Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

LOẠT BÀI NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU VỀ CHÚA TRỊNH VÀ PHỦ TRỊNH. BÀI 2. Phủ Chúa Trịnh: Trung Tâm Quyền Lực, Biểu Tượng Của Một Thời Đại.

 LOẠT BÀI NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU VỀ CHÚA TRỊNH VÀ PHỦ TRỊNH. 

BÀI 2. Phủ Chúa Trịnh: Trung Tâm Quyền Lực, Biểu Tượng Của Một Thời Đại.

LOẠT BÀI NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU VỀ CHÚA TRỊNH VÀ PHỦ TRỊNH.

BÀI 2. Phủ Chúa Trịnh: Trung Tâm Quyền Lực, Biểu Tượng Của Một Thời Đại.

Trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của Đại Việt, thời kỳ Lê Trung hưng nổi bật với một thể chế chính trị độc đáo: "lưỡng đầu chế", nơi vua Lê chỉ còn danh nghĩa, còn quyền bính thực sự nằm trong tay các Chúa Trịnh . Biểu tượng rõ nét nhất cho quyền uy tuyệt đối của họ Trịnh chính là Phủ Chúa Trịnh (chữ Hán: 鄭王府 / Trịnh vương phủ), một công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga bậc nhất Thăng Long bấy giờ. Vốn mang nhiều danh xưng chính thức như Chính phủ, Soái phủ, hay Nội phủ, Phủ Chúa không chỉ là nơi làm việc mà còn là biểu tượng sống động cho sự thăng trầm của một dòng họ đã định đoạt vận mệnh Đàng Ngoài suốt hơn hai thế kỷ .

I. Từ Nền Móng Quyền Lực Đến Trung Tâm Chính Trị.

1. Bối cảnh hình thành và sự chuyển dịch quyền lực.

Sau khi giúp nhà Lê trung hưng đánh bại nhà Mạc và khôi phục kinh thành Thăng Long vào năm 1593, quyền lực của họ Trịnh ngày càng được củng cố. Năm 1599, Trịnh Tùng tự lập làm Đô nguyên soái, Tổng quốc chính, Thương phụ, Bình An vương . Với uy quyền ngày một cao, Trịnh Tùng đã yêu cầu vua Lê Thế Tông cho phép mở phủ Chúa và đặt quan thuộc . Vua Lê, trong tình thế bất đắc dĩ, phải chấp thuận, ban thêm cho Trịnh Tùng ngọc toản (chén ngọc), tiết mao (cờ lông) và hoàng việt (búa vàng) – những biểu tượng đặc quyền của vua chúa thời phong kiến.  

Từ thời điểm này, Phủ Chúa Trịnh chính thức được thiết lập và trở thành trung tâm thực sự của bộ máy nhà nước phong kiến . Mọi việc lớn nhỏ trong nước, từ của cải, thuế khóa, quân lính đến dân chúng, đều do Phủ Chúa tự quyết đoán. Triều đình vua Lê chỉ còn giữ danh nghĩa, không có thực quyền . Điều này dẫn đến một thực trạng đáng buồn: cung vua ngày càng hoang tàn, trong khi phủ chúa lại nguy nga tráng lệ.  

2. Bộ máy hành chính "lưỡng đầu" và sự lấn át của Phủ Chúa.

Ban đầu, hệ thống tổ chức chính quyền tại Phủ Chúa vẫn dựa theo quan chế thời Hồng Đức, có điều chỉnh để phù hợp với tình thế mới . Tuy nhiên, đến giữa thời Lê Trung hưng, khi các chúa Trịnh đã nắm hết quyền hành, họ đã thiết lập một hệ thống "Lục phiên" (bao gồm Lễ phiên, Lại phiên, Công phiên, Hộ phiên, v.v.) nằm trong phủ chúa, hoạt động song song và có vai trò quyết định hơn "Lục bộ" truyền thống của triều đình Lê. Cụ thể, vào năm 1718,   

Trịnh Cương đã đặt thêm Lục phiên tương đương với Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) bên phủ chúa, nhằm rút hết quyền hành của Lục bộ bên triều đình . Lúc này, Lục bộ của vua Lê chỉ còn mang tính hình thức, mọi công việc đều do Lục phiên đảm trách.  

Sự ra đời và phát triển của Phủ Chúa Trịnh là minh chứng rõ ràng cho sự chuyển dịch quyền lực từ vua Lê sang chúa Trịnh. Nó không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một thể chế chính trị, nơi mọi quyết sách quan trọng của Đàng Ngoài được ban hành. Sự đối lập giữa cung vua hoang phế và phủ chúa nguy nga đã phản ánh chân thực tình trạng "hữu danh vô thực" của nhà Lê và quyền uy tuyệt đối của họ Trịnh.

II. Vị Trí và Quy Mô Kiến Trúc Đồ Sộ.

Phủ Chúa Trịnh là một công trình kiến trúc đồ sộ, được xây dựng liên tục trong khoảng một thế kỷ rưỡi (từ 1592 đến 1749). Nó được xây bằng gạch, bao bọc nhiều cung điện, lầu các mà các đời chúa Trịnh đã lần lượt cho xây dựng .

1. Vị trí tại Thăng Long.

Theo các bản đồ cổ và thư tịch, Phủ Chúa Trịnh nằm ở phía Tây Nam hồ Gươm (hồ Tả Vọng) . Về vị trí cụ thể, có nhiều giả thuyết khác nhau. Giả thuyết được nhiều người tán thành nhất cho rằng phủ Chúa là một hình chữ nhật tương ứng với các phố ngày nay: hai bề dọc là hai đoạn đầu phố Bà Triệu và phố Quang Trung, hai bề ngang là hai đoạn giữa phố Hai Bà Trưng và Trần Hưng Đạo, ngõ-xóm Hạ Hồi . Khu vực nội phủ rộng lớn, ứng với các khu vực ngày nay bao gồm Bệnh viện Việt Đức, qua phố Tràng Thi, Thư viện Quốc gia, Tòa án Nhân dân Tối cao, phố Hỏa Lò tới giáp phố Thợ Nhuộm.  

Phía trên (phía trái mặt Đông phủ) có hồ Tả Vọng (Hồ Gươm), phía dưới là hồ Hữu Vọng (quãng từ các phố Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Vọng Đức, xuống tới các phố Lò Đúc, Hàn Thuyên và Hàng Chuối bây giờ) với ngụ ý hai hồ hướng về phủ chúa . Một số mô tả từ các lái buôn phương Tây còn cho thấy Phủ Chúa Trịnh dường như nằm ở ven sông Hồng, nơi thủy quân của vua Lê chúa Trịnh thường xuyên luyện tập . Đối chiếu các nguồn tư liệu, có thể đưa ra giả thuyết rằng quần thể Phủ Chúa Trịnh được xây trên một diện tích rất rộng, trong đó khu chính ở phía Tây Nam hồ Hoàn Kiếm, sau đó có thêm nhiều công trình kiến trúc tiến dần sang phía Đông và Đông Nam, sát bờ sông Hồng (trải dài trên một quãng từ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đến Bệnh viện Việt - Xô ngày nay).  

2. Cấu trúc và các công trình nổi bật.

Toàn bộ khu Phủ Chúa có hình vuông với tường thành bao quanh. Phủ có ba cửa chính: Chính môn (hay Chính Nam) ở phía Nam (khoảng phố Bà Triệu), Tuyên Vũ môn ở phía Đông (quay ra khoảng giữa hai hồ Tả Vọng và Hữu Vọng, gần lầu Ngũ Long), và Diệu Công môn (hay Diệu Đức) ở phía Tây (thông ra Cửa Nam kinh thành Thăng Long, là hướng giao lưu chính với Hoàng thành Thăng Long).

Xung quanh phủ và ven các hồ lân cận, nhà chúa cho xây dựng khá nhiều nguyệt đài, thủy tạ. Điển hình là Tả Vọng đình trên Gò Rùa (nền Tháp Rùa ngày nay), cung Khánh Thụy, và núi Ngọc Bội để tôn vinh võ công ở bờ phía Tây hồ. Nhà chúa cũng thường cho lập các trại thủy binh trên hồ, nên hồ Hoàn Kiếm còn được gọi là hồ Thủy quân .

Một công trình kiến trúc đặc biệt là lầu Ngũ Long, được chúa Trịnh Doanh cho xây dựng vào năm 1644 tại cửa ô Tây Long (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, gần Bưu điện Hà Nội). Lầu Ngũ Long cao chót vót ba tầng chính, năm tầng mái, cao khoảng 120 thước (tương đương 60m). Lầu được xây kiên cố bằng đá phiến lớn, có hai mặt thềm đá bậc lên tầng lầu, chính giữa là điện Quang Minh. Phần mái trên điện Quang Minh có năm tầng mái đắp năm con rồng nổi, thân vảy dát mảnh sứ Tàu vàng óng ánh, vây rồng bằng đá cẩm thạch màu. Khi mặt trời chiếu sáng, ánh nắng rọi vào mình rồng óng ánh như đang chuyển động. Lầu Ngũ Long không chỉ là công trình kiến trúc mà còn mang tính chất quân sự, phòng thủ vững chắc, với súng thần công được đặt ở thềm hai bên cửa. Đây cũng là nơi chúa ngự duyệt thủy quân, tổ chức lễ kỳ đạo, và là nơi các tân khoa thi Hương bái mạng chúa.  

Ngoài phủ, chúa Trịnh còn cho xây dựng những chuồng voi ước chừng có từ 150-200 con, hàng ngày được dẫn xuống sông để uống nước và tắm rửa. Các kho thuốc súng và bãi duyệt binh cũng được Dampier mô tả: "Đằng trước phủ chúa có một bãi rộng hình vuông cho quân lính luyện tập. Ở một bên có chỗ cho các quan ngồi xem quân lính luyện tập. Ở một bên khác có một kho súng ống và đạn đại bác" . Bãi cát duyệt binh này là địa điểm chính trong những ngày lễ Tế cờ và thi đấu võ .

III. Cấu Trúc Nội Phủ và Đời Sống Xa Hoa Bậc Nhất.

Phủ Chúa Trịnh thực sự là một "cõi tráng lệ chẳng kém gì cung vua" . Để bước vào phủ, trước tiên phải qua Chính môn, rồi đến cửa thứ hai là Cáp môn có xá nhân canh giữ. Tiếp đến là phủ Tiết chế, khu quân lính. Từ Cáp môn có Tiền mã quân túc trực tới đại điện. Sân điện rộng lớn nằm ở chính giữa, với thềm gác hai tầng bày nghi trượng, vũ khí, chiêng trống, nghi vệ. Phía sau là tòa Trung Đường, Nghị sự đường, Hậu đường, Tĩnh đường.  

Nội cung có lầu Ngũ Phượng, nơi Tuyên phi ngự, cùng với các hoa viên. Đường nối qua các cung là hành lang có điếm hậu mã quân túc trực, bao lơn lượn vòng kiểu cách tuyệt đẹp. Sau nội cung có Thái Miếu, nơi thờ phụng các tổ tiên Chúa Trịnh.  

Vườn Ngự uyển ở sau cùng của Vương phủ có nhiều hồ lớn, quanh bờ trồng nhiều cây cảnh kỳ lạ được thu thập từ muôn phương. Đường uốn lượn quanh co, giữa đất bằng có núi non ghép cảnh; lâu đài bên hồ có thạch kiều, liễu rủ; trong vườn có nhiều chim thú lạ.  

1. Những mô tả sống động từ người đương thời.

Sự xa hoa, tráng lệ của Phủ Chúa Trịnh được nhiều tác giả đương thời, cả trong và ngoài nước, ghi lại một cách chi tiết.

Samuel Baron, thương gia Anh Quốc đến Thăng Long năm 1680, mô tả: "Phủ Chúa ở Trung tâm thành phố Kẻ Chợ. Những dinh thự dành cho người nhà chúa được xây 2 tầng có nhiều cửa mở thoáng đãng. Các cửa đồ sộ, chạm trổ công phu và tất thảy đều làm từ gỗ lim. Các tư thất và cung dành cho phụ nữ đều lộng lẫy, xa hoa, có chạm trổ, sơn son thiếp vàng. Sân trước khu dinh thự có chuồng voi lớn và ngựa tốt, trong sân có nhiều vườn cảnh, khóm cây; lối đi có những chòi tháp nhỏ, ao cá và tất cả những gì chúa giải trí, vui chơi, mặc dù họa hoằn chúa mới đến đây thưởng lãm".  

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, danh y từng được chúa Trịnh Sâm vời vào phủ chữa bệnh cho vương tử Trịnh Cán, đã ghi chép đầy thán phục trong Thượng kinh ký sự (viết năm 1781) : "Tôi ngẩng đầu nhìn, thấy bốn bề tám phía chỗ nào cũng có cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua nở, gió thoảng hương trời. Hành lang, lan can quanh co, tiếp nối song song... Vòng quanh ước chừng một dặm, nơi nào cũng lầu đài, đình, gác, rèm châu cửa ngọc, ánh nước mây lồng, suốt lối toàn hoa cỏ kỳ lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp chim quý, nhảy nhót bay hót, giữa đất bằng nhô lên ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc ngang lạch nước quanh co, lại có lan can toàn bằng đá màu. Tôi vừa đi vừa ngắm, thực chẳng khác gì cõi tiên vậy". Ông còn mô tả bữa ăn sáng trong phủ với "chén bạc mâm vàng, các món ăn đều quý lạ" và cảnh nội cung với "màn gấm mở ra, vào bên trong thấy đen tối, không biết đâu là cửa ra, màn trướng thì hết lớp này đến lớp khác, mỗi lớp đều có thắp một ngọn nến để dẫn đường... cung nhân đứng xúm xít với nhau, nến sáng lụa che, mặt phấn áo hồng, lóng lánh mọi vẻ; mùi hoa thơm chan hòa khắp nhà" .

Tuy nhiên, Thượng kinh ký sự cũng cho thấy sự đối nghịch rõ rệt giữa cuộc sống xa hoa, lầu son gác tía của cung vua phủ chúa và cảnh đời đói kém, lầm than của nhân dân. Lê Hữu Trác, một người không màng danh lợi, đã thể hiện tấm lòng mong muốn thoát khỏi vòng công danh phú quý, trở về với núi cũ non xưa.  

Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong Tang thương ngẫu lục cũng khắc họa chi tiết đời sống xa hoa trong phủ chúa, đặc biệt là thú chơi kỳ hoa dị thảo và các lễ hội. Chúa Trịnh cho thu thập "bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian" . Thậm chí, có khi phải "phá nhà hủy tường để khiêng ra" những hòn đá hoặc cây cối quá lớn . Bọn hoạn quan và cung giám lợi dụng việc này để dọa dẫm, cướp bóc dân chúng, buộc họ phải "chặt cây, phá cảnh, giết chim để tránh khỏi tai vạ".  

Phủ chúa Trịnh ngày thường đã là bậc kỳ quan kiến trúc, nhưng đến ngày lễ hội thì vẻ đẹp xa hoa của nơi đây mới thực sự bộc lộ hết. Nguyễn Án tả: "Mỗi năm đến tết Trung thu, từ trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm, hàng nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng". Đến ngày chúa ngự chơi Bắc cung, cung có ao Long Trì rộng nửa dặm, trồng sen, súng, ven ao đắp núi non, treo đèn phù dung. Nội thị từ tam phẩm trở lên, "chít khăn mặc áo như đàn bà, bày hàng ở rìa đường, bán những tạp hóa cùng các đồ hoa quả, chả, rượu, thức gì cũng có, chồng chất như núi" . Nửa đêm chúa ngự thuyền trên ao, nghe nhạc, ca hát, "tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên chơi cung Quảng Hàn mà nghe khúc nhạc Quân Thiên. 

2. Triết lý và tầm nhìn qua các câu đối.

Các câu đối được ghi chép bởi Tây Sơn Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thì Nhậm tại Phủ Chúa Trịnh không chỉ là những áng văn chương mà còn phần nào thể hiện triết lý cai trị và tầm nhìn của các chúa.

Tại phủ đường, câu đối như:

"Bách tính tổng ngô bào, biến chiếu vô tư, quang thị chúc" (Trăm họ đều là đồng bào ta, vô tư khắp soi, sáng trưng là đuốc)

"Dân khả cận, bất khả hạ, nghiễm nhiêm hiên bệ kiến mao từ" (Dân nên gần, không nên hạ thấp, nghiễm nhiên ở nơi hiên bệ, phải thấy được chốn nhà tranh)

"Vạn lý phụng minh uy, phiên khổn cận chiêm hoa ngạc nhĩ" (Muôn dặm vâng quyền uy sáng ngời, chốn phiên khổn những xem hoa ngạc gần gũi)

"Tứ thì tuyên nhã hoá, ti luân dao ngưỡng thái vân lai" (Bốn mùa tuyên giáo hoá phong nhã, tờ chiếu chỉ xa đón vẻ mây lành tới gần)

"Học yên tân hựu tân, quân tử cập thì tu đức nghiệp" (Học sao đã mới lại càng mới, người quân tử phải kịp thời tu rèn đức nghiệp)

"Chính giả chính bất chính, vương thần cư tác thủ di chương" (Chính là sửa ở chỗ không thẳng, làm cho thẳng, đấng vương thần ăn ở, việc làm nên giữ phép thường)

Những câu đối này cho thấy một mặt, các chúa Trịnh muốn thể hiện sự quan tâm đến dân chúng, coi dân như đồng bào, và nhấn mạnh vai trò của người cai trị trong việc gần gũi dân, sửa đổi những điều sai trái. Mặt khác, chúng cũng khẳng định quyền uy và sự ảnh hưởng rộng khắp của phủ chúa, với các phiên trấn xa xôi cũng phải tuân phục và ngưỡng vọng. Đồng thời, các chúa cũng đề cao việc học tập, tu dưỡng đạo đức và giữ gìn phép tắc, thể hiện mong muốn xây dựng một nền cai trị vững mạnh dựa trên Nho giáo.

IV. Hành Cung Phủ Trịnh tại Biện Thượng: Quê Hương Tổ Tiên.

Ngoài Phủ Chúa Trịnh đồ sộ ở Thăng Long, các chúa Trịnh còn cho xây dựng một hành cung quy mô khá hoàng tráng tại Biện Thượng (nay là xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) – quê hương của chúa tiên khởi Trịnh Kiểm . Hành cung này được xây dựng trên khoảng đất rộng khoảng 10ha, gồm nhiều khu vực: Từ phủ (nơi chúa làm việc, tiếp khách), Nội phủ (nơi ở của nhà chúa), khu làm việc của các quan, khu thờ cúng, khu vườn hồ thưởng ngoạn, và khu giải trí .

Mục đích của việc xây dựng hành cung này là để các chúa Trịnh thi thoảng về bái yết tiên tổ sơn lăng, đồng thời tiện thể nghỉ ngơi và điều hành công việc ngoài Phủ Chúa Thăng Long theo kiểu chạy ngựa trạm . Để xây dựng công trình này, các chúa Trịnh đã huy động những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất về thiết kế, chạm trổ, sơn son thếp vàng, điêu khắc, hội họa .

Ngày nay, tại Biện Thượng vẫn còn di tích Phủ Trịnh – Nghè Vẹt. Sau nhiều năm xập xệ, dột nát, Phủ Trịnh tại quê tổ đã được phục dựng 7 gian như hiện tại, một phần nhờ kinh phí nhà nước và một phần nhờ sự xã hội hóa của dòng họ Trịnh .Đặc biệt, 11 pho tượng các chúa Trịnh (từ Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng đến vị chúa cuối là Án Đô vương Trịnh Bồng, không kể tượng Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm có từ trước) đã được hậu duệ dòng chúa Trịnh Căn là cụ Trịnh Doanh (quê Yên Lộ, Hà Đông) chủ sự công trình chế tác và rước về an vị tại quê tổ vào năm 2005 .

Sự tồn tại của hành cung tại Biện Thượng cho thấy các chúa Trịnh không chỉ tập trung quyền lực ở kinh đô mà còn duy trì mối liên hệ sâu sắc với cội nguồn, thể hiện sự coi trọng tổ tiên và truyền thống dòng họ.

V. Sự Hủy Diệt và Di Sản Còn Lại.

1. Vụ hỏa hoạn lịch sử năm 1787.

Không có gì là tồn tại mãi mãi, và Phủ Chúa Trịnh cũng không ngoại lệ. Năm 1786, khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, chúa Trịnh Khải đã phải bỏ mạng . Sau khi quân Tây Sơn rút về, Trịnh Bồng, anh họ chúa Trịnh Sâm, cố gắng níu kéo cơ đồ họ Trịnh . Tuy nhiên, đến năm 1787, khi họ Trịnh thất bại hoàn toàn trong việc khôi phục lại địa vị, Trịnh Bồng chạy khỏi kinh thành .

Trong bối cảnh hỗn loạn đó, vua Lê Chiêu Thống đã ngầm sai người phóng hỏa đốt hết Phủ Chúa. Đám cháy lan khắp hai phần ba kinh thành Thăng Long và cháy trong mười ngày liền mới dứt. Đây được coi là vụ hỏa hoạn lớn nhất trong lịch sử kinh thành Thăng Long, thiêu trụi cả một quần thể kiến trúc nguy nga, lộng lẫy, bề thế của các đời chúa Trịnh, biến chúng thành tro bụi.  

 Sách Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi lại sự kiện này một cách đầy tiếc nuối: "Sớm hôm sau, hoàng thượng mới biết là Án đô vương đã trốn đi lúc ban đêm tức thì ngầm sai người phóng hoả đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt" . Người đương thời còn có câu mỉa mai về việc này và việc Lê Chiêu Thống cho vét chuông đồng, tượng đồng ở các chùa để đúc tiền: "Thiên hạ thất tự chung, chung thất, nhi đỉnh an tại! Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần, tức điện diệc không!" (Thiên hạ mất chuông chùa, chuông đã mất, vạc dựa vào đâu. Hoàng thượng thiêu phủ Chúa, phủ bị thiêu, điện trơ ra đó) Lầu Ngũ Long cũng bị phá hủy trong đám cháy này.  

2. Di sản và ý nghĩa lịch sử.

Sự hủy diệt của Phủ Chúa Trịnh là một mất mát lớn về kiến trúc và văn hóa. Tuy nhiên, di sản của nó vẫn còn hiện hữu trong các ghi chép lịch sử, văn học và trong ký ức dân gian. Phủ Chúa Trịnh không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng của:

Quyền lực thực tế: Nó minh chứng cho quyền uy tuyệt đối của họ Trịnh, những người đã nắm giữ vận mệnh Đàng Ngoài trong hơn hai thế kỷ, vượt lên trên danh nghĩa của vua Lê.

Sự phát triển kiến trúc và nghệ thuật: Phủ Chúa là đỉnh cao của kiến trúc cung đình thời Lê Trung hưng, phản ánh sự tài hoa của các nghệ nhân Việt Nam trong việc xây dựng, chạm khắc, và trang trí.

Sự đối lập xã hội: Qua các mô tả về sự xa hoa trong phủ và cảnh đời cơ cực bên ngoài, Phủ Chúa Trịnh còn là một minh chứng cho sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc trong xã hội phong kiến cuối thời Lê Trung hưng.

Bài học lịch sử: Sự sụp đổ của Phủ Chúa, cùng với sự suy tàn của họ Trịnh, là một lời nhắc nhở về quy luật thịnh suy của các triều đại, đặc biệt khi quyền lực bị lạm dụng và đời sống xa hoa lấn át trách nhiệm cai trị.

Ngày nay, dù Phủ Chúa Trịnh không còn, nhưng những dấu tích và câu chuyện về nó vẫn là một phần quan trọng của lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Các địa danh như khu vực Bệnh viện Việt Đức, Thư viện Quốc gia, Tòa án Nhân dân Tối cao, phố Hỏa Lò, Thợ Nhuộm vẫn nằm trên nền đất xưa của phủ. Việc phục dựng và thờ cúng các chúa Trịnh tại quê tổ Biện Thượng cũng là một nỗ lực đáng trân trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của dòng họ này.  

Xin theo dõi tiếp bài 3. Cảm ơn các bạn đã theo dõi. Thân ái. Điện bà Tây Ninh.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét