ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 7.

9/20/2012 |
ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 7. 

PHẦN 3 .
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHONG THỦY TRONG QUY HOẠCH THÁI NGUYÊN.

1/ VỊ TRÍ ĐẶT TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH ĐẦU NÃO.
a/ Như đã viết trong bài thứ 3 : "Khi xác định địa hình của một khu vực, điểm đầu tiên là phải xác định được tâm điểm của cả khu vực đó ở đâu ? Đối với tỉnh Thái Nguyên ( và cũng là hầu hết những tỉnh thành của cả nước ) phải khẳng định một điều là những vị trí đặt công sở hành chính của người Pháp ngày xưa hoàn toàn có lý. dienbatn đã đi điền dã nhiều năm để nghiên cứu vị trí đặt những trung tâm hành chính của các tỉnh ngày xưa do người Pháp đặt và thấy họ đã chọn được những vị trí thật là đắc địa trong nghệ thuật kiến trúc Phong thủy. Có lẽ một phần ngày xưa, những hình thế núi sông, đồng ruộng còn tương đối nguyên vẹn, nhưng chắc chắn một điều rằng những kiến trúc sư người Pháp đã nắm rất rõ nghệ thuật kiến trúc Phong thủy do họ đã có một quá trình thu thập tài liệu, nghiên cứu ứng dụng một cách tài tình nghệ thuật kiến trúc trong Phong thủy của người xưa. Đối với Thái nguyên cũng vậy. Ta hãy xem xét vị trí đặt dinh Công sứ tại tỉnh này sẽ rõ .




Tòa Công sứ của Pháp nằm bên Hữu ngạn sông Cầu ( bờ bên phải của dòng sông nhìn theo hướng nước chảy từ nguồn xuống ). Đa phần các thành phố ven sông được xây dựng bên phía Hữu ngạn của các con sông, thành phố Thái Nguyên cũng không là một ngoại lệ. Theo đo đạc của dienbatn , tòa Công sứ của Pháp có hướng tọa Tân - Hướng Ất - thuộc hướng Đông thiên Đông Nam ( Giáp - Mão - Ất ) , có cửa chính là Hoan Lạc - Hưng Phúc và thuộc Huyệt khí Bảo Châu : Canh Thìn - Bính Tuất .
Tuy nhiên, theo thiển ý của dienbatn , khu vực này do người Pháp chọn chưa thật chuẩn theo kiến trúc Phong thủy.


Nhìn trên bản đồ ta nhận thấy rằng, vị trí đặt tòa Công sứ nằm lọt đúng vào vị trí xung sát của sông Cầu. Tại vị trí này, do sức chảy của dòng sông sẽ tạo nên những tia ác xạ bắn thẳng vào tòa Công sứ . dienbatn đề nghị chuyển trung tâm hành chánh của Thái Nguyên nên đặt vào khu vực dòng sông ôm vòng vào thuộc phường Túc Duyên như hình sau.


Khi đặt trung tâm hành chánh vào khu vực này sẽ tránh được xung sát của các tia ác xạ , đồng thời lúc này phía Thanh Long được dòng nước sông Cầu ôm vào tạo nên thế Thủy khẩu giao kết, uốn lượn xung quanh, bốn phương tám hướng không nơi nào bị khuyết hãm. Địa mạch hạ lạc kết huyệt nơi này, khí Âm Dương phân biệt cùng tiếp, chỗ cao chỗ thấp, lồi lõm rõ ràng, địa hình hai bên như hai cánh tay giang rộng, trên phân ra dưới hợp lại, địa thế tròn và nhọn cùng đối ứng với Thiên quan Địa quỷ. Thuỷ trong thuỷ ngoài đều ôm ấp, bao quanh nơi này; sơn trong sơn ngoài cùng quay quần tụ hội. Nơi được như vậy được xem là đại phú đại quý của phong thuỷ vậy. Hướng căn bản cho các công trình kiến trúc tại khu vực này vẫn nên theo hướng của trục Thần Đạo là Tọa Càn - Hướng Tốn . Để được Huyệt Khí Bảo Châu nên chọn tọa tại phương Càn vị Đinh Hợi ( 315 độ ) và Hướng tại phương Tốn vị Tân Tỵ (135 độ ).
Cuộc đất loại này còn được gọi là nhà nằm trong Châu Bảo Tuyến.
Tọa Tốn hướng Càn. Hướng nhà ở 312 đến 318 độ.
 
Tọa Càn hướng Tốn. Hướng nhà ở 132 đến 138 độ.
Thiên nguyên Long : Sơn Càn - Hướng Tốn .
• Địa vận : 160 năm .
Các vận 2, 8 vượng Sơn - vượng Hướng .
Các vận 1, 9 Toàn cục hợp Thập .
• Các vận 1, 4 cung Khảm đả kiếp .
 
• Các vận 1,4,7 thành môn không dùng .
 
• Các vận 2, 5 Mão , Ngọ cát .
 
• Các vận 2, 7 ,9 Mão cát .
 
• Các vận 1,6,8 Ngọ cát .
 
• Các vận 4, 6 phạm Phản phục ngâm , hung .
Nếu lấy theo phương vị này trong vận 8 Hạ nguyên ( từ 2004 -2023 ) thế đất này theo Huyền không sẽ được vương Sơn - vượng Hướng rất tốt. Sang tới vận 9 Hạ nguyên ( từ 2024 - 2043) cuộc đất sẽ được Toàn cục hợp Thập , thông khí tứ bề cực kỳ tốt.
Theo thuyết về Huyệt Khí Bảo Châu được xây dựng bởi Dương Công là sự phân loại 60 loại Khí ( Còn gọi là Khí Huyệt hay Long Khí ) theo Can, Chi thành ba loại : Hệ Khí Bảo Châu, Hệ Khí Hỏa Khanh và hệ Khí Không Hư.
Trong đó hệ Khí Bảo Châu là Khí cát bao gồm 24 phần tử. Hệ Khí Hỏa Khanh (hay Sát Diệu ) là hung Khí bao gồm 12 phần tử. Hệ Khí Không Hư là những Khí không cát bao gồm 24 phần tử. Mỗi chi được tương ứng với 5 phần tử, trong đó chỉ có 02 phần tử là hệ Khí Bảo Châu, 03 phần tử còn lại là Hỏa Khanh và Không Hư. Khi đặt cuộc đất dùng trong Âm hay Dương trạch ta phải thật chú trọng trong việc phân kim để có thể được lọt vào Hệ Khí Bảo Châu.
Như vậy chúng ta nhận thấy rằng : việc tìm cách đưa Long Khí vào một cuộc đất phải dựa trên nguyên lý : Thiên - Địa - Nhân hợp nhất.Nguyên lý đó chính là Địa Linh sinh Nhận Kiệt, ở tầm vi mô là đặt mồ mả, nhà cửa cho một dòng họ, ở tầm vĩ mô là những Kinh thành, Thành phố...
b/ Tòa nhà của Tỉnh Ủy Thái Nguyên.
Tòa nhà này nằm tại phố Phan Đình Phùng - Phường Túc Duyên - Thành phố Thái Nguyên.



Tòa nhà Tỉnh Ủy có phương vị Tọa Càn - Hướng Tốn và cũng được lọt vào hệ Khí Bảo Châu tại phương Càn Vị Đinh Hợi ( 315 độ ) và Hướng tại phương Tốn vị Tân Tỵ (135 độ ).





Tòa nhà này về hướng và phương vị đạt được khá chính xác về Phong thủy , nhưng về kết cấu lại có vấn đề cần phải xem xét lại. Thứ nhất là ngay cổng vào của tòa nhà Tỉnh ủy có đào một cái hồ dài suốt mặt tiền và làm một cái cầu bắc qua cái hồ đó vào sân của tòa nhà. Chắc rằng mục đích của việc làm này , muốn tạo ra một Minh đường Thủy tụ lấy Sinh Khí cho tòa nhà.Tuy nhiên theo nhận xét của dienbatn : Ngày xưa , khi làm nhà, các bậc tiền nhân thường có một cái hồ bán nguyệt ở trước nhà với hình vòng cung ôm lấy căn nhà. Nếu hình vòng cung có bề lồi hướng vào nhà thì phạm thế Câu Liêm Sát. các vị tiền nhân cũng để cho chúng ta một số kinh nghiệm làm ao, hồ tại nhà như sau :
Sau đây là 1 số hình thể, vị trí ao hồ :
 Nhà lớn mà ao hồ nhỏ: Trai cô độc, con gái chết non. 
  • Nhà nhỏ mà ao hồ lớn: Tiền tài ly tán.
  •  Ao hồ lớn sau nhà: Con trẻ thương vong. 
  • Ao hồ nhỏ sau nhà: Nhà nhiều con dâu góa chồng, trong nhà luôn uống thuốc thang. 
  •  Ao hồ trước sau áp sát nhà: Uổng tử, trùng tang. 
  •  Ao bên phải có, bên trái không có: Nhà sẽ có quả phụ. 
  •  Sau nhà trước không có, nay khai ao rãnh: Bị thưa kiện, trộm cướp. 
  •  Trước nhà có ao, sau nhà có đường thẳng đâm vào: Chết non , nhà nhiều quả phụ. 
  • Sau nhà có ao, trước nhà có đường thẳng đâm vào: Gia trưởng chết non. 
  •  Ao ở bên trái, lại có đường thẳng như tên bắn vào nhà: Con cháu bị người giết. 
  •  Ao ở bên trái thẳng và dài: Phải bỏ làng trốn đi xứ khác. 
  •  Ao ở trước nhà thẳng và dài: Chết non xứ khác. 
  • Ao hình như cánh quạt: trai gái hoang đàng, trụy lạc. 
  •  Ao hình tam giác: hay cãi lộn. 
  • nếu sinh thêm cái đầu thì như xác chết; sẽ có kẻ gian đến đó chết, vì vậy mang họa. 
  •  Ao trước nhà hình hồ lô( thắt ngang ): Đời trước thịnh vượng, đời sau cô độc. 
  •  Ngòi nước bên phải có 1 đầu cuốn như lưỡi câu: Bị bệnh đờm, bị trộm cướp. 
  •  Ao bị khuyết hướng ra ngoài: Cô quả, và bị bệnh đau mắt.
  •  Ao trước nhà một đầu rộng, một đầu hẹp; đầu nhỏ chỉ ở đâu, không nên làm nhà ở đó.

  • Tòa nhà này lại đào một cái hồ chữ nhật ở đằng trước rất sâu, mặt khác cái hồ này lại gần như không có nước không những không thể là Minh đường tụ thủy mà còn tạo nên việc gây đứt Long mạch và tạo nên sát Khí vào tòa nhà.
    Một việc nữa là , nếu đứng từ trong tòa nhà nhìn ra đường, bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ.Theo kiến thức Phong thủy : Thanh Long thuộc Mộc nên đồng. Bạch Hổ thuộc Kim nên tĩnh. Các bậc tiền nhân ngày xưa thường để cổng, ngõ bên trái nhà tức bên Thanh Long. Người ta rất kỵ để cổng,  ngõ bên Bạch hổ. Bạch hổ mà động sẽ gây ra nhiều bất lợi cho chủ nhân của tòa nhà đó. Hiện nay, tòa nhà Tỉnh ủy Thái Nguyên đang mở cửa bên Bạch hổ như hình ảnh ở trên, như vậy không có lợi cho chủ nhân của tòa nhà này.
    2/ QUY HOẠCH KIẾN TRÚC CẢNH QUAN THÁI NGUYÊN.
    2.1- ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN TP THÁI NGUYÊN.
    2.1.1- Khái quát lịch sử phát triển TP Thái Nguyên.
    a- Tỉnh Thái Nguyên .
    - Tỉnh Thái Nguyên được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (ngày 04-11-1831), tỉnh Thái Nguyên khi đó giáp với các tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây.  
    - Năm 1890, chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thời nhà Nguyễn thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. 
    - Từ năm 1956 đến 1975, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Khu tự trị Việt Bắc và thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của khu tự trị. 
    - Năm 1965, sáp nhập hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. 
    - Năm 1997 Tỉnh Bắc Thái lại tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn . 
    b- Thành phố Thái Nguyên . 
    - Năm 1831, thủ phủ của trấn Thái Nguyên được chuyển từ xã Bình Kỳ, huyện Thiên Phúc(vùng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ngày nay) về thành Đồng Mỗ, thuộc huyện Đồng Hỷ ( nay là một phần vùng đất thuộc các phường Trưng Vương và Túc Duyên, TP Thái Nguyên nay). 
    Tỉnh thành đất bằng phẳng, rộng rãi, đường thủy, đường bộ giao thông đều thuận tiện. Chu vi tỉnh thành dài 345 trượng ( khoảng 1145,4 mét), cao 9 thước ( khoảng 2,88 mét), mở 4 cửa, hào rộng 3 trượng ( khoảng 9,96 mét), sâu 5 thước ( khoảng 1,66 mét). Tường thành đắp bằng đất, đến năm Tự Đức thứ 2 ( 1849) được xây bằng gạch.  
    - Từ năm 1884 đến đầu Thế kỷ XX, Thực dân Pháp mở rộng thành thị xã Thái Nguyên và phát triển dần về phía Tây nam, bao gồm phần đất có diện tích tương ứng với phường Trưng Vương, một phần các phường Túc Duyên, Hoàng Văn Thụ và Phan Đình Phùng ngày nay. 
    Tòa Công sứ Pháp và khu trại lính hiện còn dấu tích tại khu Bảo tàng các dân tộc Việt Nam và công viên Sông Cầu nay. 
    - Sau năm 1945, thị xã Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên. 
    - Thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc (1956 - 1965) . 
    - Năm 1959: xây dựng khu liên hợp gang thép Thái Nguyên . 
    - Năm 1962 thị xã Thái Nguyên được nâng cấp thành thành phố Thái Nguyên, là TP công nghiệp trên nền tảng công nghiệp luyện kim đen. 
    - Hiện nay : - Thái Nguyên là TP tỉnh lị của tỉnh Thái Nguyên ,  -Thành phố lớn thứ ba miền Bắc sau Hà Nội và Hải Phòng, thành phố đông dân thứ 10 cả nước, năm 2002 công nhận là đô thị loại II; năm 2010, được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.
      - Là trung tâm vùng Trung du và miền núi phía Bắc (từ 1996). -Là một trung tâm đào tạo lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh .
    -Thời điểm 1-10-2010: có 19 phường và 9 xã với diện tích tự nhiên là 18.970,48 ha; Dân số 330.707 người; (Thường trú là 279.710 người).
    2.1.2- Quá trình quy hoạch và xây dựng phát triển TP Thái Nguyên. 
    a- Giai đoạn trước quy hoạch chung (QHC) năm 2005. 
    Năm 2003 (hiện trạng) S đất XD đô thị là 3272,9 ha .


    Hiện trạng TP Thái Nguyên trước QH chung 2005.
    b- Đồ án QHC 2005.
    Ngày 2-11-2005, TTCP đã có quyết định 278/2005 phê duyệt điều chỉnh QHC TP Thái Nguyên đến năm 2020.

    Nội dung chính của đồ án như sau .

    Tính chất: Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi Bắc Bộ; là một trong những trung tâm công nghiệp và giáo dục đào tạo của cả nước. Là đầu mối giao thông quan trọng nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.

    Quy mô đất xây dựng:

    - Hiện trạng 2003: đất xây dựng đô thị là 3272,9 ha với chỉ tiêu 203,6 m2/ng, trong đó đất dân dụng 2396 ha với chỉ tiêu 149 m2/ng.

    - Năm 2010: Diện tích đất xây dựng đô thị là 5372,5 ha, bình quân là 160,2 m2/ng, trong đó đất dân dụng khoảng 4070 ha, bình quân 123 m2/ng.

    - Năm 2020: Diện tích đất xây dựng đô thị là 6849,3 ha, bình quân 157,5 m2/ng, trong đó đất dân dụng khoảng 5070 ha (đất ở khoảng 3.360 ha), bình quân 118 m2/ng.

    Hướng phát triển đô thị:

    - Phía Bắc: Xây dựng khu công nghiệp tập trung để di chuyển một số nhà máy xí nghiệp nằm rải rác trong khu nội thành.

    - Phía Tây : Tới hết phường Thịnh Đán, xây dựng khu công viên cây xanh thể dục thể thao cấp vùng.

    - Phía Đông : Phát triển sang xã Cao Ngạn và xã Đồng Bẩm chủ yếu khai thác cảnh quan, hạn chế xây dựng tập trung để đảm bảo thoát lũ sông Cầu. Khai thác cảnh quan hai bên sông Cầu đoạn từ cầu Quán Triều đến bến Oánh.

    - Phía Nam: Phát triển đến hết xã Lương Sơn, xây dựng các khu ở mới kết hợp cải tạo các khu ở hiện trạng, dành quỹ đất phía Đông xã Lương Sơn giáp sông Cầu để xây dựng khu du lịch sinh thái.

    Như vậy hướng phát triển đều cả 4 phía nhưng ưu tiên phía Tây (hướng ra hồ Núi Cốc).

    Định hướng phát triển không gian thành phố Thái Nguyên 2020.

    c- Quá trình quy hoạch và xây dựng phát triển TP Thái Nguyên từ 2005 đến 2012.
    Để có cơ sở phát triển đô thị, Thành phố đã tiến hành quy hoạch 1/2000 các phân khu số 2 (phía Bắc TP); phân khu 5 và 7 (phía Nam TP), phân khu số 6 (phía Tây Nam TP) .
    Khu vực phía Tây thành phố (phía hồ Núi Cốc) với các quy hoạch: Khu dân cư số 4 Thịnh Đán (khoảng 100ha); Khu đại học Thái Nguyên (khoảng 300 ha) và đô thị sinh viên (khoảng 200 ha); Khu ĐTM phía Tây 1500 ha; Khu ĐTM Thịnh Đán 500 ha. Như vậy, theo quy hoạch, tổng diện tích đất phát triển về hướng Tây khoảng gần 3000 ha.
    Khu vực phía Đông sông Cầu (thuộc xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm) có các quy hoạch như khu CN Cao Ngạn (30ha); hai khu cảnh quan sông Cầu (gần 200ha); khu ĐH Việt Bắc (gần 40ha), khu phố Châu Âu (gần 40ha) và một số quy hoạch nhỏ khác. Tổng diện tích đã quy hoạch phát triển đô thị khoảng 350 ha.
    Khu phía Bắc mới có một số quy hoạch như Khu ĐTM Nam sông Cầu (130ha); Khu ĐT bắc ĐH Thái Nguyên (55ha); và một số quy hoạch nhỏ. Tổng diện tích khoảng gần 200 ha.
    Khu vực phía Nam Thành phố có các quy hoạch như Khu ĐTM Thái Hưng (gần 200ha); KĐTM Gardent City (20ha); Khu ĐTM Túc Duyên (gần 70ha) và một số quy hoạch nhỏ khác. Tổng diện tích quy hoạch phát triển đô thị khoảng hơn 300 ha.
    NHư vậy, ngoài diện tích đô thị cũ (khoảng 3000 ha), tổng cộng diện tích đã quy hoạch để xây dựng phát triển đô thị (mới) khoảng gần 4000 ha tức đã vượt quá diện tích quy hoạch của đồ án QHC 2005 tính cho đến năm 2020 (vượt trước 8 năm).


    Bản đồ tổng hợp các đồ án quy hoạch từ 2005 đến 2012 trên địa bàn TP .
    2.1.3- Định hướng quy hoạch phát triển TP từ 2015 đến 2035 .
    Thành phố Thái Nguyên chuẩn bị tiến hành nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung thành phố giai đoạn 2015 – 2035.
    a- Các điều kiện cơ bản ảnh hưởng hướng phát triển Thành phố sắp tới.
    Động lực phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho Thành phố Thái Nguyên được tăng thêm, với việc hoàn thành đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên vào 2013 cũng như vai trò là đô thị loại 1 và trung tâm phát triển của vùng trung du, miền núi Bắc bộ .
    Với việc thành lập Thị xã Núi Cốc, Thành phố sẽ phải chuyển giao 3 xã phía Tây (giáp hồ là Phúc Xuân, PhúcTrìu và Tân Cương) nên sẽ ảnh hướng đến hướng phát triển của TP: không thể phát triển về phía Tây và chỉ còn các hướng Bắc, hướng Nam và hướng Đông (sang bên kia sông Cầu) .
    Các khó khăn trong phát triển đô thị: trong hiện tại và tương lai sắp tới, Thành phố sẽ phải giải quyết 2 vấn đề lớn cản trở sự phát triển của thành phố, đó là:
    - Khu liên hiệp gang thép nằm giữa trung tâm thành phố. Các nhà máy lẻ có thể di chuyển về các khu công nghiệp tập trung (đất sẽ được chuyển đổi xây dựng công trình công viên – cây xanh TDTT hiện tại rất thiếu) nhưng với Liên hiệp Gang thép sẽ là bài toán nan giải. Quy mô trên 300 ha, tuy là khu công nghiệp lâu đời, nhiều hạng mục đã xuống cấp và lạc hậu nhưng lại mới liên doanh với Truong QUốc đầu tư xây dựng dây truyền 2 nên việc di dời rất khó.
    - Tuyến cao tốc chạy xuyên vào trung tâm thành phố mà không được quy hoạch các nút vượt thỏa đáng nên cản trở mối liên hệ giữa các khu chức năng phía Đông và phía Tây của tuyến đường.

    b- Hướng phát triển của Thành phố (theo công văn ... của UBND tỉnh Thái Nguyên ...)
    - Tập trung phát triển sang phía Đồng (bên kia sông Cầu) .
    Khu vực phía Đông có điều kiện phát triển vì có quỹ đất và gần Trung tâm Thành phố hiện nay. Nếu phát triển sang phía Đông sẽ tạo thành mô hình đô thị tốt: thành phố 2 bên sông với Sông Cầu sẽ trở thành tuyến cảnh quan chính nằm giữa không gian Thành phố tương lai.
    Phạm vi khu đô thị phía Đông TP Thái Nguyên là các xã Cao Ngạn, Đồng Bảm (thuộc TP), Thị trấn Chùa Hang, xã Linh Sơn và Huống Thượng (thuộc H. Đồng Hỷ) và xã Đồng Liên (H. Phú Bình) .
    - Hai hướng phía Bắc và Nam phát triển ít hơn:
    Phía Bắc có thể phát triển trên dịa bàn xã Sơn Cẩm (hiện thuộc huyện Phú Lương).
    Phía Nam phát triển trên cơ sở nâng cấp hiện trạng và xây chen một số khu dân cư, khu đô thị tại địa bàn các phường Tích Lương, Cam Giá, Hương Sơn, Tân Thành. Hạn chế phát triển trên dịa bàn xã Lương Sơn để đảm bảo sản xuất nông nghiệp cung cấp rau hoa quả và thực phẩm cho thành phố cũng như dự trữ lâu dài.
    Sơ đồ dự kiến phát triển thành phố về phía Đông và phía Bắc .


    Ghi chú: đây chỉ là sơ đồ dự kiến, phạm vi và diện tích đất phát triển mới không chính xác mà chỉ để hình dung khái quát hình thể chung. 
    Xin xem tiếp bài 9 - dienbatn .


    Xem chi tiết…

    ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 6.

    9/11/2012 |
    ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 6.

    PHẦN 2 .
    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN.
    ( Tiếp theo- dienbatn )

    3/ THANH LONG- BẠCH HỔ : (Tiếp theo ).
    Theo các tài liệu về Địa chất thủy văn, cấu tạo địa chất của khu vực này rất phức tạp và các khu mỏ tại đây nằm trên các đứt gãy rất lớn. Khi khai thác những mỏ này ở những độ sâu lớn rất dễ xảy ra những hiện tượng sụt, lún trên diện rộng. "Các tài liệu nghiên cứu trước đây đều cho rằng hoạt động kiến tạo trong khu vực chủ yếu hình thành các đứt gãy giòn trong đó đứt gãy Đường 13A đi qua trung tâm khu vực mỏ Núi Pháo là một đứt gãy lớn với vai trò phân đới cấu tạo và liên quan tới các hoạt động magma và sinh khoáng trong vùng. Đặc biệt, không có một tài liệu nào đề cập tới sự hình thành của các cấu tạo phiến cũng như vai trò của các hoạt động uốn nếp. Các tài liệu cũ thường xem trật tự và mối quan hệ địa tầng giữa các tầng đá là đơn giản, mang tính chuyển tiếp và không có sự xáo trộn về mặt thế nằm so với trật tự địa tầng nguyên thuỷ. Tuy nhiên các tài liệu địa chất do Công ty Tiberon thu thập và các quan sát của chúng tôi cho thấy không có những bằng chứng xác đáng để chứng minh vai trò quan trọng của các đứt gãy giòn trong bình đồ cấu trúc khu vực . Ngược lại, những tài liệu hiện có chỉ ra rằng cấu trúc của vùng mỏ Núi Pháo, và có thể trên một quy mô khu vực rộng lớn hơn, hình thành từ sự giao thoa của nhiều pha biến dạng kiến tạo khác nhau . Mỗi pha biến dạng đã hình thành nên một thế hệ cấu tạo có tính hệ thống và có quy mô khu vực. Bằng phương pháp loại trừ dần các mối quan hệ chồng lấn của các thế hệ cấu tạo hình thành muộn hơn lên các cấu tạo có trước và so sánh đặc điểm của từng thế hệ cấu tạo đặc trưng cũng như thời gian thành tạo tương đối của chúng có thể phân lập được từng pha biến dạng riêng biệt. Những pha biến dạng cơ bản mang tính khu vực trong vùng nghiên cứu được mô tả dưới đây.
    Pha biến dạng đầu tiên có thể nhận biết được trong vùng nghiên cứu là một pha biến dạng trong môi trường dẻo, đặc trưng bởi sự phát triển của một thế hệ phân phiến khu vực (S1) tác động mạnh mẽ lên các đá trầm tích thuộc hệ tầng Phú Ngữ và, ít hơn, trong các đá granit biotit thuộc phức hệ Núi Điệng (khối Núi Pháo). Các cấu tạo phân lớp nguyên thuỷ (S0) trong hệ tầng Phú Ngữ đã bị phá huỷ gần như hoàn toàn và được thay thế bằng hoặc chuyển thành song song với cấu tạo phân phiến khu vực (S1). Cấu tạo phân phiến này song song với mặt trục của các nếp uốn đẳng tà (U1, ảnh 1a) dạng tương tự (similar fold [5]) uốn nếp các cấu tạo phân lớp nguyên thuỷ (S0) của hệ tầng Phú Ngữ (ảnh 1b). Độ hẹp của các nếp uốn U1 có xu hướng tăng khi đi về phía ranh giới của hệ tầng Phú Ngữ với khối granit Núi Pháo (Hình 2b).
    Ngoài ra, các cấu tạo phân phiến S1¬ còn phát triển mạnh và song song với các cấu tạo dải trượt (C) của phân phiến mylonit phát triển trong granit khối Núi Pháo (Hình 2b, ảnh 1c, 1d), đặc biệt là ở gần ranh giới tiếp xúc của khối này với các đá trầm tích hệ tầng Phú Ngữ. Đới mylonit có bề dày tới vài mét, trong đó có nơi granit đã bị mylonit hoá hoàn toàn và trở thành siêu mylonit (ultramylonite) với các cấu trúc thể hiện hướng trượt rất rõ ràng như cấu tạo sigma hoặc dải trượt, chứng tỏ ranh giới của khối granit Núi Pháo và đá trầm tích thuộc hệ tầng Phú Ngữ đã trở thành một đới trượt lớn mà dọc theo đó hệ tầng Phú Ngữ đã bị dịch chuyển khỏi vị trí nguyên thuỷ của nó. Cấu tạo dạng ‘tương tự’ và sự gia tăng độ hẹp của nếp uốn về phía đới trượt (ở rìa khối Núi Pháo) chứng tỏ sự uốn nếp liên quan chặt chẽ với chuyển động uốn cắt (shear folding [5, 6]) mang tính khu vực trong pha biến dạng thứ nhất. Như vậy đá granit thuộc khối Núi Pháo xâm nhập vào hệ tầng Phú Ngữ trước khi pha biến dạng thứ nhất xảy ra và vị trí kiến tạo của hệ tầng Phú Ngữ hiện tại là ngoại lai (allochthonous) so với vị trí trầm tích nguyên thuỷ của nó.
    Các cấu tạo trong pha biến dạng thứ nhất hình thành đồng thời với biến chất khu vực ở tướng đá phiến lục thấp, nhưng chúng thường bị các cấu tạo muộn hơn hoặc các cấu tạo liên quan tới skarn phá hủy, chứng tỏ pha biến dạng thứ nhất hoạt động trước khi quá trình tạo quặng skarn diễn ra.
    Sự uốn nếp trong pha biến dạng thứ nhất đã làm cho lớp đá hoa và đá silic vôi của hệ tầng Phú Ngữ bị uốn nếp liên tục với các nếp uốn đẳng cánh lớn kiểu tương tự (similar [5, 6]) với bề dày trầm tích của phần cánh nhỏ hơn rất nhiều so với phần vòm. Sự tồn tại của các nếp uốn này làm cho bề dày của các lớp trầm tích biến chất, đặc biệt là các lớp đá hoa tăng lên nhiều lần so với bề dày nguyên thuỷ của chúng (Hình 2b). Do đó các cấu tạo của pha biến dạng thứ nhất đã tạo nên môi trường đá vây quanh thuận lợi cho quá trình skarn và greisen hoá dẫn đến tạo quặng, cũng như khống chế quy mô và hình thái của các đới khoáng hoá sau này khi có sự xâm nhập của khối granit Đá Liền......
    Mặc dù còn thiếu nhiều số liệu định lượng liên quan tới mối quan hệ và tuổi của các sự kiện biến dạng và tạo quặng, nhưng dựa vào mối quan hệ giữa biến dạng và quá trình tạo quặng thì một trình tự tương đối của các sự kiện địa chất trong vùng mỏ Núi Pháo có thể được tái lập khái quát như sau: sự phát triển địa chất và sự hình thành quặng hoá đa kim trong vùng nghiên cứu và lân cận đã trải qua một lịch sử khá dài (Hình 3a). Nó bắt đầu bởi sự lắng đọng các trầm tích lục nguyên - carbonat của hệ tầng Phú Ngữ, có thể là trong chế độ thềm thụ động dọc theo một thềm lục địa tồn tại ở khoảng Orđovic-Silur. Sự nghịch đảo kiến tạo bắt đầu vào khoảng đầu Trias làm cho thềm lục địa thụ động trở thành một rìa lục địa tích cực và dẫn đến sự xâm nhập của các đá mafic thuộc phức hệ Núi Chúa và granit biotit thuộc phức hệ Núi Điệng, trong đó có khối Núi Pháo, vào cuối Trias (Hình 3b1). Theo sau sự xâm nhập granit là quá trình biến dạng ép nén ngang dẫn đến sự hình thành một đới trượt dọc theo ranh giới giữa khối Núi Pháo và hệ tầng Phú Ngữ, kèm theo là hiện tượng uốn nếp mạnh mẽ và các lớp trầm tích tạo thành các nếp uốn đẳng cánh làm gia tăng bề dày của hệ tầng Phú Ngữ, đi kèm là hiện tượng biến chất khu vực tới tướng đá phiến lục (Hình 3b2). Pha biến dạng thứ 2 diễn ra sau đó đã làm tái uốn nếp các cấu tạo thuộc pha 1 (Hình 3b3). Tiếp theo đó là sự xâm nhập của các đá granitoiđ thuộc phức hệ Pia Oắc trong đó có khối Đá Liền vào khoảng Creta muộn vào các đá tạo nên hiện tượng skarn hoá mạnh mẽ các đá vây quanh và hình thành các thân quặng đa kim ở vùng Núi Pháo (Hình 3b4). Một số đai mạch muộn, trong đó có thể chứa các mạch quặng thiếc hoặc đồng phát triển muộn hơn và thường đi cùng với các đứt gãy hoặc đới phá huỷ muộn, sau khi thân quặng đa kim đã được thành tạo. Như vậy, có thể khẳng định rằng mặc dù sự xâm nhập của khối Đá Liền là nguyên nhân tạo quặng, nhưng các cấu tạo hình thành trong pha biến dạng 1 và 2 đóng vai trò quan trọng trong sự lắng đọng quặng hoá cũng như quy mô và phương phát triển của thân quặng.
    Do các đá trầm tích biến chất bị skarn hoá thường có biểu hiện từ tính mạnh nên diện phân bố của chúng có thể nội suy thông qua kết quả khảo sát địa vật lý (Hình 4), theo đó thì diện tích của hệ tầng Phú Ngữ có thể còn trải rộng ra phía tây bắc của vùng nghiên cứu và có thể đã bị uốn nếp lặp đi lặp lại (Hình 4). Vì hiện tượng skanơ hoá phát triển rộng rãi trong toàn vùng nghiên cứu, nên có thể cho rằng các đá trầm tích đã bị biến chất dưới tác động của một nguồn nhiệt rất lớn chỉ có thể có được nhờ một thể granit rất lớn. Như vậy, khối granit Đá Liền có thể có diện phân bố rất lớn ở dưới sâu và nếu hệ tầng Phú Ngữ với các cấu tạo chứa quặng thuận lợi như các nếp uốn U1 và U2 phát triển mang tính khu vực ra ngoài phạm vi thân quặng hiện tại thì quy mô của các thân quặng đa kim còn lớn hơn nhiều. Trong trường hợp này, cả về phía tây bắc và đông nam của thân quặng hiện tại đều có thể có tiềm năng của quặng đa kim ." (  http://www.diachatthuyvan.net/t909-topic#ixzz262ILUtuD ).

    Một vấn đề quan trọng nữa đối với Thái Nguyên  là vấn đề ô nhiễm môi trường và việc tồn tại một lượng lớn chất thải trong quá trình khai thác mỏ. Mức độ ô nhiễm môi trường bao gồm cả không khí, mặt đất, các dòng nước đã đến mức độ báo động.Những vùng đất quanh các mỏ khai khoáng, bãi thải mỏ hay các mỏ cũ đã được hoàn thổ bị nhiễm kim loại nặng trầm trọng, đến cỏ cũng không mọc được.


    " Hiện trạng môi trường sinh thái ở Thái Nguyên có thể khẳng định đang bị ô nhiễm ở mức quá giới hạn cho phép, nhiều nơi bị ô nhiễm nặng. Về nguồn nước, nước mặt bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, đặc biệt là sông Cầu, hằng năm tiếp nhận khoảng 35 triệu m3 nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa triệt để của hơn 1.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác, chế biến khoáng sản, các bệnh viện …Ngoài ra, sông Cầu cũng còn phải tiếp nhận khoảng 15 triệu m2 nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của các khu dân cư đô thị. Theo kết quả quan trắc, hàm lượng BOD5 trong nước tại cầu Gia Bẩy, đập Thác Huống, cầu Mây vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,08- 9,5 lần; COD vượt từ 1,2-5,8 lần; NH4 vượt từ 1,34- trên 20 lần; lượng dầu mỡ đạt tới 0,195- 0,196 mg/l, trong khi giá trị tiêu chuẩn là 0. Nước sông Công và hồ Núi Cốc cũng có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, dầu mỡ và các hoá chất bảo vệ thực vật.
    Môi trường nước dưới lòng đất cũng đã có những biểu hiện ô nhiễm, tuy nhiên chỉ mang tính cục bộ như tại một số khu vực khai thác khoáng sản Hà Thượng, Tân Linh (Đại Từ), hàm lượng Asen từ 0,068- 0,109 mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7- 8,2 lần; phường Quang Vinh (TP. Thái Nguyên), Thị trấn Giang Tiên (Phú Lương), hàm lượng Xyanua vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,9- 12,9 lần…
    Tại các khu công nghiệp và khai thác khoáng sản, qua điều tra chất thải cho thấy ước tính mỗi năm các hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra khoảng một tỷ m3 khí, hàng nghìn tấn bụi và hàng trăm nghìn tấn chất thải rắn. Theo số liệu điều tra: Tại 20 doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản, hàng năm thải vào môi trường khoảng 450 triệu m3 khí thải; 16 doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tập trung hàng năm thải vào môi trường trên 200 triệu m3 khí thải, 160 nghìn m3 nước thải, 150.668 tấn chất thải rắn; 14 doanh nghiệp cơ khí chế tạo hàng năm thải vào môi trường trên 150 triệu m3 khí thải …
    Trong số các cơ cở sản xuất công nghiệp và khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên, hiện có khoảng 90% cơ sở chưa có trạm xử lý nước thải và hệ thống kỹ thuật hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Tại các khu công nghiệp, chúng tôi đã tìm hiểu tại cơ sở và được biết: Hiện nay mới có khu công nghiệp tập trung Sông Công có thiết kế quy hoạch chi tiết, nhưng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường như: Hệ thống thoát nước bề mặt, hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng của từng nhà máy, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, khu chôn lấp chất thải rắn chưa được hoàn thiện. Các chất thải rắn công nghiệp chủ yếu được thu gom và chôn lấp ngay trong khu vực sản xuất hoặc chôn cùng với rác thải sinh hoạt, đặc biệt các chất thải nguy hại chưa được quản lý, phân loại và xử lý theo đúng quy định....
    Dự báo về tình hình ô nhiễm môi trường của Thái Nguyên trong những năm tới sẽ còn nhiều phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Lý do: Tốc độ phát triển đô thị, phát triển công nghiệp ở mức cao, đến năm 2010 sẽ có khoảng trên 2.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh và 20 đô thị các loại, dân số đô thị sẽ tăng nhanh. Vì vậy lượng khí thải, chất thải, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đô thị ngày càng nhiều. Một số cơ sở khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng lớn đi vào hoạt động như: Mỏ sắt Tiến Bộ, Mỏ đa kim núi Pháo, Nhà máy xi măng Thái Nguyên, Dự án cải tạo, mở rộng giai đoạn 2 Khu công nghiệp Lưu Xá … sẽ là những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường …"( http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=24&id=55900&code=CTVY655900)  

    " Đáng ngại hơn, xung quanh các khu mỏ khai thác than hàm lượng bụi đã vượt quy chuẩn cho phép đến 5 lần. Cùng với tình trạng ô nhiễm không khí, môi trường đất tại các khu vực gần khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm kim loại nặng rõ rệt, điển hình như đất ruộng gần Khu công nghiệp Sông Công hàm lượng Zn vượt 8,9 lần, hàm lượng Cd vượt 11 lần; tại Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên hàm lượng Pb vượt tiêu chuẩn 2,8 lần, hàm lượng Zn vượt 46,6 lần... Đặc biệt tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản do chủ yếu khai thác theo phương thức lộ thiên, thủ công bán cơ giới đã gây tác động xấu đến môi trường, gây thất thoát tài nguyên như tại các điểm mỏ: than Làng Cẩm, đôlômít Làng Lai, mỏ sắt Trại Cau... Nguy hại hơn, ở một số mỏ than Khánh Hòa, Phấn Mễ, Núi Hồng, mỏ sắt Trại Cau do khai thác lộ thiên đã tạo ra các moong khai thác sâu tới hơn 100 m so với mực nước biển và đổ thải cao hơn 100 m so với mặt địa hình khu vực, làm biến dạng địa hình, tác động xấu đến hệ sinh thái khu vực, bồi lấp dòng chảy mặt, thậm chí gây mất nước, sụt lún đất... ( http://www.baomoi.com/Thai-Nguyen-Can-giai-quyet-cac-van-de-moi-truong-cap-bach/148/7501851.epi)  

    Một bãi chất thải khi khai thác mỏ.( ảnh dienbatn chụp )


    Ta tiếp tục khảo sát nhánh Thanh Long tại phía Đông của tỉnh Thái Nguyên .





    Nhìn trên bản đồ địa hình , ta nhận thấy nhánh Thanh Long của Thái Nguyên các mạch núi đều có xu hướng doãi ra ngoài. Dòng sông Cầu chảy theo hướng Càn - Tốn , tới cuối địa phận Thái Nguyên thì vòng ôm lấy nhánh Bạch Hổ và giao với Sông Công tại Đa Phúc. Như vậy ở đây ta có một trường hợp khá đặc biệt của lý thuyết Địa lý . Lúc này, Long và Thủy tách ra và tạo nên thế : "Thoát Long tựu cục ". Sách Hướng Thủy chân quyết đại toàn có viết : "Trong tình huống Quan, Khiếu không tương thông, việc thoát ly Long mạch mà tiếp cận Thủy cục là có căn cứ.Long mạch với Thủy cục vốn phối hợp với nhau, từ đó hình thành đại địa. Nếu Quan, Khiếu không tương thông, chẳng thể dùng Quan , Khiếu xác lập phương hướng. Lúc đó chủ yếu căn cứ vào Thủy khẩu để mà lập hướng mà không thể chú ý đến cả Long mạch vốn có. Trường hợp này gọi là Thoát Long lập ( tựu) cục. Thoát ly Long mạch gọi là không, vì chỉ dựa vào Thủy khẩu nên gọi là Huyền. Hai chữ Huyền Không đại để từ đó mà ra . Nếu căn cứ vào Huyền không mà lập hướng, thì ba phương diện Sinh, Vượng, Mộ tuy trên Long mạch không ăn khớp với nhau, nhưng trên hướng Thủy lại là Tam hợp hoàn chỉnh. Trong 48 cục, chọn Quan, Huyền, Khiếu làm Tam hợp là sai, nhưng dù có thể bỏ Long, lại không thể thoát mạch, cho nên phải tránh mạch hung sát ".

    Xin xem tiếp bài 7 - dienbatn .

    ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.

    BÀI 1.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/07/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach.html

    BÀI 2.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/07/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_18.html

    BÀI 3.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/08/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach.html

    BÀI 4.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/08/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_23.html

    BÀI 5.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/09/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach.html

    BÀI 6.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/09/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_11.html

    BÀI 7.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/09/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_20.html

    BÀI 8.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/09/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_25.html

    BÀI 9.

    https://dienbatnblog.blogspot.com/2012/09/ia-mach-thai-nguyen-va-van-e-quy-hoach_27.html


    Xem chi tiết…

    ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 5.

    9/07/2012 |
    ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN VÀ VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG QUÁT.BÀI 5. 

    PHẦN 2 .
    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA MẠCH THÁI NGUYÊN.
    ( Tiếp theo- dienbatn )

    3/ THANH LONG- BẠCH HỔ : (Tiếp theo )
    Trước hết, chúng ta xem xét thật kỹ nhánh Bạch Hổ của Thái Nguyên.
    Nhìn trên bản đồ không thấy được hết, chúng tôi thực hiện một chuyến điền dã khảo sát kỹ càng nhánh Bạch hổ này. 


    Xuất phát bắt đầu từ ngã ba Thị trấn Ba Hàng thuộc Xã Đồng Tiến, theo tỉnh lộ 261, qua Xã Minh Đức rồi tới Thị trấn Bắc Sơn. Khu vực dọc theo tỉnh lộ 261 này nằm kẹp giữa dãy Tam Đảo và dãy núi nằm bên hữu ngạn hồ Núi Cốc.


    Địa hình khu vực này đa phần là những gò đất có chiều cao dưới 100 m. Phía Đông Bắc của đường 261 khu vực này có một đường Long khá hùng dũng kéo dài từ Tân Sơn tới Đông Cam thuộc Xã Vinh Sơn có độ cao từ 305 mét trở xuống. tại khu vực này, Khí mạch bị sát rất mạnh, nhìn cảnh vật trong vùng ta nhận thấy những nét hoang tàn thấy rõ. Kết hợp với sự xuống cấp trầm trọng của tỉnh lộ 261 tại khu vực này, đời sống của nhân dân trong vùng thật là khó khăn. Dọc đường chúng tôi thấy rất nhiều nhà để bảng bán nhà đất hay bỏ hoang.
    Từ Thị trấn Bắc Sơn, tiếp tục theo tỉnh lộ 261 tới Xã Phúc Thuận, Thị trấn  Quân Chu, Xã Cát Nê...Khí mạch có vẻ tốt dần lên mặc dù đường xá tại những khu vực này cũng xuống cấp trầm trọng.Phía Tây của đường này có thể nhìn thấy rất rõ Long mạch Tam Đảo hùng vĩ. Dãy núi Tam Đảo bên phía Đông này có chiều cao từ 1200 m hạ thấp dần xuống theo rừng Quốc Gia Tam Đảo ở độ cao khoảng 1000 m. Tại Xã Quân Chu có Chùa Tây Thiên nằm trên độ cao khoảng 113 m.







    Tại các xã Quân Chu, Cát nê, Kỳ Phú thuộc huyện Đại Từ có chiều nghiêng theo triền phía Đông của long mạch Tam Đảo có độ dốc xuống từ 1200 m của các đỉnh Tam Đảo tới các xã trên có độ cao trung bình khoảng 200 - 300 m. Từ phía Đông của long mạch Tam Đảo, có rất nhiều đường nước từ trên cao đổ xuống và chảy về tụ tại hồ Núi Cốc. Dọc theo tỉnh lộ 261 khu vực này có rất nhiều co suối chảy qua đường đưa nước xuống hồ Núi Cốc phía Đông.

    Hình dãy núi ven hồ Núi Cốc nhìn từ phía Tây hồ khu vực xã Vạn Thọ.




    Long mạch phía Tây hồ Núi Cốc .



    Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, Thái Nguyên được ôm bởi ba tầng Bạch Hổ. Tầng ngoài cùng là Long mạch Tam Đảo, tầng thứ hai là Long mạch phía Tây Nam hồ Núi Cốc và tầng thứ ba là Long mạch phía Đông hồ núi Cốc. Độ cao thấp dần từ các đỉnh của Tam Đảo trên dưới 1200 m nghiêng xuống theo chiều Đông - Tây về phía hồ Núi Cốc. Những Long mạch này có Khí mạch rất hùng dũng, thế Long đi mạnh mẽ, tới phía hồ tại nên những quả đồi hình dáng tròn trịa tạo nên một cảnh Sơn - Thủy rất hữu tình.

    Các ngọn núi phía Tây hồ Núi Cốc.

    Đa phần các ngọn núi ven hồ Núi Cốc có dạng Vũ Khúc - Kim tinh có hình dáng đầu tròn, chân hơi doãi ra : " Kim tinh hình thể tịnh nhi viên - Cung khởi hỗn như nguyệt bán biên " . Kim tinh hình thể đẹp đẽ, tú mỹ chủ xuất hiện con cháu hiền sĩ trung nghĩa, chủ xuất về văn. Ngoài ra còn chủ phát về tiền bạc, quan tước . Với hình thể này thường là nơi phát tích những người tính tình cương trực , thẳng thắn, quyết đoán. Về Khí mạch, Bạch hổ thuộc về Khí âm, là tượng của phụ nữ. Với điều kiện hình thế Bạch Hổ như thế này, những phụ nữ trong vùng thường có dung mạo đẹp đẽ, tính tình thẳng thắn quyết đoán và có tài làm kinh tế, vượng phu , ích tử.
    Khảo sát tiếp tục nhánh nội Bạch hổ của Thái Nguyên.





    Nhánh Bạch Hổ trong cùng đa phần nằm tại huyện Phú Lương. Long mạch chạy dài từ thị trấn Đại Từ , qua các xã Hà Thượng, Cù Vân, An Khánh...Khu vực này các ngọn núi có hiều cao khoảng 300 n trở xuống nhưng dưới nó tàng trữ rất nhiều mỏ than, sắt, mangan, titan, vonfram, vàng, thiếc, thủy ngân. Đặc biệt trong khu vực này có mỏ đa kim Núi Pháo . " Mỏ đa kim Núi Pháo, một mỏ skarn nằm trong đá trầm tích của hệ tầng Phú Ngữ tuổi Orđovic-Silur, có nguồn gốc liên quan tới sự xâm nhập của các đá granit hai mica thuộc phức hệ Pia Oắc tuổi Creta muộn. Đá vây quanh quặng chịu tác động bởi ít nhất 3 pha biến dạng khu vực, trong đó có hai pha biến dạng dẻo và một pha biến dạng giòn. Pha biến dạng thứ nhất làm uốn nếp mạnh mẽ các đá trầm tích lục nguyên - carbonat thuộc hệ tầng Phú Ngữ, tạo nên hàng loạt nếp uốn đẳng cánh làm dày các trầm tích lên nhiều lần, và làm dịch chuyển hệ tầng Phú Ngữ ra khỏi vị trí trầm tích nguyên thuỷ của nó. Pha biến dạng thứ hai tái uốn nếp các cấu trúc hình thành trong pha 1 và tạo nên hình thái cấu trúc chủ yếu của khu vực. Các biến dạng giòn thuộc pha 3 làm phức tạp hoá các thành tạo có trước, nhưng không làm thay đổi đáng kể bình đồ cấu trúc khu vực. Thân quặng skarn đa kim có hình thái đơn giản và hình thành sau hai pha biến dạng dẻo chính, nhưng hình thái và quy mô thân quặng và sự phân bố của nó bị khống chế mạnh mẽ bởi các yếu tố cấu trúc khu vực tiền tạo quặng. Do đó việc luận giải đúng đắn mối quan hệ cấu trúc không những góp phần làm rõ bản chất biến dạng khu vực, mà còn góp phần quan trọng vào việc suy đoán quy mô và phương phát triển của khoáng hoá.
    Theo các số liệu tính toán đến cuối năm 2003 của Công ty Tiberon Ltd thì mỏ đa kim Núi Pháo có tổng trữ lượng tài nguyên tương ứng với các cấp B, C1, và C2 là 110 triệu tấn tính cho giá trị hàm lượng biên tương đương với WO3 là 0,2%, trong đó bao gồm một phần trữ lượng đáng kể của fluorit, vàng, đồng, và bismut. Với trữ lượng và quy mô như vậy, mỏ Núi Pháo có thể là một trong những mỏ có trữ lượng wolfram và fluorit lớn nhất được biết cho đến nay ở Việt Nam và khu vực lân cận ".
    " Các tài liệu địa chất cho biết Núi Pháo là một kho đa kim khổng lồ. Khi đưa vào hoạt động, mỏ này sẽ cung cấp 15% lượng cung vonfram toàn cầu, 20% bitmut (thay chì trong mỹ phẩm và sơn ) toàn cầu (và sẽ trở thành nhà cung cấp riêng lẻ lớn nhất thế giới), và 7% florit toàn cầu. Doanh thu hàng năm của mỏ này có thể lên tới nửa tỉ usd.Núi Pháo là mỏ lộ thiên, được khai thác theo kiểu lòng chảo.Vonfram nếu kết hợp với cacbua sẽ trở thành chất liệu cứng thứ 2 sau kim cương, dùng phổ biến trong ngành khoan dầu mỏ, dây tóc bóng đèn, công cụ máy, … Đây là hợp kim không có vật liệu thay thế. Trung Quốc hiện nắm tới 70% trữ lượng vonfram toàn thế giới và cung cấp 85% sản lượng vonfram toàn cầu. Đó là lí do, bất cứ một mỏ vonfram lớn nào nằm ngoài Trung Quốc đều có ý nghĩa vô cùng lớn."- nguồn : http://www.diachatthuyvan.net/t909-topic
    Có điều khi khai thác mỏ Núi Pháo này, nếu không có biện pháp sử lý nước thải thật tốt thì hồ Núi Cốc chính là vật được tế thần của nó.











    Xin xem tiếp bài 6 - dienbatn .

    Xem chi tiết…

    THỐNG KÊ TRUY CẬP

    LỊCH ÂM DƯƠNG

    NHẮN TIN NHANH

    Tên

    Email *

    Thông báo *