Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ . BÁT THUẦN ĐOÀI . TÁC GIẢ - THANH PALI. BÀI 4.

CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ . BÁT THUẦN ĐOÀI . TÁC GIẢ - THANH PALI.

LỜI NGỎ dienbatn sẽ đăng lại một số bài viết hay của các ACE thế hệ trước từng làm mưa làm gió trên các diễn đàn Huyền thuật. Việc này nhằm ôn lại những kỷ niệm xưa cũ , và cũng thầm nhớ lại và tri ân những đóng góp của họ vào tri thức Huyền thuật của nước nhà. dienbatn chỉ chỉnh sửa một số lỗi chính tả ,còn để nguyên chất giọng vùng miền của họ.Xin chân thành cảm ơn các tác giả.
CHÚ THÍCH : Thanh Pali là một cao thủ về Huyền thuật , nhất là phần luyện Ngải. Trong trang Thegioibuangai.com ( Sau này là Thegioivo hinh.com ) do anh Hùng Sơn chủ xướng khoảng gần 20 năm trước , thì tác giả Thanh Pali có nhiều đóng góp quan trọng về những kiến thức Huyền môn. dienbatn ngày xưa cũng được tác giả Thanh Pali chỉ giáo nhiều điều. Thấm thoắt đã gần 20 năm. Xin tri ân những đóng góp trong Huyền môn của tác giả Thanh Pali.



Kinh chú linh ứng ra làm sao?
Thanh Pali

1-sư huynh tôi đạo hiệu là Đồng Huyền,công chức bàn giấy trước 75,từng thọ pháp Chuẩn đề ở tu viện Chơn không,là cư sỉ 1 vợ 2 con,ngày đi làm, đêm luyện chú,”thú hơn ngủ với vợ”(lời ổng),không biết đó có phải là cái tội hay không?,mà năm 76, ổng bị tình nghi làm việc khuất tất trong vụ đổi tiền,toà xử Chí hoà 2 năm!
-Lúc cán bộ mở cửa xà lim, ổng vừa bước vô ngục,vừa đọc um sùm:-“Khể thủ qui y tô tất đế, đầu diện đảnh lể thất câu chi………….Án chiếc lệ chủ lệ Chuẩn đề ta bà ha.”
Cứ vậy mà đọc riết,cả ngục xúm lại ngó,”Tù trưởng”hỏi:-vô tới đây còn kinh kệ gì nửa,cha nội!.... Ổng trả lời tỉnh bơ :-tụng kinh Chuẩn đề không bị đánh đập ,giam cầm,mau thoát tù tội,tui bị oan,tôi tụng để kêu ổng cứu tôi!”…..thay vì cho ăn một trận đòn hội như bao thành viên khác,”Tù trưởng”im lặng 1 chút rồi nói :-“Tụi bây cho ông Đạo nầy 2 cục ổng nằm(1 cục=1 gang tay chiều ngang,chiều dài vừa đủ duổi chân co ro,xà lim thì nhỏ,số người thì lớn,như 1 hộp cá mòi tập thể) ông có đọc kinh gì thì đọc nhỏ nhỏ thôi ! để cán bộ họ la tui đó….
-Từ đó xà lim nầy bớt đánh nhau,bớt kể chuyện tục tiểu vào buổi tối,chỉ còn nghe tiếng rì rào của sư huynh tôi,rồi từ đại bàng tới bạn tù,ai nấy lần lượt “thọ”chú Án ma ni bát di hồng,chú Chuẩn đề,chú Diệt định nghiêp = Án bát ra mật lân đà nảnh ta bà ha!!!
-1 hôm cán bộ quản giáo “mời “ổng ra ngoài nói chuyện,cái vụ vô tù mà sao còn đi truyền bá tôn giáo…kết quả là cái bịnh nhức đầu thống của ông cán bộ đó được giải toả.
-Ăn cơm tù được 1 năm 2 tháng(không ăn cá tù,vì ổng ăn chay) đêm đó cở 2 giờ khuya, ổng đang ngồi tịnh sát chấn song xà lim,thì nghe có mùi hôi thúi ở đâu kéo tới nồng nặc,rồi tiếng rổn rảng khua dây xích, ổng giựt mình mở mắt,ngở là cán bộ đi tuần,ai dè cách ổng 1 mét ngoài chấn song là 1 kẻ nửa người,nửa ngợm lù lù!với thân hình tiều tuỵ,lưng gù,bộ mặt nhăn nhúm không ra già trẻ,với hàng trăm xiềng xích quấn trên người,vắt vẻo lê trên nền đất,quần áo sơ mướp tả tơi, đang lom lom nhìn ổng…..hồn vía ổng lên mây! Theo bản năng như 1 phản xạ, ổng liền nắm Ấn Tý tự gỏ vào trán,vừa la làng :-Hồng Hồng …ơi.
-Ổng la lớn quá trời,cả xà lim ngồi bật dậy” chuyện gì vậy, ông Đạo?”
Lúc ấy ổng hoàn hồn lại,không còn thấy quái nhân ở đâu!vừa run vừa kể cho ai nấy nghe,…nghe rồi tù trưởng nói :-“ Em ở đây từ trước 75, nghe có người củng thấy như anh…đó là hồn ma “Chúa ngục”Chí Hoà,do tụi Nhật bổn nó ếm,ai đả thấy Chúa ngục thì 1 là sắp ra ,hai là sắp chết tới nơi trong ngục nầy…….”
-Sư huynh xanh mặt, đả run càng run hơn,ngồi niệm kinh miết tới sáng….rồi cở 9 giờ sáng hôm sau,cán bộ xuống,kêu ổng ra ban quản giáo trình diện,cả xà lim xôn xao luôn! Ổng được cấp giấy tờ cho về địa phương lập tức(có xe đưa về tận công an phường,rồi về nhà)- Có chứng minh là ổng vô tội!
-2 năm-(trừ)1 năm 2 tháng =10 tháng ở nhà bị vợ con rầy rà nhiếc nhở vì đàn ông không làm ra tiền! Vài năm sau , ổng xuất gia,bò lên tới trụ trì ở chùa Giác tâm thuộc Hóc môn,tha hồ mà tu niệm cho đả đời……không chừng Đức Chuẩn Đề ra tay…như vậy đó!
2)- Sư thúc tôi đầu tròn, áo….vá,dù vải vóc không mắc mỏ gì,không hiểu tại sao ổng cứ mặc 1 cái áo 7-8 năm trời, đả vậy nó rách te tua,còn chưa chịu bỏ,lại đem kết làm mành treo cửa sổ! Thiệt kì cục hết chổ nói! Lúc tôi ở trên núi với ổng,thấy ổng hay lượm đủ thứ đá cục ,tha về liêu làm bầu bạn,có cục hình như mặt người,mặt cọp beo,có cục lại tròn vo …y như cái đầu trọc của ổng vậy! Và còn 1 mớ nầy mứi là kinh dị ! Trong trang thờ binh có vô số xương xẩu và răng nanh,khi mình thấy cái nanh nào lạ lạ,cầm hỏi ổng,thì ổng nói :-“cái nầy hả…răng cọp…cái nầy …nanh heo độc….hàm mèo….răng càn ranh con sát…răng hổ mây núi…răng….”-và tới 1 cái răng như răng người,có mủi chạc nhọn 3 khía,màu đen nâu, ổng nói:-“là răng Quỷ đó “ “-ý,là nanh con quỷ thiệt hả sư thúc?” “ừa,là của Tinh xà niên” “Sư thúc gặp nó ở đâu vậy ?” “Mầy có gan thì vô trong rừng ở chừng 10 năm thì gặp liền “ “-Sao mà tới 10 năm lâu quá vậy,tới chổ nào mới thấy nó được?
-Thì mầy đi bờ suối ngồi chồm hổm ngó xuống nước, đừng ngó lên,sẻ thâý nó tức thì ! Xà niên xuất hiện !
-Trời !....gặp nó rồi mình phải làm sao hả sư thúc ?
-Còn đâu mà gặp thời buổi nầy,chỉ có niệm chú thì mấy cái xương nó lộ ra,chuồi lên khỏi đất cho mầy thấy,muốn lấy cái nào thì xin rồi mới được lấy về làm phép !
-Hay quá ! vậy sư thúc làm ơn dạy con bài kinh đó đi …
-Ủa,vậy là mầy tính vô rừng ở với khỉ chớ không ở đây với tao nửa hả ?( ông nầy chơi triệt buộc quá trời luôn !)
Mà rồi ổng củng chỉ :-nô buôt the đăc côn cung năm săm săm,ma a ra hăn thê, đac côn cung năm săm….cứ niệm hoài,kinh nầy củng hay tìm được các linh vật lạc đả lâu như tượng phật,nanh heo ,ngà voi, đả tom phép,nằm đâu vùi trong đất,dưới suối,nếu mình có duyên ,sẻ gặp…
-Sư thúc tôi là 1 thầy chùa,sáng kinh :-nam mô …nam mô….côc côc cốc !!!
Chiều kệ : -“ngồi buồn ……nói giảng,,,, ê….a “nghe mà buồn thúi ruột !
Vậy mà tối tối ổng êm ru ,té ra ngồi ở am sau liêu mà luyện Sơn thần Độc tướng
Ổng là 1 vị thầy “hi fi” là thầy chùa + thầy bùa = Cổ quái sơn nhân ! Cái chổ sở dỉ bà con ở đây ái mộ là vì ổng- độc cô cầu luyện- giúp cho tỏ rỏ cái phép thầy tổ ! Chớ không vì miếng cơm vợ con ,cho nên mấy thầy khác ở vòng vòng củng nể ổng .
- Mình củng ăn chay như ổng.có điều là để tịnh xác cho thần quyền dể về,mà cái miệng thì nó chưa chịu tịnh nên có ăn no rồi,còn bày đặt ngứa răng ,hỏi ổng :
-“Vậy chớ sư thúc ở vầy hoài không có vợ,có buồn hông ?
- Mầy lên đây học đạo hay lên kiếm vợ cho tao ! …mà thôi củng nhân duyên mầy hỏi, để tao coi 1 quẻ là cái giống gì xui mầy hỏi vậy !
Sư thúc lượm 1 cục đá gạch gạch dưới đất,lẩm nhẩm 1 hồi ,rồi ngẩng lên:
-“ Phần mầy ế vợ không lo. Đi lo cho tao! Tao ở đây toàn là gặp bệnh hoạn YÊU quái chớ VỢ con khỉ mốc gì!....dù sao quẻ có động hào,chắc là sự sắp gần kề ,thôi ra tao dạy cho cúng giải nghiệp, để cái gì tới thì tới cho qua ,cái gì chưa thì hoá giải cho rồi . Đêm đó 2 sư thúc đệ lui cui lập bàn hương án, ổng dạy cho bài pháp danh hội hoá giải nghiệp :
-“Con nguyện trên cha trời mẹ đất,dưới có Phật Tổ, Phật Bà , Phật Mẹ,9 phương trời,10 phương Phật,con nguyện trên 36 Thánh, dưới co 72 hiền thần,thần hoàng lục bộ đài quan, Thần hoàng bổn cảnh , đêm 5 du Thánh,ngày 6 khắc có 6 chư Thánh tuần giảng Đông Tây Nam Bắc , con nguyện vong hồn ông sư sống cúư thế trợ dân ,xin ông giảng về chầu Phật Tổ hộ đọ đệ tử tên là…tuổi….chuyển hoá tiền căn ,chuyển dời sở nghiệp……
-tứ trời đệ tử thập thử công đức khứ tam bảo đạo suy
-nam mô đại bi hội thượng Phật bồ tát”
Kế ổng lấy ra 2 lá bùa,1 lá có ghi tên pháp danh của ổng,còn 1 lá ổng đưa mình,nói :-“ Mầy ghi tên tuổi vô ,lạy 36 lạy ,rồi đốt bùa nầy .” mình bổng thấy sợ sợ liền nói :”- Thôi con đâu có chuyện gì mà đốt bùa !”
“- Mầy không giải thì thôi ,sau nầy có gì ráng chịu ,tao lo tao !”
Rồi ổng xì xụp lạy ,mình củng lạy theo đủ 36 cho có tụ với ổng.
Độ tuần sau,mình xuống núi, đón xe đò về Sài gòn,nghỉ thương cho sư thúc ở lại 1 mình cô độc,”quái nhân” như ổng chắc có ngày thành “ro bot nổi loạn quá” !
Rồi chuyện gì tới củng phải tới,quái nhân đả gặp quái sự ! Sư thúc lên triệu tập Sư phụ và Sư bá để tính cái chuyện ……trăm năm của ổng ! Số là dưới núi có 1 gia đình theo công giáo ,có người con gái chửa hoang, vì vai chú rể không ai chịu gật,và kẻ sở khanh đả quất ngựa truy phong về Sài gòn ngọn xanh,ngọn đỏ - Gia đình cô củng đâu muốn chịu cảnh ngọn tỏ,ngọn lu-mà cái bầu đả 7-8 tháng biết dấu ở bồ lúa nào bi chừ !? Nên họ dè ngay ông trọc đả ngoài 40 ,năn nỉ ổng làm ơn chịu nhận giùm lể thú phạt trước mắt họ hàng , để bà con 2 bên đở bêu riếu và họ còn có đủ can đảm mà nuôi đứa cháu tương lai !
Sư thúc chới với vì ổng chưa bao giờ nghỉ chuyện thầy chùa con ! Bậu nào ăn chuối ,sao nở để qua hốt vỏ như vầy ! Mang tiếng thúi 1 đời thầy như chơi !có nước bỏ xứ mà đi !......mà lòng từ bi để đâu ,khi thế nhân gạt bỏ khinh bạc , tới mình củng xua tay chối từ ! cứư nhân độ thế ….lấy ghế đội đầu ..như chơi !
-Mà họ quỵ lụy dử quá ,cuối cùng sư thúc xiêu lòng, chịu “tạm ứng “đưa người qua cơn bỉ cực ! Vậy thì “chú rể” già hơn cô dâu tới 20 tuổi lận !..........vả lại sự cạo tóc tu tự phát, có thọ giới bổn tỳ kheo hồi nào đâu mà xin ai hoàn tục !?
Thôi thì trước xin phật TÂM- Nay khấn phật LÒNG mà …..
Công việc đả thống nhứt ,Sư phụ với mình,Sư bá với 1 đệ tử ,cùng theo Sư thúc về dưới “rước dâu “, Vì sư thúc không còn ai là ruột thịt từ lâu,chỉ có huynh đệ ,nên băng đàn trai toàn là dân thầy pháp !kỷ nệm khắc ghi của mình trong buổi sáng đó là……………còn vài mươi mét tới cổng cô dâu,người lớn ,con nít đứng 2 bên đường đông hơn kiến, để chờ coi mặt chú rể, đám con nít gào lên từng hồi câu thần chú chống tà sư :
-“Đầu thầy chùa đi lùa con gái !!!” 3 lần+ 3lần +3 lần+…….
Sư thúc mắt nhìn thẳng ,mặt lạnh như tiền,,trong bộ com lê trắng,vẩn đều bước.sư bá nhăn chân mày, Sự phụ gải gải lổ mủi…còn mình mặt nóng ran,lòng vội niệm thần chú chống trả lại họ :
-“ Nam mô cứu khổ cứu nạn quán thế âm đức mẹ Ma ri a ….ƠI” !!! 3 lần x 3 lần x ….
- Lể thú phạt diển ra,….. đám cưới không nhậu nhẹt, đàn ca……toàn xa lạ…..
Trông cho tàn cuộc…thầy trò về thành phố ,sư thúc ở lại…”rau râm chịu đời !
-Rồi giổ Tổ năm sau, Sư thúc bất ngờ dẩn bà xả lên ! Kỳ nầy coi bộ ổng cười nói nhiều hơn mấy kỳ giổ trước! Vợ ổng xuống bếp với vợ Sư phụ,còn được biết là bà xả ăn chay theo chồng !Mình không dám hỏi Sư thúc có đi lể nhà thờ chủ nhật hôn ? Chỉ thấy cái đàu ổng vẩn trọc lóc ,và bóc thuốc về dưới giúp người như củ …
Bà xả Sư thúc rất cưng chồng trước mặt mọi người,như ổng thường hay nói :-Tao không biết “quê”là gì !Sư phụ thì cứ cười mím chi cọp hoài …..
- Là như vậy đó !sư thúc tui gặp tà ,gặp bịnh,gặp ma,gặp quỷ,,, đều vượt qua ! Mà tới gặp YÊU thì lại…từ -bi-hỉ-xả đón nhận !!!
……..cửa chùa nào mà không rộng mở…….
-Án phật lòng…cấp cấp như luật…lệ !
-3)Sáng nào mở mắt đậy,tôi củng đọc lớn :”- í ma hâm ba ga va ăt ta bà văm tum ha kham bà rit ca chà mi-buôt tha thẩm mô há vê răkha tí thẩm ma chà rim”vì thầy nói là niệm như vậy để chư Phật-chư Tổ luôn hộ dắt mình trên đường đạo không suy…vậy mà có lúc ngồi se nhang bên thầy, ê a đọc, ổng lại nói :-“Cái đó đọc ít ít thôi,sao đọc chi mà nhiều quá vậy! Bộ tính ngồi se nhang suốt đời sao mậy !” Dù sao, đả quen tánh,nên lúc nào rảnh miệng tôi củng vẩn ê a như vậy….
- Hồi đó,lúc cơm gạo khốn khó,lớp đi làm công,lớp lo em út ở nhà,lớp lo phụ thầy để học đạo…đời cứ vậy mà trôi ….
-1 chiều đi làm về,qua nhà ai nghe vẳng giọng Duy khánh…”.Mẹ ơi-hoa cúc hoa mai nở rồi…mà giờ đây, đời con sao còn……” Lòng chợt thấy chơi vơi …có gì là lạ trong tôi…mình liền trấn tỉnh :-“ í mà hâm ba ga va ….”
- Chuyện của Sư thúc cứ ám ảnh,tình đời sao mà lộn xộn quá ! Công việc chưa đủ mệt sao? Mà còn nghỉ ngợi lung tung gì cho thêm mệt….bắt chước sư huynh,ngồi tụng chú sướng hơn……..xin bái phục tất cả huynh đệ nào nào vừa lo vợ con,vừa lo tu luyện,thiệt là 2 gánh cân đồng ! trượng phu !
- Chiều 30 tết, nhà cửa ai nấy rộn ràng,từng làn gió xuân mát lạnh đi qua hè phố ,hoa –dưa hấu -mứt …đầy đường…chuyện nhà đả xong,tôi lại đến nhà thầy,nhà khá vắng,vì các huynh đệ đều về quê đón tết,hay về nhà lo gia đạo vợ con ,thầy củng đi mua dưa,vì giờ nầy hình như cái gì cho tết củng rẻ……..mình thắp 3 nhang bàn tổ ,ngồi tịnh 1 hồi …thời gian vằng vặc trôi qua…lại có tiếng Hương lan hát từ nhà lối xóm :-“ Trong thế gian đang vui mừng đón xuân……chắc nàng xuân năm nay …..mừng xuân quên hết nhửng chuyện buồn năm đả qua….,,,”
- Lời nhạc hanh thông…mà sao giai điệu trắc ẩn quá …..có gì mà buồn vậy ….
“ Ước gì bây giờ có ai kêu mình đi đâu hay làm gì đó cho khây khoả bớt…” Mình phải niệm chú như ý luân :-“ Cụ đại bi tâm GIẢ, đát diệt tha, án ,chước yết ra phạt…………..án,bát lạt ma chấn đa ma ni thươc ra hồng, án………….”
-Đùng …Đùng…Đùng…pháo ở đâu nổ vang lừng,mùi pháo đượm trong sương đêm,lòng tôi bồi hồi..,rồi tiếng pháo đồng rộ vang lan toả,….cả xóm…cả chợ lớn….cả sài gòn…cả lòng mình….hương giao thừa thênh thang……án,vá ra đa pad mê hum…như ý ….không khí ….mùi hương….tiếng pháo…….thần chú….
“Thanh ơi!thầy về tới nè, phụ Thầy đem dưa vô cúng giao thừa …đi con !” Thầy kêu lớn ,cắt đứt câu thần chú của mình ..”dạ!con ra liền nè !” Sao mắt tôi chợt nóng ướt nhoà ,mủi cay nồng…………bây giờ là giao thừa rồi ,mấy bạn ơi ….
- Với mình, Thần chú linh ứng như vậy đó,…… Án-a-hồng….ơ ơ ơiiiii……


ÂM BINH! - THANH PALI.

Đối với những vị thầy xưa, âm binh là phương tiện nhanh chóng và đắc lực nhất để thực hiện cô ng việc. Vì vậy, không thầy nào hạ sơn mà lại không có một bà thờ binh trước sân nhà. Âm binh làm việc theo lệnh của thầy, giúp đỡ, phá phách người dương và chống cả người âm. Sau khi hòan thành nhiệm vụ, binh được cúng lễ đàng hòang như lính được tướng khao thưởng ngày xưa. Lễ vật cúng binh từ đơn giản là muối gạo, nổ, cháo hoa cho đến long trọng với đủ thịt cá trái cây rau quả... 
Bàn thờ âm binh không bao giờ được để trong nhà, các thầy phù thủy thường gọi là "Tĩnh". Trong Tĩnh, ngoài sắc lịnh triệu binh, có khi các thầy còn thờ cả tướng trời như :Triệu Công Minh, Tề Thiên Đại Thánh, Na Tra... ( chỉ có ở các thầy pháp). Có lẽ các thầy muốn dựa vào oai các vị này mà khiển binh cho dễ. 

Binh gia có rất nhiều loại. Tùy theo khả năng tu luyện và phương tiện sử dụng mà thầy chiêu mộ loại âm binh nào. Phổ biến nhất vẫn là binh Đại càn, binh chiến sĩ, binh ngũ hổ ... ghê gớm hơn thì có binh rừng, binh tà A-rặc... Mỗi loại binh có câu chú luyện riêng. Trước khi thỉnh âm binh, bàn thờ phải có đủ nhang đèn, trầu, rượu, nước, thuốc lá... 

Muốn luyện âm binh phải đi tìm những nơi nghĩa địa, chiến trường xưa, vùng đất từng bị ôn dịch chết nhiều... nơi đó mới có nhiều vong lang thang, dễ cho thầy chiêu mộ. 
Đây là một trong các bài chú gọi binh đơn giản dành cho việc cúng binh Đại Càn: " Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3l) - Vái ông Chánh Soái Đại Càn Phó Sóai Đại Càn, Quốc gia Nam Hải - Chư vị âm binh- Binh thiên binh địa binh tổ binh thầy binh mấy anh chiến sĩ, đạo lộ đường xá, anh chị phụ nữ, kẻ xiêu mồ người lạc mã về đây cảm ứng chứng minh theo thầy .....( làm công việc gì đó) ... - Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3l) " 
Đối với thầy pháp, việc chiêu mộ âm binh phức tạp hơn nhiều, trong tiếng trống chiêng, tiu khánh,các thầy đọc bài văn chiêu dụ: 
Hồn hỡi hồn 
Cô đơn cõi chết 
Không người thân thích 
Không có cơm ăn 
Đêm tối lang thang 
Bụng thèm miệng khát 
Áo cơ quần rách 
Vất vưởng về đâu? 
Hồn hãy mau mau 
Theo thầy chịu lệnh 
Không còn nhang lạnh 
Thầy cúng áo quần 
thầy cúng cơm canh 
thầy cho vàng bạc.... 
Hồn hỡi hồn! 
Về nơi thầy không còn vất vưởng 
Về với thầy có bạn âm binh! 
Có những bài văn thầy đọc hàng giờ mới hết. Chủ yếu là kêu gọi, kể hòan cảnh đáng thương của hồn rồi chiêu dụ. Khi vong chịu theo tự nguyện, bao giờ thầy khiển binh cũng dễ dàng hơn là dùng lịnh trục về. Y như cõi dương vậy thôi, đắc nhơn tâm là chính. 
Các thầy dùng âm binh vào rất nhiều việc khác nhau. 
Trong chữa trị bệnh tà ma, âm binh giúp thầy bắt tà, khảo tà, có khi thầy trục âm binh vào xác bệnh nhân để đánh nhau với con tà bên trong xác, vậy là thể xác thanh chiến trường, người bệnh gào thét không dứt... 
Nhà cửa bất ổn, buôn bán ế ẩm, thầy cho âm binh đến giữ nhà, kêu gọi khách giúp chủ nhà buôn may bán đắt. 
Ngày xưa, âm binh được thầy luyện tài đến mức có thể dời nhà cửa, tát ruộng, phơi lúa... làm nhiêu việc như người sống. Dĩ nhiên là làm ban đêm rồi. Thầy Thím ở Bình Thuận - Hàm Tân thuở xưa dời đình làng trong đêm cũng bằng binh gia chứ làm sao mà sức người làm nổi trong một đêm. 
Khi có đụng chạm, âm binh được trục liên tục để bảo vệ thầy, đánh kẻ khắc đạo, làm thám thính. Có những trận trời long đất lở, âm binh hai thầy đánh nhau trong đêm, người trong vùng nghe như bão tố mưa dông, tiếng la hét, gươm giáo khua lỏang xỏang, thỏang trong gió có cả mùi tanh hôi. Đó là chuyện xưa, còn bây giờ các thầy lo cơm áo gạo tiền, sức tu luyện và đạo pháp cũng không bằng tiền bối, đôi khi luyện âm binh cũng chỉ nhằm phục vụ cho nồi cơm của thầy ( xin lỗi các vị thầy giữ đạo hạnh). 
Một thời gian dài không có khách khứa, nhiều thầy cà chớn còn cho âm binh đi phá làng phá xóm để có người bệnh đến tìm. Nhưng thường là phá phách làng khác, phá trong làng mình ở thì có nước bỏ xứ mà đi. 
Có nhiều chuyện truyền miệng về việc thầy dùng âm binh trêu ghẹo thiên hạ. Một bà đi chợ mua chiếc đầu heo về, dọc đường gặp thầy, thầy chỉ vào đầu heo tỏ vẻ sợ hãi. Bà ta nhìn lại tay mình thì trời đất ơi, một chiếc đầu người trọc lóc nằm gọn trong giỏ, bà ta sợ quá quăng cả giỏ mà chạy... thầy ung dung lấy cả giỏ đồ ăn đem về. Ở Bình Chánh- Sài Gòn trước đâu có thầy Ba chuyên chữa bệnh và nuôi con nít. Mỗi ngày đi chợ thầy xài đúng 1 quan tiền. Sáng hôm sau, mở ngăn kéo, quan tiền đã nằm trong ngăn từ đời nào, tất cả đều nhờ mấy vị binh gia làm hộ đó. 
Tuy nhiên, tu luyện binh gia là đang sử dụng con dao hai lưỡi không biết lúc nào bị đứt tay. Thông thường, sau khi sử dụng một thời gian ( chủ yếu là làm công đức), các thầy làm phép cầu siêu cho chư vị để họ đi đầu thai hoặc về cõi khác tốt hơn. Các thầy lạm dụng âm binh nhiều, đến một ngày nào đó không còn đủ sức khiển hoặc đã hết thời, âm binh quay lại vật chết hoặc hành xác điên khùng, muốn sống chẳng được, muốn chết không xong. Thầy Tư Bổn nổi tiếng bắt tà ở Cai Lậy - Tiền Giang, đến khi về già, đang nằm ngủ trên võng, âm binh áp vào vật ông xuống mà đánh. Sau khi vùng dậy được, ông chụp roi ấn trên bàn thờ đánh gió túi bụi cả buổi mới thắng. Xong rồi ông cũng muốn đứt hơi luôn. Kiểu này, sau khi ông chết đi, ắt là trong nhà có loạn. Sư Ông chùa Linh Hiển -Thủ Đức, tài phép thần thông dời đá phá mây, đến ngày sắp tịch, đệ tử quây quần tụng kinh 3 ngày liên tục mà ông cứ lấy hơi lên, không chết. Thanh cùng người bạn đến thăm, thấy ông bị binh gia vây kín, mủi lòng bước đến chắp tay chú nguyện cho mấy vị giãn ra, chưa kịp nói gì thì các thầy là đệ tử của sư ông nóng mặt sợ minh giành mất công siêu độ nên đuổi về. Vậy là Sư ông đành nằm lấy hơi lên thêm một ngày rưỡi nữa... các bạn có tin không? Nhưng dù tin hay không, bạn cũng đừng luyện thử nhé! Chẳng có ai chịu trách nhiệm đâu. Vài hàng kể cho chư huynh đệ đọc chơi.

Tôi sưu tầm được một số chi tiết khá hay bổ khuyết thêm cho bài viết của huynh Thanh - Pali. 

Theo Phan Kế Bính thì “phù thủy có phép luyện âm binh, âm tướng, thường đêm khuya đến những nơi tha ma mộ địa, đốt hương khấn khứa, luyện phù luyện phép, để cầu cho các âm hôn phải theo hiệu lệnh của mình... Thầy phù thủy cũng có phép làm bùa yêu, bùa mê. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau phải thương nhau. Bùa mê làm cho người tỉnh trở nên mê mẩn, có khi hóa điên dại, phải có bùa mới hết. Người ta cũng lại nói rằng các thầy phù thủy có lắm phép kỳ lạ, sai khiến nổi âm binh làm những việc của người trần, nhưng phần nhiều thực hiện về đêm: sai âm binh đi tát nước vào ruộng, sai âm binh đi ném đá, gạch vào nhà người khác... Những thầy phù thủy mỗi khi điều khiển âm binh xong phải có lễ khao quân, nếu không âm binh sẽ phản lại đánh trả thầy, và mỗi khi sai âm binh thầy phù thủy phải canh chừng đừng để trời sáng, phải thâu âm binh về trước khi có ánh dương ló ra. Bị lộ thiên cơ, nghĩa là bị người trần trông thấy vào ban ngày, âm binh cũng đánh trả thầy” (Ibid. p.20). 

Sau đó Toan Ánh nhận định rằng, “Thuật phù thủy là một việc huyền ảo, thực thực, hư hư, các thầy phù thủy khéo thôi miên con người, nên thường được người đời tín nhiệm.” Thật ra nhận định như vậy cũng chỉ đúng một phần trong trường hợp các tay phù thủy bịp bợm, dùng những mánh khóe, xảo thuật để lừa dối giới bình dân trục lợi. Nhưng mặt khác, trong trường hợp thầy phù thủy là công cụ trong tay tà linh, ma quỉ thì những pháp thuật kia không phải là trò ảo thuật đâu mà là thể hiện quyền lực của sự tối tăm, của tà linh, của ma quỉ. Chính Toan Ánh cũng cho biết thêm rằng các thầy phù thuỷ đều lập những ngôi tĩnh, thường là một cái am hay một phòng nhỏ trong nhà để thờ các thánh thần trong đạo Lão như Thái Thượng Lão Quân, Ðộc Cước thần, Trương thiên sư....”(p. 209). 
Trong ngôi tĩnh này thiết lập một “hương án, có bài vị, có tượng hoặc tranh vẽ vị thần thầy phù thuỷ thờ phụng, đặt trên một chiếc khám hoặc một chiếc ngai. Trước ngai là một hòm ấn kiếm, lẽ tất nhiên ấn gỗ và kiếm gỗ, tượng trưng cho uy pháp của vị thần...Ngôi tĩnh nào cũng có một chiếc kiểng. Trước khi cúng khấn thầy phù thủy bao giờ cũng đánh ba tiếng kiểng giáo đầu. Các bình hương ở một ngôi tĩnh luôn luôn ngày đêm thắp hương. Theo các thầy phù thủy nói, lúc nào ở tĩnh cũng có sự giáng lâm của thần hoặc của các bộ hạ ngài, do đó việc đèn nhang không thể sơ xuất được” (p. 210). Như vậy các hoạt động phù thủy thật ra chính là các hoạt động thờ cúng tà thần để được ban quyền lực pháp thuật thực hiện những hành vi siêu nhiên, qua đó lôi cuốn, thuyết phục được nhiều người sống trong sự tối tăm, từ đó giữ họ trong xiềng xích bền chắc của ma quỉ. Những hoạt động thần bí khác như lên đồng, cầu hồn, phụ tiên, bói toán, xin xâm, quẻ thẻ... đều là những hình thức thờ cúng trong các sinh hoạt thần bí xuất phát từ Lão giáo.



Quỷ nhập tràng là một hình thức của xác chết biết đi, mượn xác người chết mà đội mồ sống lại. Hình như ở châu lục nào cũng có những loài tương tự như quỷ nhập tràng. Phương Tây có ma cà rồng, Ấn Độ có Vêtala, Trung Quốc có cương thi, thi biến… còn ở VN thì gọi là quỷ nhập tràng.
Điểm đồng nhất với nhau về các loại trên là tìm đến những người vừa mới chết, mượn thể xác họ sống dậy để làm những việc mà bình thường khả năng nó không làm được (vì không có thân tứ đại).
Thật sự là Thanh không có hiểu biết sâu về ma cà rồng của phương Tây, hy vọng có vị nào hiểu biết hơn sẽ trình bày đầy đủ và sâu sắc ở những bài nối tiếp. Xuất xứ của ma cà rồng phải chăng từ Rumani , gắn liền với tên tuổi của Bá tước Dracula- nhân vật có thực trong lịch sử quốc gia Rumani thời xưa, một nhân vật có thực mà sự độc ác vô song đã trở thành huyền thoại? Vùng đất của ma cà rồng mở rộng đến Bungari- xứ sở hoa hồng, Hung gary, Balan, Mônđavi… Tại sao những người chết lại có thể trở thành ma cà rồng? điều này vẫn đang chờ câu giải đáp của các vị nghiên cứu huyền thuật, ma quỷ phương Tây. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là linh khí đất đai ở những nơi đó tạo ra chủng loại này. Ở những nghĩa địa lâu năm trong các làng ven núi các vùng Rumani, Balan, người ta nghe có những tiếng động ở dưới đất. Khi mở những ngôi mộ ra, họ thấy những xác chết- cả đàn ông và đàn bà đều hãy còn tươi tắn như đang sống, máu hồng làm thắm những đôi môi của họ, phải chăng họ đã dùng máu để nuôi sống thể xác? Để có thể tự cứu vãn linh hồn và cuộc sống của mình, dân làng đã đóng cọc vào tim các xác chết, sau đó bỏ làng dọn đến cư ngụ ở những làng khác, vì những làng xung quanh cũng có nghĩa địa, nhưng tại sao không hề có hiện tượng này. Trong quyển tiểu thuyết “Dracula” của nhà văn Bram Stoker, ta thấy bá tước ma cà rồng Dracula khi đi sang đất nước khác đã cho chở theo những chiếc thùng chứa đấy đất ở lâu đài mà hắn ở. Phải chăng những thùng đất ấy là nguồn sống của chủng loại này?
Những vùng giáp Vân Nam – Trung Quốc và Tây Bắc nước ta, có một số làng bản có người chết, họ không chôn xuống đất mà đục vách núi đặt quan tài vào hoặc đưa quan tài vào những động đá sâu thẳm trên dải Hòang Liên Sơn rộng lớn. Phải chăng những vị đạo sĩ, thầy mo ở đó đã nhận ra điều gì bất bình thường từ trong đất?
Cách chống ma cà rồng thường là nước Thánh, các vật đã được làm phép Thánh, Thánh giá, tỏi… biện pháp trừ tận gốc ma cà rồng là đóng cọc vào tim, cắt đứt đầu, nhét tỏi vào miệng xác chết và cuối cùng là thiêu hủy ( mấy vụ này là do đọc sách với lại xem phim mà kể lại, không phải do kinh nghiệm thật).
Vêtala ở Ấn Độ cũng là một loại quỷ nhập tràng. Ngày xưa, Ấn Độ có phong tục quấn vải vào xác chết, đem thây vào rừng, treo lên cành cây hoặc để dưới gốc cây cho đến khi rữa nát. Nơi để xác chết được gọi là Thi Lâm Một loài quỷ sống ở đó đã mượn những xác còn mới để sống dậy trở thành Vêtala, ăn thịt những xác thối xung quanh. Chuyện kể rằng, có một tay nhà buôn gần sạt nghiệp, được vị đạo sĩ huyền thuật tặng cho câu chú luyện Vêtala hy vọng đổi đời. Anh ta phải ra nghĩa địa, ngồi lên bụng xác chết mà trì tụng bảy đêm, cho đến khi nào xác chết cử động được và chịu hàng phục thì anh ta sẽ toại nguyện. Trì đến đêm thứ bảy, xác chết bổng mở mắt nói cười, anh nhà buôn hỏang hốt vọt mình bỏ chạy. Nhưng dù anh có đi đến đâu, con quỷ Vetala trong cái xác vẫn chạy theo tìm bén gót. Cho đến một ngày, anh quẫn trí nhảy lầu tự vẫn… (Tài liệu về loại quỷ này mình cũng không có, chỉ một ít cóp nhặt được từ trong sách vở dân gian của Ấn Độ trước đây mà thôi).
Ở Trung Quốc, phép luyện cương thi đã có từ lâu, nhưng phổ biến nhất là vào giai đọan cuối TK XIX, đầu TKXX khi Trung Quốc chuyển dần từ thời phong kiến sang thời kì Trung Hoa Dân quốc. Mục đích luyện cương thi của các đạo sĩ ban đầu là chính đáng. Có những người đi làm ăn buôn bán, làm quan kinh lý xa nhà, bạo bệnh mà chết dọc đường. Nếu mang xác chết về đến quê nhà e rằng đã trở thành đống xương mục nát. Vả lại, đường xa, xác chết bốc mùi làm sao chịu thấu. Các thầy đạo sĩ đã dùng phép luyện cương thi, mở cõi trung giới trục thỉnh một số chủng loại nơi này nhập vào xác chết, giúp cho xác chết đông cứng, di chuyển được theo chuông ngủ cổ của thầy. Do cương thi sợ ánh sáng mặt trời nên các thầy chỉ di chuyển vào đêm, vừa tránh dương quang vừa dễ di chuyển mà không phiền phức. Khi đưa về đến quê nhà, thường thì đạo sĩ sẽ tẩn liệm đàng hòang rồi mới làm phép giải thi, đưa các chủng loại ấy trở về cõi trung giới. Việc giúp người chết hồi quy cố hương của các đạo sĩ tạo điều kiện cho các chủng loại trên tạo lập công đức ngõ hầu siêu sinh, tiến hóa.
Tuy nhiên, càng về sau những đạo sĩ bất chính đã lợi dụng phép luyện cương thi để làm vật hại người, làm điều mờ ám như buôn bán thuốc phiện, chuyên chở thuốc súng… hàng được dấu trong mình cương thi, thậm chí họ còn giả cương thi để mang hàng. Mà mấy ai ngày xưa dám ngăn chặn đạo sĩ để khám xác chết bao giờ? Mãi về sau sự việc vỡ lỡ, nhà nước cấm đóan, phép luyện cương thi dần dần mai một…
Quỷ nhập tràng xuất hiện trong các câu chuyện dân gian, xuất hiện cả trong các tác phẩnm văn học lớn. Sách “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng linh có câu chuyện “Thi biến”. Câu chuyện như sau:
“Huyện Tín Dương – Trung Quốc có một người làm nghề buôn bán hàng quán, cho khách trọ đêm, cách thành đô năm sáu dặm. Một hôm trời tối, có bốn người khách buôn gõ cửa xin trọ, nhưng quán của ông đã không còn phòng. Bốn người khách không biết đi đâu nên mới van xin. Sau một lúc cân nhắc, ông chủ quyết định để các vị khách của mình vào nghỉ ở phòng trong. Nơi quàng xác đứa con dâu mới chết. Lúc ấy, con trai ông đi mua quan tài chưa về. Trong nhà trong còn đủ giường chiếu, xác chết được phủ chăn giấy nằm ở phía sau tấm trướng. Mấy người khách buôn mệt mỏi đặt mình xuống là ngủ ngay, chỉ có một người còn mơ màng. Chợt anh ta nghe phía linh sàng có tiếng động, mở mắt ra nhìn, anh thấy xác người phụ nữ lật chăn bò dậy, bước xuống đất tiến về phía giường ngủ bốn người. Anh ta sợ quá kéo chăn trùm kín đầu, nín thở lắng nghe. Xác chết lần lượt đến thổi vào từng người, sau đó quay trở lại linh sàng. Người khách buôn vội lay các bạn dậy nhưng họ đã lạnh cứng. Hỏang hốt, anh bò dậy tháo chạy ra ngoài, thây ma đang nằm liền vùng dậy đuổi theo. Anh chạy đến đâu, xác chết đuổi theo đến đó, chạy đến một ngôi chùa, phía trước có một cây bạch dương to đầy một ôm tay. Anh lái buôn liền chạy vòng quanh cây với xác chết như chơi trò cút bắt. Đuổi nhau mãi như thế đến khi anh ta mệt nhoài đứng thở hồng hộc, chợt thây ma bổng nhảy xổ lên vươn hai tay chộp qua cây, khách kinh hãi ngã vật ra bất tỉnh. Trong chùa nghe tiếng la hét vội đốt đèn chạy ra, nhìn thấy người khách nằm cứng đờ vội đưa vào trong cứu chữa. Đến trời tờ mờ sáng, khách tỉnh dậy kể đầu đuôi sự việc, mọ người ra ngoài xem, quả nhiên thấy xác người đàn bà đang đứng ôm vòng thân cây. Hai tay quắp chặt vào cây như móc câu, ngập cả móng. Đến khi kéo ra được, thân cây lủng sâu như đục lỗ…”
Ở Việt Nam, quỷ nhập tràng thường xuất hiện ở những vùng quê hẻo lánh, vùng đồi núi Trung du vắng vẻ bóng người. Trước đây, khi dân cư còn thưa thớt, thỉnh thỏang người ta vẫn kể cho nhau nghe những câu chuyện nửa hư nửa thực về loài quỷ này.
Học giả Toan Ánh cũng có một câu chuyện thật về quỷ nhập tràng ở vùng quê miền Bắc….
Cách nay hơn bảy mươi năm, ở làng Dũng Quyết, huyện Quế Dương xứ Kinh Bắc có người đàn ông tên Tòng bị bệnh chết. Trong khi đang chờ khâm liệm, ông chợt sống lại, không nói không cười, thân thể cứng đơ, đôi mắt trừng trừng như mất hồn không hề nhắm. Từ khi ông sống lại, gà vịt trong nhà mất tích một cách khó hiểu, cho đến khi con cháu trong nhà phát hiện ông đang xé xác con chó để ăn sống bộ đồ lòng. Gia đình rước ông Tự Xung ở huyện Vô Giang về chữa trị, nhưng ngay cả Tự Xung cũng bị ông Tòng cắn đứt miếng thịt vai. Bùa phép không hiệu quả, ông Tòng cứ sống như một thây ma… Cho đến một ngày, sư bà trụ trì chùa Nguyệt Giáng xuất hiện. Bà không chữa trị, chỉ lấy Phật Ấn dán ở hai đầu chái nhà, trên nóc nhà, sau đó lặng lẽ tụng kinh trì chú. Sau ba ngày đêm trì tụng, thây ma ngã gục xuống, thối rữa nhanh chóng, lúc nhúc dòi bọ…
Còn đây là câu chuyện do thầy Tư Nhang kể lại…
Năm 1957, ở huyện Bù Đăng Bù Đốp- tỉnh Sông Bé có đứa bé gái con dân tộc thiểu số. Khi sinh ra nó không có xương sống, không đi được, không nói được,chỉ trườn bò mà thôi. Nuôi đến 3 tuổi thì nó chết. Người ta đem xác nó để ngài rừng 1 ngày thì nó sống lại, bò về nhà. Ở nhà thấy kì lạ lại tiếp tục nuôi nấng. Từ đó, mỗi tối khi mọi người ngủ, nó lại bò đi bắt gà và gia súc để ăn bộ đồ lòng. Về sau cả làng rình phát hiện đòi giết ,ông Cai Tổng vùng đó theo Tây học nên không đồng ý. Cả nhà liền đóng chiếc cũi lớn, bỏ nó vào khiêng sâu lên núi bỏ cho mất tích. Từ đó về sau làng không xảy ra chuyện gì lạ nữa.
Quê của Thanh ở miền Tây, ở đó dân Cái Bè vẫn còn truyền miệng nhau câu chuyện về bà cụ trên 70 tuổi bệnh chết nửa ngày rồi sống lại. Bà cũng không nói năng gì, thấy ai ăn gì là chạy đến giật lấy bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Có lúc bà ngồi tự gặm lấy tay mình đến tróc thịt bày gân xương ra trắng hếu, máu chảy ròng ròng mà bà ta còn tỏ vẻ ngon lành lắm. Cả nhà hoảng hốt băng bó cẩn thận, bà lại tiếp tục gặm đến tay kia. Đành phải trói bà lại vào thành giường và rước thầy pháp tới chữa. Rước đến cúng buổi sáng thì buổi tối trong nhà nghe tiếng khóc than rì rào không ai ngủ được. Quá sợ hãi, cả nhà bắt bà đem vào nhà thương điên, ba ngày sau bà chết…
Đó là những câu chuyện truyền miệng trong dân gian, yếu tố thực hư chưa phân biệt rõ. Tuy nhiên, cái mà ta cần biết không chỉ là chuyện kể. Sâu xa hơn là sự nghiên cứu tìm tòi về chủng loại này. Theo sở học cá nhân Thanh, quỷ nhập tràng xuất hiện là do bởi những yếu tố sau:
1/ Linh miêu nhảy qua xác chết:
Đây là giả thiết nhiều người truyền tụng nhất. Nhưng linh miêu là có thiệt. Nó là con của một con mèo mun cái bị rắn hổ ngựa quấn lấy vào ngày tết Đoan NGọ trong năm. Đặc điểm của linh miêu khác hẳn với những con mèo khác. Nó mình dài, đuôi dài, mõm dài hơn bình thường so với những con mèo khác. Cách bắt chuột của linh miêu cũng không bình thường. Nó thường leo lên xà nhà cao đứng trên đó nhìn xuống bằng đôi mắt sáng quắc như quan sát, nhìn ngó sinh hoạt của mọi người trong nhà. Nó không bắt chuột mà chuột tự bò ra nạp mạng như bị thôi miên. Từ trân xà nhà cao, nó lao xuống vồ chuột nhanh như chớp. Trong người linh miêu có một thứ từ điển ma mị, khi nó nhảy qua xác chết, sức mạnh ma quái của nó vô hình chung phá mở cánh cửa trung giới , lôi kéo các chủng loại nào đó về nhập xác mà sống dậy.
Những người Chăm gốc Chà ở quận 8, khi nhà có tang thường bắt hết chó mèo trong nhà trói gô lại hoặc nhốt chúng vào lồng thật kỹ lưỡng.
2/ Do thầy bùa trục luyện :
Ở vùng Trà Sư- Thất Sơn, có một số thầy tu luyện được pháp này. Không biết có giống với phép luyện cương thi bên Trung Quốc hay không nhưng hiện tượng thì không khác mấy. Nhửng chủng loại bên ngoài tá nhập vào thể xác đã chết rồi, làm việc theo sự sai luyện của thầy. Giống này, trong giới huyền thuật gọi là ĐUÔN. tại sao gọi là ĐUÔN? Giống như con đuôn ăn rỗng ruột đọt dừa , khi nhập vào xác chết, nó ăn lần trong ruột xác chết để kéo dài sự sống trên thế gian, ăn đến khi xác rỗng hoàn toàn thì người thầy tìm một xác mới để trục luyện chúng sang. Ph ép luyện này tàn độc, chỉ khi nào căm thù nhau lắm đến mức không đội trời chung,người thầy mới sử dụng. Buổi tối, thầy làm phép trục, ĐUÔN sẽ đến nhà kẻ thù của thầy để xé xác kẻ đó.Thanh có đọc được tài liệu trước 1975 về phép luyện này của một thầy phù thủy miền Bắc, muốn sai khiển được ĐUÔN, thầy phải giữ trái tim người chết thật kĩ, dùng trái tim ấy là vật sai khiến ĐUÔN. Chẳng may pháp đàn bị phá hủy, nạn nhân tiếp theo sẽ chính là người thầy tế
luyện. Làm phép này, người thầy đã bước một chân vào địa ngục rồi đó.
Trong một lần về núi, được nghe một thầy Chà kể lại rằng: Có một người bệnh nặng sắp chết, bác sĩ chẩn đóan ung thư đến giai đọan cuối không còn sống được quá 24 giờ. Cả nhà cuống cuồng, kẻ thì lo rước thầy, người thì lo hậu sự. Có một ông thầy đến xem và khẳng định sẽ kéo dài sự sống cho bệnh nhân đến khi con cháu ở nước ngoài về đủ. Sau khi làm phép, thầy lấy một số tiền rồi biến mất. Quả thật đúng như lời thầy, người bệnh khỏe mạnh trở lại, đi đứng như thường khác hẳn những ngày trước chỉ nằm 1 chỗ. Điều đặc biệt nữa là không nói không cười, ăn uống mạnh bạo chẳng khác gì thanh niên, lại thích ăn tiết canh, thịt bò tái. Đến khi con cháu nước ngoài về đầy đủ, người nhà cũng chẳng thấy vẻ gì là bệnh họan. Trải qua gần 1 tháng, một hôm có vị sư tu theo hạnh khất sĩ tình cờ khất thực ngang nhà, ông đứng ngó vào nhà chăm chú, không chịu bỏ đi cho dù người nhà đã cúng dường. Chờ đến giờ cơm, sư tự nhiên vào nhà hướng về người bệnh chắp tay lần thầm chú nguyện. Bỗng người bệnh bật ngửa ra đất chết tươi. Trong chốc lát, cả nhà bịt mũi chạy làng vì thân thể người bệnh chợt trường phình lên thối rữa nhanh chóng. Vị sư khi không gánh chuyện thế gian, bị người nhà bắt lại toan giải lên công an vì tội “giết người”…
Ông thầy muốn lấy le với gia đình, chắc chắn đã trục binh hoặc những vị bên trung giới vào giữ xác. Vô hình chung thể xác người bệnh biến thành quỷ nhập tràng. Nếu không có vị sư khất thực thì … không biết hậu quả sẽ ra sao.
3/ Người chết có uất khí, khi chết lại nhằm ngày giờ linh:
Trước khi chết, uất khí không tan, người chết không bao giờ chịu đi vào Âm Dương đạo. Thế nào cũng thành ma ở lại thế gian. Nếu chôn xác nhằm vào cuộc đất “có vấn đề” như đã trình bày ở trên, việc thành quỷ nhập tràng là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, loại này ở VN ít thấy ( hoặc có mà Thanh không biết).
Người chết đi vào ngày giờ linh nếu không bị thần trùng thì cũng làm quỷ, một trong những loại ấy là quỷ nhập tràng. Sự thật, hồn người chết đã đi mất từ bao giờ. Nhưng thể xác còn ở lại thế gian cho linh giới chiếm giữ. Người nhà không biết, cứ tưởng hòan dương, lo cung phụng tẩm bổ, chữa trị tiếp tục cho đến khi chân tướng thật của quỷ hiện ra.
Quỷ nhập tràng có những đặc điểm khá rõ. Sau đây là kinh nghiệm bản thân về chủng loại này:
- Xương sống của người nhập tràng thường cứng, nên thường ngồi không nằm. Đêm thức trắng không ngủ, mắt không bao giờ thấy nhắm dù ngày hay đêm.
- Người bị nhập, bước lên kẽm gai, miểng chai đâm lthủng thịt vẫn không hề hay biết, cảm giác.
- Ngồi nơi nào, thì sau khi rời đi, chỗ đó có nước vàng nhớt, hôi thối đọng vũng.
- Lấy gương để trước mặt người bị nhập, thì nó quay đi không dám ngó vào gương.
- Quỷ nhập tràng hay sợ tới gần bếp lửa đang cháy ( trong kinh nghiệm dân gian của Toan Ánh thì quỷ nhập tràng sợ nước), chúng ăn rất nhiều mà khi đi cầu vẫn còn nguyên tất cả vật thực. Có lẽ thể xác đã chết, các bộ phận không còn hoạt động nên không thển tiêu hóa được.
- Nhà có người bị quỷ nhập tràng thì bao giờ cũng có cảm giác lạnh, thoang thỏang mùi hôi thối, cho dù ở nhà có lau dọn xông hương cỡ nào đi nữa.
- Không giống các vị thần thường thích thể xác thanh tịnh, đồng nam đồng nữ, đối tượng nhập của quỷ nhập tràng thường là người lớn tuổi, có gia đình, thể xác bệnh họan uế trược.
- Nhà nào có hiện tượng này thì giai đọan đó gia đình làm ăn suy sụp, đỗ vỡ.
- Trong thời gian nhà có người bị, thức ăn rất mau thiu. Khi nấu nướng xong, khỏang 2 giờ sau là trở nên nhạt nhẽo, hư hoại, có mùi.
- Lúc người bị nhập đã chết hẳn, thì đêm đ1o trong nhà nghe như là tiếng mèo đuổi chuột, tiếng bình bông bị vỡ hoặc chén bát để trong kệ cũng tự nhiên vỡ nứt.
- Một điều quan trọng nhất là quỷ nhập tràng không sợ bùa chú, ngũ lôi hoặc binh gia. Chỉ có Mật chú của chư Phật hoặc có chư tăng đạo hạnh tụng kinh cầu nguyện nó mới xuất ra. Trước đây, Thanh và huynh đồng đạo Bửu Sơn đi chữa bệnh cho chị một đạo hữu. Đến nơi mới biết bà ta đã trở thành quỷ nhập tràng. Cứ kiếm xó tối mà ngồi, hai con mắt trong bóng tối sáng long lanh, không khí xung quanh hôi thối và lạnh lẽo…Hai đứa cứ làm phép trị tà nhưng chẳng thấy bà ta có động tĩnh gì. Thanh và huynh Bửu Sơn chuyển sang trì Đại Bi chú, công năng thấy rõ. Bà ta tỏ vẻ sợ hãi, bịt tai nép mình vào góc cầu thang… Một tuần lễ sau bà ta chết…
Những câu chuyện trên đây có sưu tầm, có thực tế. Những điều trải nghiệm chưa hẳn là chính xác hòan tòan. Rất mong các vị cao nhân hiểu biết hơn bổ sung kiến thức ngõ hầu cho mọi người được học hỏi.



dienbatn và Thanh Pa Li tại chùa Phật Thầy Tây An.

dienbatn giới thiệu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét