đàn áp và truy nã tín đồ Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
Nhân thấy thời kỳ đô hộ của Pháp sắp mãn và ngày biến chuyển hầu gần, Đức Huỳnh giáo chủ chánh thức ra khai đạo, nhằm ngày 18 tháng 5 Kỷ mão (1939). để kịp kỳ khởi sắc và xiển minh giáo pháp Tu Nhân Học Phật. Sau một thời gian ngắn dùng huyền diệu của Tiên gia bộ bịnh và ra Sám giảng thức tỉnh người đời, Ngài gây nên một phong trào đạo hạnh chưa từng thấy.
Mà được như thế là vì, sau khi đem đối chiếu ngôn hạnh của Ngài Đức Phật Thầy và Sư Vãi Bán Khoai, người đời nhận thấy có sự đồng nhứt tư tưởng và chuyển kiếp. Có thể nói, nơi Đức Huỳnh giáo chủ, tập trung cả một thế hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương vì rằng chưa hoàn thành thì nay đều được Đức Huỳnh giáo chủ xiển minh và phát triển.
Về nghi thức thờ trần điều, khởi thỉ từ Đức Phật Thầy Tây An và đã biến hình trong giai đoạn của Đức Bổn Sư, đến Đức Huỳnh giáo chủ, đã được phục hồi như cũ. Về giá pháp cũng thế, pháp môn Tu Nhân Học Phật do Đức Phật Thầy khai thị, đến Đức Huỳnh giáo chủ, được xiển minh và trình bày có hệ thống. Ngài luận giải về Tứ Ân, Tam nghiệp, Bát chánh, Tứ diệu đề, Thập nhị nhân duyên cùng mọi nghi thức thờ phượng và tu hành rất tin tưởng, rất dễ cho tín đồ nương theo đó mà tu học.
Mặc dù Ngài không phát phái, nhưng với sự đối chiếu tư tưởng, nghi thức thờ phượng và giáo pháp hành đạo mà Ngài đã giáo hóa, người ta nhận rõ Ngài là một vị kế truyền chánh thống của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
Tại đâu Ngài không phát phái? Ngài có đáp đại khái: ở đời hung ác nầy, nếu phát phái thì rất có hại, vì rằng kẻ không có lòng phái sẽ tìm cách cướp đoạt khi họ có quan niệm rằng lòng phái sẽ có công hiệu để xuất trình đi đến hội. Như vậy, người có lòng phái sẽ gặp nhiều tai hại, chẳng khác người có tiền của trêu bẹo trước kẻ trộm cướp bất lương. Và càng hại hơn nữa là không tránh khỏi sự ruồng bắt và đàn áp của quân Pháp.
Tuy rằng không phát phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương nhưng trong sám giảng và thi thơ của Ngài, người ta vẫn gặp rất nhiều bài thơ khoán thủ bằng bốn chữ báu linh ấy. Chẳng hạn như:
Bửu châu công luyện chốn non Tan.
Sơn thủy môn giang bảo giác dân.
Kỳ quái chứ nơi thiên nhứt định những.
Hương nồng dành thưởng kẻ tròn ân.
Hoặc giả :
Bửu ngọc vãng lai rõ đạo mầu.
Sơn tầm hạnh Thích nẻo cao sâu.
Kỳ giả thức tâm tìm đạo lý.
Hương tuyệt đăng lai bái phục cầu.
Những bài thơ khoán thủ như trên, kể ra còn nhiều, không sao trích lục hết được. Xem đó, Ngài đã mặc nhiên cho đời nhận thấy Ngài là vị kế thống của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương rồi. Do đó mà tín đồ của các bực tiên giác, trước kia là những chi phái riêng biệt, đã kết thành một khối dưới sự hoằng hóa của Đức Huỳnh giáo chủ, Giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương nhờ vậy mà phổ biến rất mạnh trong sanh chúng.
Khi nhận thấy ảnh hưởng của đạo Phật-giáo Hòa Hảo do Đức Huỳnh giáo chủ khai sáng một ngày một lớn và thực ra là cùng một giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương, quân Pháp ra tay khủng bố. Chúng cho điệu Ngài từ Hòa Hảo qua Châu Đốc rồi đưa đi an trí ở Sa Đéc, Cần Thơ, Sài Gòn và Bạc Liêu. Nhiều tín đồ Phật-giáo Hòa Hảo lần lượt bị bắt đày đi Bà rá, Côn Nôn; Sám giảng bị tịch thâu bị cấm.
Quân Pháp tưởng thi hành chánh sách khắc nghiệt như thế là chặn được tiến triển của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương, nhưng không dè, càng đưa Đức Huỳnh giáo chủ đi an trí đến đâu thì pháp môn Tu Nhân Học Phật của Ngài càng được phổ biến rộng ra chừng nấy.
Trong một bài thơ viết tại Sa đéc, Ngài có nói rằng:
Ta còn thương, thương trò lịu địu,
Chớ cũng mừng được dịp phổ thông
Và theo Ngài:
Càng đi càng biết nhiều nơi.
Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.
Thế nên mặc dù bị quân Pháp đàn áp, nền đạo Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, Bửu- Sơn Kỳ- Hương nói chung không vì thế mà ngưng trệ, trái lại càng phổ biến và bành trướng mạnh mẽ.
Cũng như gần đây; bọn vô thần tìm đủ phương pháp tiêu diệt, bằng cách thủ tiêu tín đồ và ám hại Đức Huỳnh giáo, nhưng càng bị khủng bố, nền đạo Phật giáo Hòa Hảo, cũng như cây được tưới nước, càng thêm phát triển. Có thể nói đây là thời kỳ cực thịnh và phổ biến rộng rãi của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
Đã hai lần bị Thực dân đàn áp mà nó không tan rã thì không còn chướng ngại nào có thể chận đứng sức phát triển của nó được. Mà sở dĩ giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương còn tồn tại và phát huy là nhờ ở pháp môn Tu Nhân Học Phật, chẳng những thích hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp mà còn đào luyện nơi kẻ tính phụng nó, một tinh thần sùng đạo và vị tha cao cả.
Đó là yếu tố siêu thắng của pháp môn Tu Nhân Học Phật của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
I. KHAI TRIỂN PHÁP MÔN TU NHÂN HỌC PHẬT
Khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là Đức Phật Thầy Tây An, còn đem ra thực hành và áp dụng trong đời sống xã hội là Đức Huỳnh giáo chủ.
Từ Đức Phật Thầy Tây An trải qua Đức Phật trùm, Đức Bổn Sư, ông Sư Vãi bán khoai, pháp môn Tu Nhân Học Phật vẫn giữ cái hình thức khái yếu cho đến ngày Đức Huỳnh giáo chủ ra đời mới lập thành hệ thống.
Có thể nói Đức Huỳnh giáo chủ là người xướng minh pháp môn Tu Nhân Học Phật. Ngài đã dày công diễn giải Tứ Ân, luận về Tam nghiệp, thập thiện, Bát chánh, Tứ diệu đề, Thập nhị nhân duyên… một cách rành mạch tận tường. Ai đọc đến cũng dễ dàng lãnh hội mà nhận thấy rằng các ngài tiên giác trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương chính thật là những vị kế thống mối Đạo của Đức Phật Thích Ca truyền dạy từ Đức Ca Diếp cho đến Đức Lục tổ Huệ Năng.
Nhưng đạo Phật sở dĩ thất chơn truyền từ một ngàn năm nay, như Đức Huỳnh giáo chủ cho biết là bởi Thần Tú bày ra nhiều điều đối mị, mê tín dị đoan biến chốn thiền môn thành nơi ẩn thân của hạng người lỡ thời thất vận. Vì thế, kẻ tu hành thì nhiều mà đắc đạo thì chẳng có mất ai.
Chính với mục đích hưng truyền mối Đạo vô vi của Phật và dìu dắt chúng sanh trở lại con đường chánh đạo để kịp kỳ dự Hội Long Hoa mà các vị tiên giác lâm phàm.
Nhưng trong thời kỳ mạt pháp này, muốn giáo hóa chúng sanh cho có đủ hạnh đức để kịp dự Hội Long Hoa là điều rất khó, vì rằng con người sanh ra trong thời kỳ này hầu hết đều căn cơ thiển bạc, công đức mỏng manh, lại gặp buổi Hạ nguơn gấp rút, nếu không có pháp môn hành đạo vừa thích hợp với trình độ cơ cảm của họ, vừa có công năng giúp họ hoàn bị công đức tự lợi lợi tha trong một thời gian ngắn thì không làm sao cho kịp.
Vả lại, giáo pháp của Phật chú trọng ở sự thực hành, luôn luôn thệ nguyện “Trên đáp bốn trọng ân, dưới cứu ba đường khổ” cho nên ngoài việc xiển minh đạo Phật hưng truyền chánh pháp của Đức Thích Ca, giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương còn khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật để giúp chúng sanh có phương tiện và cơ hội lập công bồi đức, hầu gây lấy phước duyên làm nền móng cho bước đường tiến tu trong buổi Thượng nguơn hay vãng sanh về Cực lạc.
Nhận thức cơ biến chuyển hầu kề. Hội Long Hoa sắp mở và để kịp chuẩn bị đồ chúng đón rước sự giáng lâm của Đức Di Lặc, Đức Huỳnh giáo chủ sau một thời gian mở cơ phổ hóa, đem giáo lý của đức Phật rèn luyện tín đồ có được một nền đạo đức căn bản, bèn bước sang giai đoạn hành động, hướng dẫn môn nhơn đệ tử tham gia công cuộc ích nước lợi dân.
Gặp khi nước nhà tranh lại quyền tự chủ, gỡ ách thống trị của ngoại bang. Ngài chẳng ngại đứng lên thành lập quân đội và tham gia chánh trị.
Có người e ngại cho sự hoạt động của Ngài có trái với giáo pháp của Đức Phật chăng thì Ngài có đáp rằng: “Đối với toàn thể tín đồ Phật-giáo, tôi vẫn không quên tôi là một đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh chẳng những được truyền bá ở thiền lâm mà còn phải được thực hiện trên trường chánh trị”.
Đối với đức Phật, giữa chúng sanh có sự bình đẳng về thể tánh, nếu như có kẻ lợi dụng sức mạnh trí khôn lanh của mình áp bức kẻ hèn yếu hay kém thông minh, chẳng là trái nghịch với giáo lý bình đẳng đấy ư ?
Phương chi, trong sự binh vực lẽ công, bảo vệ quê hương đất nước, lại không vì lợi danh mà là vì đền đáp nợ Tứ Ân, vi vị tha bác ái của nhà Phật.
Trong pháp môn bố thí không có hạnh nào khó hành bằng hạnh vô úy thí, hy sanh cả tánh mạng, Đức Phật, trong vô lượng kiếp từng thí thân để làm lợi lạc cho cả muôn loài vạn vật. Nhờ công đức ấy mà trên đường tu hành, Ngài siêu được nhiều kiếp.
Thì nay, trong thời kỳ gấp rút của buổi Hạ nguơn muốn gây lấy công đức để đi đến Hội Long Hoa, sống còn trong buổi Thượng nguơn, thử hỏi còn hạnh nào siêu thắng bằng hạnh vô úy thí, xả thân giúp nước cứu đời.
Ai sanh ra ở đời lại không tiếc thân quí mạng. Đến như tiền của là vật phù du mà người ta còn tiếc tham không đành đem ra bố thí thì hà huống là xả thân hiến mạng. Việc khó làm mà làm được, làm không chút tư lợi mới là đáng quý.
Thử nghĩ, gặp buổi ngoại tặc xâm lăng quê hương đất nước, nạn binh lửa tràn lan, cướp bóc hành hung nhà tan cửa nát, thân người không yên, cha lạc con, vợ mất chồng mà có người đem thân ra chống ngăn dẹp loạn, đem lại an ninh trật tự, nhà nhà ở yên, không còn lo âu sợ sệt, thì còn công đức nào bằng.
Chính với ý nguyện muốn cho tín đồ có cơ hội lập công bồi đức mà Đức Huỳnh giáo chủ tham gia chánh trị và thành lập nghĩa quân.
Nếu làm tròn bổn phận đối với đất nước đồng bào, chẳng những đền đáp Tứ Ân mà còn trả xong nợ tiền khiên túc nghiệp. Một khi oan trái đã dứt thì có khó gì chẳng đến được cảnh giới siêu mầu của Tiên Phật.
Đức Huỳnh giáo chủ có nói:
Trả cho rồi nợ tiền khiên.
Đến ngày hiệp mặt kiềng Tiên vui vầy
Ông Thanh Sĩ cũng nhận rằng:
Luân thường người hãy thích ưa,
Đạo nhân vẹn phận tam thừa cũng xong.
Phải làm tròn đạo nhân, phải xả thân giúp đời, phải làm theo lời dạy của Phật, đó là yếu chỉ của pháp môn Tu Nhân Học Phật mà Đức Huỳnh giáo chủ đã tự thân đứng ra thực hành và hướng dẫn môn nhơn đệ tử cùng thực hành theo.
Dầu lập quân đội hay hoạt động chánh trị, đó chỉ là những phương tiện để đạt đến mục đích là xả thân giúp đời, tạo lấy công quả bồi đắp cho bước đường cầu đạo siêu sanh mà cứu cánh là đi đến cõi Thượng nguơn nghe pháp mầu của Đức Di Lặc hầu được hoàn toàn giải thoát, hay vãng sanh về cõi Cực lạc.
Đã hiểu được mục đích của bước đường tiến tu thì không còn phải e ngại khi dùng đến phương tiện.
Vả lại thời cơ đã đến cho mình trả nợ Tứ Ân và cũng là vận hội lập công bồi đức thì còn tiếc gì mà chẳng xả thân giúp đời.
Với ý nguyện vị tha lợi chúng, người hành giả Tu Nhân Học Phật, dầu gặp phải hoàn cảnh khó khăn, gian lao nguy hiển, vẫn xem thường tánh mạng, say sưa với nghĩa vụ giúp đời, không mong được trả ơn, vì đó là một bổn phận,
Đức Huỳnh giáo chủ há chẳng khuyên:
Giúp đời đừng đợi trả ơn.
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.Thế nên, dầu có được địa vị sang trọng nào, người hành giả tu Nhân học Phật cũng không lấy làm thích thú hay trước nhiễm, vì họ xem đó như là một lớp áo mưa mặc bên ngoài, khi hết mưa lại cởi ra cũng như kẻ lữ hành phải bỏ thuyền khi đến bến.
Huống chi, trò đời là một tuồng huyền hóa, mọi vật đều tạm giả thì có gì trường tồn vĩnh cửu đâu mà trước nhiễm đắm say. Kia nào có khác chi những vai khanh tướng công hầu trên sân khấu, chỉ vì lớp lang phải múa meng rối rít, chớ một khi hết lớp hạ màn, hia mão cởi ra thì đào kép vẫn hoàn đào kép. Còn chăng chỉ những tiếng khen chê của khán giả.
Nếu mọi người đều biết tuồng đời là một sân khấu, con người là một trò hề thì dầu có đóng vai chi cũng không lấy đó làm thực mà luyến tiếc mão hia.
Đức Huỳnh giáo chủ đã từng nói:
Thuyền bát nhã ta cầm tay lái.
Quyết đưa người khỏi bến sông mê.
Nên phải đành mang lốt làm hề,
Mặc bá tánh khen chê cũng phải.Như thế đủ thấy, dầu có dùng phương tiện “làm hề” mà đạt được mục đích “đưa người khỏi bến sông mê” thì chẳng ngại gì tiếng “ khen chê” của bá tánh.
Phải giúp đời, xả thân cứu đời, không màng lợi danh quyền tước, đó là bản nguyện của chư Phật Thánh Tiên, mà đó cũng là phương châm của hành giả Tu Nhân Học Phật trong buổi Hạ Nguơn gấp rút này mà Đức Huỳnh giáo chủ lãnh lấy sứ mạng thực hiện.
2. SỨ MẠNG CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
Về sứ mạng của Đức Huỳnh giáo chủ, ông Thanh Sĩ có viết:
“ Chúng ta dù phải lăn lóc gai chông, lấm lem bùn trịnh mà lòng không núng nao thối chuyển là vì chúng ta thấy rõ sứ mạng của Đức Thầy đối với nhân sanh trong buổi này. Và hiểu biết tường tận tâm đức của Đức Thầy, chúng ta mới đeo đuổi đạo lý đến cùng không để tâm lui sụt.
Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc
Đức Di Đà truyền mở đạo lành;
Bởi vì Ngài thương khắp chúng sanh,
Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.
“Đoạn này Đức Thầy nói người đời nay muốn tu tỉnh rất may được gặp Đức Di Đà sắc lịnh cho Ngài ra đời khai mở mối đạo thì cứ mạnh mẽ tin tưởng để qui đầu theo Phật pháp.”
“ Sở dĩ Đức Di Đà sắc lịnh cho Đức Thầy ra đời khai sáng mối đạo, vì tâm Đức Phật quá thương xót chúng sanh ở buổi Hạ nguơn đã chịu lắm đau khổ và sẽ không khỏi bị tận diệt, nên Ngài không những sắc lịnh cho Đức Thầy xuống trần mà còn truyền cho các vị Bồ Tát, La hán khác đồng hạ phàm tùy căn cơ, tùy bản xứ và tùy nhân tâm dạy bảo giáo pháp thích ứng khiến cho chúng sanh vui vẻ thực hành theo hầu được chút phước duyên để tránh khỏi ngày thống khổ.
“ Xem đoạn trên đây, chúng ta thấy Đức Thầy ra đời có sắc lịnh của Đức Di Đà, Đức Phật Tổ, chớ không phải việc ngẫu nhiên.
“Thiệt ra đối với Đức Thầy, dù chúng ta chưa được cảm thông máy huyền vi, chưa được sự mách bảo của các đấng vô hình đi nữa, nhưng chỉ xét trong kệ giảng của Ngài, chúng ta cũng được hiểu biết một phần về sứ mạng của Ngài ra đời trong thời kỳ nầy với mục đích thi hành năm khoản chính như sau:
1. Báo tin ngày tận diệt sẽ tới;
2. Đưa các thiện căn đến kỳ đại hội Long Hoa;
3. Đánh thức các linh hồn đã gieo rắc thiện duyên cùng Ngài ở nhiều tiền kiếp;
4. Phò trợ Thánh Vương;
5. Chấn hưng đạo Phật.
“ Lẽ thứ nhứt, Đức Thầy ra đời là Ngài nhận thấy buổi tận diệt của nhân sanh gần đến, Ngài không nỡ ngồi nơi ngai vị Phật quốc hưởng lấy yên vui một mình để cho nhân sanh chết dưới cảnh tàn hại của nạn binh lửa ở thế gian, nên Ngài xuống trần, trong kệ sám Ngài luôn luôn nhắc đi nhắc lại việc tận thế để đánh thức lòng người sớm bỏ dữ về lành, cải tà quy chánh, trừ việc lòng tham, khởi tâm bố thí, dứt sạch mê muội trở lại bổn tánh minh mẫn và luôn luôn lo việc lành việc phải để nhờ sự ủng hộ của Thần Thánh ngày kia, dù quả Địa cầu biến đổi, nhân sanh đa nạn, chẳng những mình được thoát qua mà còn được sống đến ngày ơn trên lập đời Thượng nguơn.”
“ Lẽ thứ hai Đức Thầy ra đời là Ngài dùng đủ cách để đưa con người hiền thảo đi đến Hội Long Hoa. Cách thức đưa rước ấy là Ngài dùng thuyền Bát nhã, tức là trí huệ của Ngài mở mang tâm tánh đưa chúng sanh được khỏi mê si tà kiến và chỉ bày lẽ huyền diệu đạo lý cho người khỏi tiêm nhiễm ngông cuồng, Khi chúng ta cùng trở lại đường chơn chánh, đó là mỗi chúng sanh đã lên thuyền Bát nhã vững vàng đến cõi giải thoát.
“ Lẽ thứ ba Đức Thầy ra đời là Ngài có mỹ ý đánh thức các linh hồn đã bao nhiêu kiếp qua từng gieo sâu duyên lành cùng Ngài, mà giờ nầy họ còn đeo mãi danh lợi, họ còn đương tươm ướp vật dục cho họ có cơ nhớ lại kiếp trước đã từng tu hành, đã từng gặp đạo tu tỉnh, nếu bây giờ quên đi là không khỏi sanh các cảnh giới đê hèn. Vì tiền kiếp Đức Thầy đã từng vào ra ở cõi nầy, phần nhiều là ở xứ sở Việt Nam cũng đã đem lắm lời đạo lý dạy cho nhân sanh, từ vùng nầy đến vùng khác, hoặc dùng diệu dược cho chúng sanh lành bịnh hầu cảm ơn cứu khổ mà tu hành. chúng sanh ở thời ấy, được sự hóa độ của Đức Thầy và Đức Thầy cũng từng nhờ sự giúp đỡ của họ, nên thời kỳ này là thời kỳ tận diệt. Đức Thầy nghĩ vì các con lành kiếp trước, nên Ngài ra đời để gần họ, nói bên tai họ, hoặc dùng bút mực dạy cho họ ăn năn cải hối, khỏi ngày tận diệt. Nhứt là Ngài muốn cho con hiền thảo ấy cùng Ngài đến Hội Long Hoa hay về cõi Cực Lạc.
“ Bởi ngày Hội Long Hoa, có Đức Từ Thị ra đem lời cao siêu như Đức Phật Thích Ca dạy cho chúng sanh nghe tu hành để khỏi chốn mê lầm, khỏi cảnh eo hẹp ở kiếp phàm. Nếu sự tu hành ấy được tinh tấn sẽ đến quả vị bất sanh bất diệt. Nhược bằng kiếp này, chúng sanh chơn chánh mà còn bị quả ác do kiếp trước trả lại, hoặc bị người giết hại mất xác, song linh hồn kia cũng được Thầy Tổ tiếp dẫn về Tây phương an hưởng quả vô sanh. Nếu ý nguyện cứu đời của người ấy chưa mãn thì sẽ trở lại cõi trần dìu dắt chúng sanh tu hành giải thoát.
“ Lẽ thứ tư Đức Thầy ra đời là Ngài vì mến ân đức của vị Minh Vương, nên vị Minh Vương ra đời thì Đức Thầy có bổn phận ra theo để giúp đỡ cho Ngài sớm được hoàn thành nhiệm vụ; từ chỗ nước nhà bị thống trị trở lại tự do; từ chỗ nhu nhược được trở nên cang cường; từ chỗ đen tối trở lại màu sáng sủa v.v…
“ Lẽ thứ năm Đức Thầy ra đời là nỗ lực chấn chỉnh trùng hưng mối đạo của Phật-Thích Ca đã khai sáng từ lâu mà ngày nay đã biến đổi cái tánh chất tinh vi của nó, nghĩa là đạo Phật trước kia rất chơn chánh cao siêu, các hạng học Phật rất tín thành, nhưng gần đây, vì sự mua danh chác lợi của kẻ nương bóng từ bắt đầu bi, mượn lời Phật pháp làm cho nó suy đồi đi; cảnh chùa chiền là nơi tượng trưng cảnh Tây phương, cõi giải thoát, nơi thanh tịnh, thế mà bây giờ họ lại chứa đựng kẻ bất lương xảo quyệt, phạm trai phá giới, vì vậy Đức Di Đà cũng như Đức Phật lấy làm đau xót, nên sắc chỉ cho các vị Bồ Tát và La Hán len lỏi xuống cõi thế gian, hoặc vào hạng người làm ruộng rẫy, hạng người buôn bán, hạng vua quan hoặc lẫn lúc trong hàng đĩ điếm v.v… để đánh thức lòng người chưa hiểu đạo lý sớm biết ăn năn. Việc làm ấy, đến chừng nào chúng sanh trở lại bản nguyên rộng lớn của Phật pháp thì lòng chư Phật mới thỏa được.
“ Các Ngài có mỹ ý làm cho chúng sanh đến cõi giải thoát song chúng sanh hành sai lạc chơn lý thì phải sa đọa, như thuốc rất hay mà dùng không nhằm bịnh thì có hại. Nên lẽ thứ nhứt các Ngài chủ ý làm cho chơn lý được nêu cao; lẽ thứ hai làm cho chúng sanh hành chánh đường; lẽ thứ ba khi chúng sanh được hành chánh đạo sẽ đến cõi giải thoát. Được thế sẽ không còn chia rẽ chùa này chùa khác, tăng nọ ni kia nữa.


“ Mỗi khi xét lại năm khoản vừa kể qua, chúng ta thấy rằng Đức Thầy là vì sao cứu khổ chúng sanh ở thời kỳ nầy, cũng là một tiếng chuông rất thanh, rất lớn trong nền đạo Phật. Ngài sẽ có phương thuốc mầu nhiệm làm cho bịnh mê trong các từng lớp nhân loại hết mê. Thấy vậy lòng chúng ta càng tin mạnh lên và tin chắc rằng: Vì thời quay vận kiểng mà Ngài vắng mặt, chờ ngày kia đến việc thì Ngài cũng trở về làm xong nhiệm vụ, vì nhiệm vụ ấy, với kẻ khác dù có tài hơn cũng không thể thay thế Ngài được.
“Nói tóm lại, đến chừng nào Hội Long Hoa được khai mở cách rõ ràng cho muôn mặt đều thấy, những người thiện, kẻ hiền đức được trở lại vị cũ, nghĩa là những người tiền kiếp có gieo duyên lành với Ngài nay cùng một nhịp quay về con đường Phật pháp; những kẻ đã làm được việc lành việc phước, từng bố thí chẩn bần, từng thi ân lập đức đến ngày Hội Long Hoa sẽ chứng đắc quả vị tại tiền; công việc của Đức Thánh Vương ở thời kỳ ấy khi nào được xong xả … và chót hết khi nào nền đạo Phật được trở lại chơn chánh, từ hạng tại gia, hạng xuất gia đều giữ giới luật tinh nghiêm, không còn sự chê bai hay dối trá nhau thì chừng ấy sứ mạng Đức Thầy mới tạm gọi là xong.
“ Nhược bằng ngày tận diệt chưa tới Long Hoa chứ mở, kẻ làm ác chưa quày đầu, người làm lành làm phước chưa hưởng sự vui tươi… nền Phật giáo chưa được quang minh thì nhiệm vụ Đức Thầy còn nặng và Ngài còn trụ thế lâu ngày để làm xong sứ mạng. Mặc dù kỳ xuống thế này Ngài gặp nhiều tai ách và bị Ma vương khuấy nhiễu song Ngài không nao núng và nhờ các vị Long Thần Hộ Pháp luôn luôn bảo vệ Ngài được bình an, nên sớm muộn gì Ngài cũng làm xong phật sự,”
( BSKH- sdd).
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO******
I.- VỊ-TRÍ ĐỊA-DƯ

Nền Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai sáng tại làng Hòa-Hảo, quận Tân-Châu, Tỉnh Châu-Đốc, Nước Việt-Nam, vào thời đó phát-triển mạnh ở Miền Tây Nam-Việt, nhứt là tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau và Thành phố Sài Gòn.
Đặc biệt đây là những tỉnh đồng-bằng thuộc châu-thổ sông Cửu-Long, giáp giới nước Cao-Miên được mệnh danh là vựa lúa của Việt-Nam. Nhờ sự phì-nhiêu của đất đai, vùng này có khả năng vĩ-đại về nông nghiệp, và có một vai trò căn-bản trong nền kinh-tế nông-nghiệp hiện nay của nước Việt-Nam.
Riêng vùng này, gọi chung là Miền Tây hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngày nay gồm 12 tỉnh là : Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với tổng diện tích canh tác lúa là 4,009,000 mẫu tây ; cây hoa màu : 4,500,000 mẫu tây. Tổng sản lượng hằng năm gần 16,000,000 tấn lúa (Thống Kê năm 1999) chưa kể những sản-phẩm hoa-mầu phụ, và ngư-nghiệp, chăn nuôi... Đại-đa-số gạo xuất cảng của Việt-Nam sang các nước cần mua mễ cốc, đã xuất phát tại vùng này.
II.- NGUỒN GỐC

Ngoài sự kiện kinh-tế trên đây, vùng này còn có một số dãy núi mà nhiều văn-kiện lịch-sử xưa nay đã lưu-truyền rằng tại đó chứa đựng nhiều điều huyền bí ly-kỳ, nhứt là bảy dãy núi Thất-Sơn tại biên giới tỉnh Châu-Đốc giáp xứ Cao-Miên.
Những điều huyền-bí đó lưu-truyền trong sách vở đến nay chưa ai cắt nghĩa được ngoài sự kiện cụ-thể là chính tại vùng Thất-sơn này đã phát-xuất, từ năm 1849 một vị Phật Sống tức Đức Phật-Thầy Tây-An, sáng lập tông-phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương, và sau này vào năm 1939, cũng một vị Phật Sống khác là Đức Thầy Huỳnh-Phú-Sổ, tiếp nối truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương mà khai sang mối đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo, cũng tại một địa-điểm gần dẫy Thất-Sơn.
Tuy là Phật-Giáo Hòa-Hảo mới ra đời từ 1939 đến nay, nhưng đã có nguồn gốc tông-phái từ 1849, tức là trên một trăm năm nay.
Đức Phật Thầy Tây-An đã nổi danh khắp Miền Nam Việt-Nam, là một vị Phật Sống và một nhà ái-quốc, cũng như sau này Đức Huỳnh Giáo-Chủ Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng được người Việt-Nam tôn sùng là một vị Phật Sống xuống thế cứu đời, đồng thời cũng là một nhà Cách-mạng quốc-gia chơn-chánh. (xin xem Tiểu-Sử và Giáo-Lý của Đức Huỳnh-giáo-chủ.)
III.- SỐ TÍN-ĐỒ PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Tổng-số tín đồ P.G.H.H. được ước lượng vào khoảng trên 5 triệu người trong toàn quốc, đại diện là tỉ-số 38% trên tổng dân-số 16,133,434 người của Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Có những tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo lên đến 90% dân-số; ở các tỉnh khác, tỷ-số này thay đổi từ 10 đến 60%.
IV.- ĐẶC-TÍNH PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Hiện nay Phật-Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn-giáo quan trọng nhứt ở Việt-Nam. Với khối quần-chúng trên 5 triệu người P.G.H.H. không những có tánh-chất của một khối quần-chúng tâm-lý sắt-son tin-tường nơi giáo-lý cao-siêu của Đức Huỳnh-giáo-chủ, mà còn thêm có tổ-chức thành hàng-ngũ, hệ-thống chặt-chẽ để chịu đựng mọi thử thách cam-go mà tự tồn và phát-triển.
ĐẶC TÍNH THỨ NHẤT : nằm trong truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương đến Phật-Giáo Hòa-Hảo là một nền đạo Phật gần gũi với ĐẠO LÝ DÂN TỘC (NHÂN-HIẾU-TRUNG-NGHĨA)
Trên phương-diện Nhân-sinh và Xã-hội, người ta cũng nhận định rằng bản chất thuần phác của ngưởi nông-dân cho họ có căn-bản thuận-lợi để tu-học theo đạo Phật và thấm nhuần đạo lý làm người sống trong quan hệ với gia đình, xã hội, đất nước để rèn luyện trở thành những hạt giống tốt gieo trồng cho một tương lai toàn thiện, toàn mỹ sau này. Tuy gốc Đạo bám rễ trên tầng lớp nông dân nhưng từ đó các lớp tín hữu sau nhờ tiếp thu nền học vấn tiên tiến đã và đang vươn lên đến đỉnh trí tuệ để đóng góp cho đời bàn tay, khối óc của họ.
ĐẶC TÍNH THỨ HAI : Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng như Bửu-Sơn Kỳ-Hương đều chủ-trương tu-hành tại-gia. Bởi vì các vị Giáo-chủ nay đã nghĩ rằng đạo Phật không những chỉ truyền-bá ỏ thiên-non mà còn phải phát-triển rộng-rãi đến mọi gia-đình.
Do đó các tín đồ P.G.H.H. không bắt buộc cạo đầu vào chùa, lìa bỏ mọi việc ngoài thế-gian, mà họ vẫn ở tại gia-đình, sống như mọi người công-dân khác, với nếp sống bình-dị trong nông-nghiệp, đồng thời tu hành theo giáo-lý Đức Thích-Ca.
Tôn-chỉ tu-hành của Phật-Giáo Hòa-Hảo là HỌC PHẬT TU NHÂN, tức là noi theo giáo-lý chơn-truyền của Đức Phật mà tu sửa con người, để vừa làm tròn bổn-phận trong cõi đời đang sống, vừa dọn thân-tâm cho trong sáng đề được siêu-thăng vào cõi Tịnh-độ Cực-lạc, giải-thoát khỏi vòng luân-hồi.
Để thi hành tôn-chỉ Học Phật Tu Nhân, người các tín đồ P.G.H.H. phải tích cực thực hiện Tứ-Ân, tức bốn điều ân lớn là:
Ân Tổ-Tiên Cha-mẹ
Ân Đất-Nước
Ân Tam-Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
Ân đồng-bào nhơn-loại
(Xin xem Sấm Giảng quyển 6 do Đức Huỳnh Giáo-Chủ viết)
Cũng trong đường lối đó, người tín đồ P.G.H.H. đã tỏ ra tích cực tu-hành đồng thời cũng tích-cực hy-sinh vì đất nước, khi quốc-gia hữu-sự.
ĐẶC TÍNH THỨ BA : là sự canh-tân phương pháp hành-đạo nhằm loại trừ mọi hình thức rườm-rà mê-tín dị-đoan. Đặc tính canh-tân này có mục đích loại bỏ âm-thinh sắc-tướng để phát-dương phần tinh-túy của Đạo Phật, đúng theo chánh-pháp vô-vi của Đức Phật.
Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo chủ-trương canh-tân như sau:
Không cất chùa đúc tượng thêm, ngoài những ngôi chùa đã sẳn có. Ai giầu lòng từ-thiện thì nên phát tâm bố-thí, cứu-trợ kẻ nghèo-khổ, thì hơn là cất chùa lớn đúc tượng cao.
Không chấp nhận thầy cúng, thầy lễ, thấy bói, thầy phù-thủy, cũng không dâng cúng chè-xôi thực-phẩm cho Phật, vì Phật không dùng những của hối-lộ đó.
Không dùng cờ phướn, lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, phí-tổn vô-ích . . .
Không khóc lóc hay làm linh đình lúc tang ma, mà chỉ im lặng cầu nguyện cho linh hồn kẻ chết được siêu thoát.
Không ép hôn, thách thức tiền cưới hay tiệc rượu linh-đình, vì sẽ mang nợ, gay hại về sau.
Tóm lại, giáo-pháp Vô-Vi Phật-Giáo Hòa-Hảo nhằm canh-tân phương-pháp hành-đạo để trở về với Giáo-lý chơn-truyền của-Đức Phật, là tu hành TÂM, chẳng phải ở hình-thức nghi-lễ bề ngoài.
V.- SỰ THỜ-PHƯỢNG CỦA PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Trong chủ trương canh-tân nói trên, sự thờ-phượng trong nhà các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo thật là giản-dị.
Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ. Chỉ có một tấm Trần bằng vải mầu dà, tượng trưng cho sự hòa-hợp nhơn-loại, và cho màu-sắc nhà thiền. Đó là bàn thờ Chủ Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cửu-huyền Thất-Tổ, ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có một bàn thờ lộ-thiên (gọi la Bàn Thông-Thiên) để người tín-đồ cảm thông với Trời-Đất, bốn phương Trời, mười phương Phật.
Không dùng bất cứ thực phẩm nào kể cả trái cây, để cúng Phật, mà chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang. Nước lạnh tượng trưng sự trong sạch, bông hoa tượng-trưng sự tinh-khiết và nhang làm át mùi uế-trược.
Mỗi ngày người tín-đồ P.G.H.H. làm lễ cúng Phật, ít nhứt hai lần, buổi sáng và buổi tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chú Phật, họ đến chùa hay hội-quán hành lễ, và nghe kinh-giảng hay nghe thuyết-pháp.
Lúc hành lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm-niệm. Khi nào mắc công việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm.
Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc-giảng-đường trang-bị máy phóng-thanh, đễ mỗi ngày trong những giờ nhứt định. có những giảng-viên đến đọc kinh giảng hay thuyết-pháp cho người chung quanh cũng nghe.
Độc Giảng Đường Phật-Giáo Hòa-Hảo là những ngôi chùa thâu-hẹp chỉ để truyền đạo, chứ không phải để cư-trú, nên nhỏ hơn chùa, bởi bản-chất Phật-Giáo Hòa-Hảo là cư-sĩ tại-gia.
Trước năm 1975, chỗ nào có nhiều tín đồ P.G.H.H. đều có độc-giảng-đường, với nét kiến-trúc đặc-biệt của Phật-Giáo Hòa-Hảo. Theo kiểm-kê 1965 có 390 Độc Giảng Đường P.G.H.H.
VI.- CỜ ĐẠO, HUY-HIỆU

Cờ đạo hình chữ nhựt màu dà, không có chữ hay hình tượng nào. Huy-hiệu P.G.H.H. hình tròn màu dà, bìa vàng trên có bông sen trắng, và bốn chữ tắt P.G.H.H.
VII.- THÁNH-ĐỊA

Thánh-địa Phật-Giáo Hòa-Hảo đặt tại làng Hòa-Hảo và Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo là sanh-quán của Đức Huỳnh Giáo-chủ, và cũng là nơi khai sáng mối Đạo. Tại đây không có sự xây cất đồ-sộ, nhưng có một nếp sống đặc-biệt an-lạc, với không khí đạo-giáo.
VIII.- HỆ THỐNG TỔ-CHỨC

Đoàn thể Phật-Giáo Hòa-Hảo được quản-trị bỡi một hệ thống Ban-Trị-Sự. Các Ban-trị-sự được thiết lập từ mỗi Ấp, Xã, Quận, Tỉnh. Trên hết là một Hội-Đồng Trị-Sự Trung-ương. Mỗi Ấp chia làm nhiều chi-hội.
Nhờ một tổ chức chặt-chẽ và đi sâu vào tới hạ-tầng cơ-cở quần-chúng, nên sự điều-hành công-việc được chặt-chẽ, và các chỉ-thị được thi hành suốt từ Trung-Ương xuống đến chi-hội.
Nguyên tắc tổ-chức và điều-khiển là Dân-chủ tập trung, tức là:
BẦU CỬ - Các tín-đồ bầu-cử lựa chọn Đại-diện của mình vào các Ban-trị-sự Ấp. Sau đó các Ấp bầu Ban-Trị-Sự Xã, và các Ấp, Xã bầu Ban-trị-sự Quận, Tỉnh. Rồi tất cả Ấp, Xã, Quận, Tỉnh, bầu lên Hội-đồng Trị-sự Trung-ương
LÃNH-ĐẠO - Tổ đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo lo việc phụng tự và nghi lễ tại Thánh Địa Hòa-Hảo.
Nguyên tắc dân-chủ tập-trung làm cho các Trị-sự-viên được bầu có tính-chất đại-diện bởi đã được lựa chọn theo tiêu-chuẩn đạo-đức, nên đương-nhiên có uy-tín để điều-hành mọi việc. Do đó, giáo-quyền được tôn-trọng theo nguyên tắc hạ-cấp phục-tòng thượng-cấp.
Bên cạnh Hội-đồng Trị-sự Trung-ương có một Hội đồng Bảo-Pháp đặc-trách vấn-đề thi-hành kỹ-luật theo giới-điều của Đạo.
Trên hết có vị lãnh-đạo tinh-thần tối-cao là Đức Giáo-Chủ Huỳnh-Phú-Sổ, đại khai-sáng mối Đạo.
IX.- SINH-HOẠT

Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai-sáng từ năm 1939. Lúc đó là thời-kỳ Việt-Nam lệ-thuộc nước Pháp, nên người Pháp nhiều lần đàn áp và ngăn chận sự truyền-đạo của Đức Huỳnh-giáo-chủ.
Đến khi quân đội Nhựt tiến chiếm Đông-Dương, nhà cầm quyền Nhựt tỏ ý muốn giúp đỡ các đòan thể quốc gia và tôn giáo để đòi lại chủ quyền trong tay người Pháp. Do đó, vào năm 1942, Đức Huỳnh-giáo-chủ được quân đội Nhựt giải-thoát khỏi tình-trạng biệt giam tại Bạc Liêu, và đưa Ngài về Saigon. Đức Huỳnh Giáo-chủ tuy cám ơn người Nhựt đã giải-thoát mình, nhưng vẫn một mực đòi hỏi chánh-phủ Nhựt hãy thật-sự giao trả chủ-quyền Việt-Nam cho dân-tộc Việt-Nam.
Sau khi Đức Huỳnh Giáo Chủ bị mất tích từ 1947, Phật Giáo Hòa-Hảo được sự dẫn dắt của Đức ông Huỳnh Công Bộ, là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ tiếp tục phát huy đạo pháp tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo - Thánh Địa xã Hòa-Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay trực thuộc tỉnh An Giang), là người chỉ đạo vừa quân sự lẫn giáo quyền trực thuộc Phật Giáo Hòa-Hảo.
Về quân sự chia làm 4 khu vực chính :
Tướng Trần Văn Soái (tự Năm Lửa) : Cái Vồn, Cần Thơ, và Vĩnh Long.
Tướng Nguyễn Giác Ngộ (ông Nguyễn) : Chợ Mới - An Giang.
Tướng Lê Quang Vinh : An Giang và Cần Thơ.
Tướng Lâm Thành Nguyên : Châu Đốc và Hà Tiên.
Về nhân sĩ dân sự : đặt dưới sự điều động của Đức Ông Huỳnh Công Bộ gồm các nhân sĩ tiêu biểu :
Lương Trọng Tường
Trần Văn Nhựt (tự Dật Sĩ)
Nguyễn Ngọc Tố
Nguyễn Văn Hầu
Luật sư Mai Văn Dậu v.v..
Sau khi hiệp-định Giơ-Neo ký kết, Ông Ngô-đình-Diệm chấp-chánh quyền hành tại Việt-Nam, và dưới chế-độ gia-đình-trị này, Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng lại bị đàn-áp, không được tự-do sinh-hoạt.
Chỉ sau khi chế-độ này bị lật đổ ngày 1-11-63, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo mới có thời-cơ để tổ-chức lại hàng-ngũ tín-đồ và hệ-thống các Ban Trị Sự từ năm 1964 đến năm 1975.
Đức Ông Huỳnh Công Bộ lãnh đạo Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo từ năm 1947 đến năm 1961. Sau khi Đức Ông qua đời, Đức Bà Lê Thị Nhậm thay thế đảm nhận cương vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo (Hội Trưởng Danh Dự Tối Cao) . Đến 1967 Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo phải chịu đựng rất nhiều khó khăn mất mát. Nhân viên cán sự quan trọng của Tổ Đình bị bắt cóc và thủ tiêu, điển hình là ông Huỳnh Hữu Thiện (tự Ký Dữ), Trần Văn Tập v.v.. trong số 5 yếu nhân của Tổ Đình bị mật vụ chánh quyền Ngô Đình Diệm thủ tiêu. Dù vậy Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo đã vượt hết mọi khó khăn bảo vệ được đoàn thể.
Khi biến cố lịch sử 1975 của đất nước xảy ra, các ban trị sự bị chính quyền giải tán và ngưng hoạt động. Tình trạng của giáo hội Phật Giáo Hòa-Hảo trở lại như thập niên 1950 ; trong nước duy nhứt chỉ còn tồn tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo do Cô Năm Huỳnh Thị Kim Biên (mất 1978 tại VN) là bào muội của Đức Huỳnh Giáo Chủ cùng gia đình thân tộc can đảm chịu đựng giai đoạn đen tối và khó khăn nhứt của Giáo sử.
Trong phương thức HỌC PHẬT TU NHÂN, trên 5 triệu người tín-đồ P.G.H.H cư-sĩ tại-gia đồng thời với tu-sửa thân-tâm, lại còn đóng góp vào việc phát-triển nền kinh-tế nông-nghiệp của Việt-Nam. Hơn thế, khi quốc gia hữu-sự, tín-đồ P.G.H.H sẵn sàng hiến-dâng đời-sống hy sinh để bảo vệ Tổ-quốc và Đạo-nghĩa.
Mỗi năm đặc biệt trong ngày lễ Kỷ-niệm khai-sáng mối Đạo vào 18 tháng 5 âm lịch, các sự-kiện trên đây được thề-hiện trong tổ-chức đại-lễ nơi Thánh-địa Hòa-Hảo, và ở khắp vùng Hậu-giang.
X.- TRONG CỘNG-ĐỒNG PHẬT-GIÁO THẾ-GIỚI

Hiện nay Phật Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn giáo quan trọng nhứt ở Việt Nam. Với khối quần chúng trên 5 triệu người, Phật Giáo Hòa-Hảo không những có tánh chất của một khối quần chúng tâm lý sắt son tin tưởng nơi giáo lý cao siêu của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, mà còn thêm có tổ chức thành hàng ngũ, hệ thống chặt chẽ, để chịu đựng mọi thử thách cam go mà tự tồn và phát triển.
Trên bình-diện quốc-gia, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo là một hội-viên sáng-lập cùa Hội-Đồng Tôn-Giáo Việt-Nam, một cơ-quan đoàn-kết các tôn-giáo chánh-yếu như Thiên-Chúa-Giáo, Phật-Giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài-Giáo... Đồng thời đoàn thể P.G.H.H cũng tham gia các sanh hoạt quốc gia, đúng theo truyền-thống của một tôn-giáo dân-tộc. Ngoài ra, giáo-lý P.G.H.H. cũng đã được tiếp-nhận với nhiều cảm-tình bởi nhiều giới trí-thức Đông-Phương cũng như Tây-Phương.
Bởi vì, với một giáo-thuyết hòa-đồng tinh-hoa Tam-giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo đã phát-dương giáo-pháp chơn-truyền của Đức Thích-Ca Mâu-Ni làm căn-bản giáo-lý, lại thêm các tư-tường Nho-giáo, Lão-giáo, đã ăn sâu vào tập-tục dân-tộc Việt-Nam, để kết thành một hệ-thống tư-tưởng Đạo-học có đặc-thái dân-tộc Việt-Nam.
Với giáo-thuyết phong-phú ấy, Phật-Giáo Hòa-Hảo là một tổ-chức đang hướng dẫn một phần nhơn-loại dưới ánh sáng của Đức Phật, để đưa con người trong thế kỷ hiện-tại đến những giá-trị tinh-thần mới, hầu cùng với các Phật-tử Thế-giới và các Giáo-hội Phật-giáo khắp các quốc-gia, biểu-dương Đạo-Phật, cải tạo xã-hội, giải-thoát Con Người.
XI.- HỆ-THỐNG TỔ CHỨC- Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo
- Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo
(Tài-liệu Báo PHƯƠNG-ĐÔNG số 23, xuất bản tháng 5/1973, do tác giả Hinh-Phương viết)
Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo do các thành viên Huỳnh Tộc trông coi và thực hiện nhiệm vụ gìn giữ di tích lịch sử của Phật Giáo Hòa Hảo.
Tổ Đình là nơi tổ chức các nghi lễ lớn trong năm và cũng là nơi đã diễn ra cuộc lễ tấn phong Ban Trị Sự Trung Ương nhiệm kỳ I do ông Lương Trọng Tường được đề cử làm Hội Trưởng (29-11-1964).
XII.- HỆ-THỐNG BAN-TRỊ-SỰ- Hội-đồng Trị-sự Trung-Ương
- Các Ban-Trị-Sự Tỉnh : An-giang, Châu-đốc, Sadec, Kiến-phong, Kiên-giang, Vĩnh-long, Phong-dinh, Bạc-liêu, Chương-thiện, An-Xuyên, Ba-Xuyên, Biên-hòa, Gia-định, Vĩnh-bình, Kiên-hòa, Kiên-tường, Lâm-đồng, Tuyên-đức, Ninh-Thuận, Phú-Yên, Bình-định, và liên tỉnh Long-an/Đinh-tường.
- Các Ban-Trị-Sự Xã : Saigon, Cần-thơ, Mỹ-tho, Rạch-giá, Vũng-tàu, Đà-lạt
- Các Ban-Trị-Sự trực thuộc Trung-ương : Thánh-địa Hòa-Hảo, Xã Thiện-từ
- 82 Ban-Trị-Sự cấp Quận, 476 Ban-Trị-Sự cấp Xã, 3,100 Ban-Trị-Sự Ấp
XIII.- CƠ SỞ TU-VIỆN

213 chùa-chiền, tu-viện
468 độc-giảng-đường
2,876 văn-phòng
XIV.- NHÂN-SỰ
- Hội đồng Trị-sự Trung-ương gồm 23 người.
- Các Ban-Trị-Sự gồm từ 10 đến 15 người.
- 36,500 trị-sự-viên các cấp .
- 2,679 tu sĩ và nhân viên tại các tu viện.
- 6,086 độc giảng viên.
- 10,000 nhân viên và khóa sinh ngành Phổ-thông giáo-lý.

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_24.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_06.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_08.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_13.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_22.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_16.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_19.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/06/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *