ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI. BÀI 2

3/08/2011 |
ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI. BÀI 2

ĐỊA MẪU CHƠN KINH.
( Dịch giả LÊ CÔNG ĐỒNG )








DÂNG HƯƠNG
Khói hương xông thấu mấy tầng xanh
Rốt ráo tâm con bổn nguyện lành
Trên khói hương này xin Mẫu ngự
Chứng minh con trẻ tấc lòng thành.
Nam mô hương cúng dường Phật Mẫu chứng minh
LỄ PHẬT

Kính lạy Phật từ bi quảng đại
Vì chúng sanh muôn loại đảo điên
Luân hồi khổ não triền miên
Mới dùng phương pháp giải phiền nơi tâm.LỄ PHÁP

Kính lạy Pháp nguồn ân chưa trả
Nẻo quang minh mô tả rõ ràng
Vì đời lắm kẻ lầm than
Nên thuyền Bát Nhã sẵn sàng đợi đưa.
LỄ TĂNG

Kính lạy Tăng là người chí cả
Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu
Vô minh nên mới lo âu
Rọi đường cứu khổ dẫn đường chúng sanh.
• Con nhất tâm đảnh lễ Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh (1 lạy)
• Nam mô Hội Thượng Phật chứng minh (1 lạy)
• Nam mô Tam Bảo Đạo Tràng chứng minh (1 lạy)
• Nam mô con nhất tâm đảnh lễ Tổ Thầy chứng minh (1 lạy)
PHỤC NGUYỆN

Hoàng Mẫu chân kinh, cầu nguyện Tam cõi cộng đồng,
Thánh Thần Tiên Phật nghe nguyện:
Này xin vui hỷ lạc thanh tịnh trang nghiêm,
Cầu cho quốc thái, dân an, thế giới thái bình an lạc xứ. (1 lạy)
Cầu cho chúng sanh nhân loại được ấm no,
Phước Lộc Thọ đủ đầy, thoát ách, tiêu tai, nạn khỏi, tật bịnh tiêu trừ. (1 lạy)
Cầu nguyện cho Phật tử nam nữ trẻ già trên non, dưới thế,
Theo Mẹ tu hành tinh tấn tâm lành sáng suốt, hiếu đạo vẹn toàn với Mẹ,
tu cho đến ngày thành Phật đạo bất thối tâm. (1 lạy)
Cầu nguyện cho Cửu huyền Thất tổ, ông bà cha mẹ,
lục thân quyến thuộc, âm siêu dương thái, đặng nghe lời của Mẫu,
dứt tâm mê muội, xa lìa tội ác, hồn linh siêu thoát,
sớm nơi Tây vực, an vui mùi Phật đạo. (1 lạy)
Thành tâm khẩn nguyện, nhờ oai linh nhiệm mầu của Mẫu Kim Quang,
vận chuyển gia đình hưng thònh quyến thuộc tăng phước hoàn viên,
Phước Lộc Thọ miên trường, sở nguyện sở cầu như ý. (1 lạy)
• Nam mô Phật Mẫu chứng minh (1 lạy)
• Nam mô Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh (1 lạy)
• Nam mô Diêu Trì cung, Hội Mẫu chứng minh (1 lạy)
ĐỊA MẪU CHÂN KINH
GIẢNG KINH và TỤNG NGHĨA

Dịch giả Lê Công Đồng
VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
Phật Địa Mẫu ngự trên cõi Thượng Tầng tối cao đặt quyển Chân Kinh đặng khuyên răn đời, dưỡng dục đời và bảo toàn tánh mạng cho tất cả người đời.
XƯNG TÁN ĐỊA MẪU
Địa Mẫu đấng tối cao giác ngộ
Điển linh quang tế độ chúng sinh
Hỡi ơi chớ có lạc lầm
Lời vàng châu ngọc chỉ rành nẻo tu
Cõi trần thế mịt mù tăm tối
Phải nghe lời Mẹ thuyết chân kinh
Chớ ham vật chất lụy phiền
Sớm mau thức tỉnh Mẹ ban phước lành.
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH ( 3 biến )

CÚNG HƯƠNG
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH ( 3 biến )Đốt hương trầm thấu đến Diêu Cung
Thành tâm khẩn nguyện Đức Mẫu Từ
Trên khói hương này Kim Mẫu Ngự
Cảm ứng chứng minh tấc lòng thành
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINHKhai đuốc huệ tâm đăng tỏa sáng
Trăm ngàn muôn kiếp dễ gặp đâu
Hạ nguyên kỳ ba Long Hoa Hội
Mẹ ban điển lành mới rõ thông.
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH ( 3 biến )
SÁM KINH ĐỊA MẪU
DÂNG ĐĂNG
Dâng đuốc thiêng thành tâm kính Mẫu
Ngọn linh đăng soi thấu mười phương
Điển quang tỏa ánh chiêu dương
Cầu xin Từ Mẫu Tây Phương chứng đàn
Mẹ giáng thế độ an non nước
Chuyển huyền linh ban phước vạn dân
Nguồn thương sầu đọng bâng khuâng
Nhìn đăng lòng tưởng Mẹ gần bên con
Xưa Mẫu ngự chim loan tại miếu
Tỉnh Thiểm Tây huyền diệu ứng linh
Bút cơ Mẹ thảo tâm kinh
Lời châu chép lại tâm tình Mẫu thương
Nhìn biển cả trùng dương nước biếc
Tiếng khổ sầu tha thiết lòng đau
Mẹ trông từng lượn sóng ào
Bao nhiêu sóng lượn nghẹn ngào bấy nhiêu
Cảnh dương trần gặp nhiều gian khổ
Mẹ sáng khai hóa độ khắp nơi
Núi sông vũ trụ đất trời
Chính do Hoàng Mẫu tạo đời an vui
Con trẻ nguyện sớm chiều tu niệm
Ngày lẫn đêm lo kiếm hạnh con
Dâng đăng Mẹ chứng lòng son
Vạn dân bá tánh nước non thanh bình.
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
DÂNG HƯƠNG
Ngày kỷ niệm trăng mười thập bát
Gió đông về ngào ngạt nguồn thương
Chốn trần trẻ dại dâng hương
Thỉnh cầu Từ Mẫu Tây Phương chứng đàn
Dâng nén hương lời vàng cung kỉnh
Tiếng trẻ thơ nguyện thỉnh Mẹ hiền
Lạy cầu vọng thấu Cung Tiên
Nơi Tây Vương Mẫu diệu huyền chứng minh
Mẹ thương con thâm tình muôn thuở
Đạo hoằng truyền rộng mở khắp nơi
Gắng tu thoát tục xa đời
Quê Tiên chốn cũ là nơi trở về
Nhìn quang cảnh sơn khê non nước
Cõi giới ba hưởng phước Mẹ ban
Chính do Hoàng Mẫu thỉnh an
Độ cho sinh chúng một đàng chinh tu
Làn khói bạc ngút mù bay tỏa
Tâm hương thành hiện rõ Diêu Cung
Đài hương Mẹ ngự không trung
Thức tâm kẻ thế soi chung gương hiền
Tam nhật mậu có siêng bái Mẫu
Tiếng chuông ngân gợi nỗi nhớ thương
Con quỳ dâng chén tâm hương
Lạy Mẹ phủ Đức thập phương an lành.
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
DÂNG TRẦM
Nhìn khói trần hương bay tỏa
Nhớ Mẫu hiền lệ nhỏ dòng châu
Đàn con tha thiết nguyện cầu
Mẫu Từ phủ điển nhiệm mầu chứng minh
Chốn trần miền cung nghinh đại lễ
Kỷ niệm ngày giáng thế Từ Tôn
Thượng tầng Mẹ phủ càn khôn
Chuyển khai hoằng đạo pháp môn hạnh từ
Đọc kinh Mẫu lòng như sao xuyến
Gởi tâm thành thăm viếng Mẫu thân
Chuông chùa vang tiếng xa ngân
Chạnh lòng con trẻ tuôn dầm lệ sa
Khói hương trầm thiết tha theo gió
Áng mây lành hiện rõ huyền vi
Con nguyện kiếp kiếp tu trì
Nương về theo bóng từ bi Mẫu Hoàng
Cầu lệnh Mẹ chuyển an non nước
Điển Mẫu Từ ban phước chúng sinh
Trần gian biết nẻo tu hành
Nhờ đèn trí huệ phúc lành Mẹ ban
Tầm chánh giác đạo vàng rực rỡ
Hạt Bồ Đề nảy nở rừng cây
Am thiền nối nghiệp thang mây
Điển thiêng Mẹ chứng nhật nay kinh đàn
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
DÂNG HOA
Hoa tươi thắm kính dâng Từ Mẫu
Gió hương lành nhẹ thổi mười phương
Dập đầu lạy Mẹ xót thương
Chứng lòng con trẻ cúng dường dâng hoa
Lời van cầu thiết tha ai oán
Chốn dương trần tợ áng phù vân
Chúng sanh đau khổ vô ngần
Thành tâm lạy Mẹ gội lần tội xưa
Ngày kỵ mậu sớm trưa bái Mẫu
Tiếng chân thành vọng thấu Diêu Cung
Gắng tu noi chí bá tùng
Bồ Đề hạnh nguyện thơm chung hương lành
Điển huyền linh phủ quanh bao khắp
Nhớ Mẫu hiền con chắp tay cầu
Lạy mẹ độ hết năm châu
Cầu xin sanh chúng sớm hầu Diêu Cung
Người chốn thế hiếu trung trọn giữ
Hội Long Hoa Mẫu Tử tương phùng
Hương lành thơm ngát lạ lùng
Bồ Đề nở rộ tại cung Diêu Trì
Hoa thơm ngát con quỳ dâng lễ
Lạy Mẫu thương giáng thế chứng minh
Tay ngà dâng đóa hoa xinh
Thỉnh cầu Mẹ giáng điển linh chứng đàn
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
DÂNG QUẢ
Quả tươi xanh tâm thành cung kính
Tiếng trẻ khờ nguyện thỉnh từ tôn
Điển linh phủ khắp càn khôn
Chuyển khai đại đạo tiếng đồn vang xa
Tụng kinh Mẫu gia gia an ổn
Mẹ giáng trần hỗn độn sơ khai
Lời châu ghi lại trần ai
Là do huyết mạch phi tài Từ Tôn
Oai linh Mẫu bao gồm vũ trụ
Dưỡng nuôi con hấp thụ điển thiêng
Phước Tài Lộc Thọ triền miên
Dân lành nước thinh nhà yên thanh bình
Tam nhật mậu trì kinh Địa Mẫu
Chúng sinh đều số đổi nhàn thanh
Mùa màng sung túc tươi xanh
Quả hoa thơm ngát hương lành từ bi
Thâm ân Mẹ khắc ghi sanh sử
Kỷ niệm ngày Mẹ ngự không trung
Dập đầu bái tạ Vương Cung
Độ an sinh chúng tao phùng Long Hoa
Kính lạy Mẫu thiết tha lời trẻ
Dâng quả tươi thỉnh Mẹ chứng tri
Dập đầu lạy đức Diêu Trì
Độ an sinh chúng cứu nguy dân lành
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
DÂNG THỦY
Cung kỉnh dâng thủy thành thơm ngát
Nhớ trăng mười thập bát hằng niên
Đúng ngày giáng thế Mẫu hiền
Thủy thanh bát ngọc khẩn nguyền cung nghinh
Đàn con trẻ quỳ xin Mẹ chứng
Độ dân lành bền vững tâm tu
Sơn khê rảo bước ngao du
Vào nơi biển thánh rừng nhu tu hiền
Dâng thủy thơm kiền thiền vọng bái
Điển Mẫu Từ phủ rải khắp nơi
Mẹ thương dưỡng dục khuyên đời
Ngự nơi thượng cõi ban lời ngọc châu
Mẹ truyền pháp nhiệm mầu phản chiếu
Cứu đàn con tận hiếu tận trung
Nguồn thương Mẹ phủ ngàn trùng
Suối lòng ngào ngạt ban chung con lành
Chính Mẹ tạo non sông xanh tươi thắm
Biển sông sâu thăm thẳm trùng khơi
Hoằng khai đại địa khắp nơi
Kẻ từ vô thỉ đến thời thọ thiên
Tâm kinh Mẫu lời khuyên lai láng
Điển huyền linh tỏa sáng mười phương
Tay dâng bát ngọc trà hương
Thành tâm lạy Mẹ xót thương chứng đàn
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
ÐỊA MẪU KINH
Phủ Hớn Trung nơi huyện Thành Cổ
Tỉnh Thiểm Tây miếu cổ ứng linh
Thượng tầng tỏa ánh quang minh
Chim Loan Mẫu ngự truyền kinh răn đời.
Kim ngôn Mẹ đây lời mạch huyết
Ðức Từ Tôn tha thiết khuyên con
Hiếu trung giữ vẹn cho tròn
Mẹ hiền phủ điển bảo toàn chúng sanh.
Tam nhựt Mậu tâm thành kỉnh Mẫu
Tấm lòng son vọng thấu Diêu Cung
Gia gia sum họp trùng phùng
Dân an Quốc thới hưởng chung thanh bình.
Mùa màng được tươi xinh sung túc
Mẹ độ con từng phút từng giây
Núi sông vũ trụ đó đây
Chính do Hoàng-Mẫu dựng gầy tạo nên.
Linh điển Mẹ dưới trên phân rõ
Tam chơn kinh Mẹ tỏ lời châu
Hoằng khai đại đạo nhiệm mầu
Hóa sanh bốn biển năm Châu tươi nhuần.
Phật Mẫu ngự thượng từng độ thế
Ðiển chơn linh phước huệ rải ban
Tâm kinh Mẫu dạy rõ ràng
Con lành hiếu thảo đàn tràng cung nghinh.
Phước Lộc Thọ hiển vinh do Mẫu
Trọn đủ thời Kỵ-Mậu hằng niên
Dân an nước thạnh nhà yên
Lời châu Mẫu dạy gắng chuyên tu trì.
Thơ thâm diệu huyền vi cơ bút
Mẹ truyền Kinh dưỡng dục chúng sanh
Xưa vua Bàn-Cổ phong danh
Diêu-Trì Phật Mẫu hóa sanh muôn loài.
Chơn linh Mẫu xét soi vũ trụ
Ðiển âm dương kết tự anh-nhi
Thượng tầng Mẫu ngự phương phi
Phân ra Thiên Ðịa trị vì chúng sinh.
Ðịa-Mẫu truyền chơn Kinh tâm huyết
Khí âm dương hội hiệp cùng nhau
Mưa hòa gió thuận tươi màu
Hóa sanh nhơn loại ngạt ngào chơn thân.
Vậy ai mới bước lần đường đạo
Phải giữ lòng hiếu thảo trì Kinh
Lời châu Mẹ dạy huyền linh
Hoàng-Thiên xá tội hiển vinh thanh nhàn.
Cầu lịnh Mẹ bảo toàn sanh chúng
Ðộ nhân sanh giữ đúng hạnh Tiên
Từ đây Thiên Ðịa phân riêng
Âm dương chơn khí linh nguyên chẳng rời.
Nhựt Nguyệt Tinh phương trời sáng tỏa
Máy huyền vi hiện rõ thần thông
Mẹ phân nam bắc tây đông
Bốn phương tám hướng bao vòng Càn Khôn
Ðiển Thiêng Mẹ bảo tồn vĩnh cửu
Chốn trung ương Mẹ thủ địa châu
Linh quang chiếu sáng nhiệm mầu
Thiên Tiên bảo dưỡng gồm thâu nhơn lành.
Phu quân Mẫu trường sanh bất lão
Tài cao minh sáng tạo huyền vi
Thiên lung địa á diệu kỳ
Tri âm phối hợp phục quy Diêu Ðài.
Thiên Ðịa lập âm lai dương khứ
Khí thần giao giờ giữ điển linh
Ðất trời do tạo hóa sinh
Pháp luân thường chuyển siêu hình căn nguyên.
Chính Mẹ tạo tôi hiền chúa thánh
Phủ điển linh chơn tánh tâm thanh
Chẳng ngừng hóa hóa sanh sanh
Thiên Can thường chuyển vận hành địa chi.
Thần với khí tựu thì thai thánh
Mẹ cưu mang canh cánh thập niên
Tình thâm mẫu tử thiêng liêng
Mười thu đúng nhựt chia riêng quẻ hào
Trong bát quái phân vào tám hướng
Tám quẻ do mỗi hướng định ra
Sáu hào một quẻ đó là
Ba trăm tám bốn tẻ ra các hào.
Trúc cơ mãn nguyệt vào giờ đúng
Thập niên trường chuyển dụng Thánh thai.
Minh quân xuất thế trần ai
Sáu vì Thiên tử phi tài huyền quang.
Mẹ phân vua Thiên-Hoàng con trưởng
Ðến Ðịa Hoàng Mẹ thưởng thứ hai
Nhơn Hoàng tam đệ thiên tài
Còn ba vị nữa phân rày sau đây:
Vua Phục Hy, ngài hay biến hóa
Bát quái phân phát họa hiển linh
Chỉ rành tám hướng thinh thinh
Âm dương vũ trụ quang minh phân bày.
Vua Thần Nông phi tài ngũ cốc
Sắc lịnh gieo châu ngọc khắp nơi
Ðó là hạt giống của Trời
Sanh ra lúa gạo giúp đời an khang.
Vua Hiên Viên tạo ban y phục
Ðem ấm no hạnh phúc vạn dân
Lưu truyền cơm áo chốn trần
Ðể cho người thế tâm thân thanh nhàn.
Vũ trụ do Mẫu-Hoàng xuất phát
Mẫu tạo ra Bồ-Tát, Thần, Tiên
Thượng từng bao phủ điển thiêng
Chẳng rời xa khỏi Mẫu hiền dưỡng sanh.
Nhìn biển cả trời thanh nước biếc
Khắp bốn mùa tám tiết trở xây
Gió ngàn tỏa lượn tầng mây
Hóa sanh nhơn loại cỏ cây thú cầm.
Có ngũ nhạc bổng trầm ngân trỗi
Khắp muôn nước Từ mẫu dưỡng sanh
Các đời vương đế đại danh
Từ trong thân Mẫu trưởng thành mà ra.
Danh lam có năm tòa thắng cảnh
Chốn lâm sơn tuyết lạnh sương rơi
Có cây cổ thụ sống đời
Sắc dân trăm họ do nơi Mẫu thành
Năm giống lúa tươi xanh vun dưỡng
Sáu thứ gạo dành thưởng nhơn sinh
Nhân dân no ấm hiển vinh
Sống nhờ điển Mẹ huyền linh phủ đầy
Khi lìa thế gởi thây thân Mẫu
Sự hóa sanh dời đổi vô thường
Thân Mẹ là chỗ tựa nương
Từ-Tôn Ðịa-Mẫu nguồn thương ngập tràn
Nào châu, quận, thôn, làng, tỉnh, huyện
Kìa lâu đài cung điện nguy nga
Am, chùa, quán xá lập ra
Hiền, Thần, Tiên, Thánh Mẹ đà thưởng phân
Chư Phật đắc kim thân do Mẫu
Cả trân châu ngọc bửu đó đây
Thiếu chi kẻ ước việc này
Lòng tham mơ tưởng mấy ai đạt thành.
Loại kim khí bạc vàng quí báu
Tất cả do Mẫu tạo xuất ra
Vương hầu vạn quốc gia gia
Cũng do lịnh Mẹ ban ra tôn sùng.
Người chốn thế hiếu trung hưởng phước
Bao huyền linh sau trước Mẹ ban
Dân an quốc thới thanh nhàn
Ðế-Vương cung kỉnh Mẫu-Hoàng Từ-Tôn
Nước nào bị dập dồn chinh chiến
Cũng do nơi Mẫu chuyển phạt hành
Vậy ai nào biết đến danh
Huyền linh quang điển Mẹ dành đó đây.
Có tạo lảnh the đầy lụa vải
Cùng quả hoa rau cải trái cây
Nào là chua ngọt đắng cay
Lúa ăn thuốc uống rừng cây ai tường.
Hành, ớt, hẹ, gừng, đường, tiêu, tỏi
Khắp nhơn sinh ai khỏi bệnh đâu
Hóa sanh linh dược nhiệm mầu
Cao lương mỹ vị thiếu đâu vật nào.
Lại có dấm, chanh, dầu, tương, muối
Suối nào bằng nguồn suối tình thương
Mẹ ban trăm vạn mùi hương
Lao tâm tổn huyết đoạn trường vì con.
Công lao Mẹ bút son khó tả
Tình bao la biển cả khó hơn
Khổ đau Từ-Mẫu chẳng sờn
Nỡ nào quên dứt nghĩa ơn cho đành.
Vật ăn uống Mẹ dành con đó
Sản phẩm do Mẹ hóa tạo ra
Cân đai áo mão phù hoa
Bạc tiền vật dụng biến ra hằng ngày.
Mẹ chẳng thấy một ai lòng tưởng
Thân Mẫu sanh ban thưởng khắp nơi
Vật chi chẳng sót trên đời
Mẫu không nghe có một lời nhớ thương.
Trong vũ trụ tuần huờn tạo hóa
Do Mẫu sanh ra quả địa cầu
Biến dành sáu ngã luân hồi
Biết bao sản vật hoa màu tốt xinh.
Kẻ thế đâu rõ tình thâm Mẫu
Dầu Hoàng-Thiên khó nỗi sánh hơn
Trên trời mưa đổ từng cơn
Dưới đất Mẹ hóa huyền chơn phép mầu
Giòng mưa tuôn ngọt ngào cam-lộ
Ngũ cốc dành hóa độ nhơn sanh
Cỏ cây tươi tốt hương thanh
Ðịa châu thấm giọt mưa lành phì nhiêu.
Chính hơi nước thâu nhiều mạch huyết
Bao tinh vi sương tuyết giá băng
Ðài mây gom tựu phủ giăng
Gặp luồng quang điển biến tan mây liền.
Mưa tuôn xuống trần miền tỏa khắp
Cù-rồng kia trốn nấp ngàn sông
Lãnh phần vận chuyển gió giông
Mẹ truyền hoán võ hô phong ứng hầu.
Cù-rồng ở xứ nào chẳng có
Ẩn biển sâu làm gió chuyển mây
Ðều do lịnh Mẹ phán bày
Ơn trên chiếu triệu dám rày cãi đâu.
Muôn thu vẫn nằm sâu lòng đất
Mẹ dưỡng nuôi âm chất hoằng khai
Nhọc nhằn nào quản đắng cay
Ðiển quang huyền diệu đêm ngày dưỡng sanh.
Chốn dương trần con lành tọa hưởng
Bao nhiệm mầu Mẹ thưởng hồng ân
Tất cả do lịnh Mẫu phân
Công dày chẳng thấy người trần ghi tâm.
Mẹ thương con dạ thầm đau thắt
Chẳng bao giờ nhắm mắt nghỉ đâu
Ðiển quang nếu Mẹ rút thâu
Càn Khôn, vũ trụ, địa cầu tiêu tan.
Khi cá ngao trở ngang vùng vẫy
Thiên địa đành chịu phải rã đôi
Dương trần như thể bèo trôi
Cảnh đời trống rỗng thảm sầu nạn tai.
Ngoại Càn Khôn Như-Lai tạm ẩn
Chư Bồ-Tát tàn lẩn biệt tin
Từ vua chúa đến quân binh
Sẽ đều tận diệt nhơn sinh điêu tàn.
Phương hướng đành tiêu tan tất cả
Như ở trong lò hỏa bị thiêu
Muôn loài vạn vật bao nhiêu.
Phải đành chịu cảnh quạnh hiu khổ sầu.
Mẹ phán truyền lời châu cao quý
Ai sưu tầm diệu lý quang-minh
Thành tâm khảo sát chơn kinh
Thọ trì giảng nói chúng sinh hiểu rành.
Từ-Tôn chiếu điển lành ban phước
Sắc lịnh phê người được hiển vinh
Phi tài huyền diệu cao minh
Mẫu-Từ giáng bút ngọc-linh-chi truyền
Nhập vào tâm kẻ hiền sáng suốt
Chơn khí như ánh đuốc thiên nhiên
Mẫu cho phần bổn huờn nguyên
Chơn thần đúng ngoạt xuất liền chẳng sai
Tinh khí hiệp cho ai dưỡng tánh
Gắng tâm tu hưởng cảnh thượng đài
Khai tâm rung chuyển đạo ngay
Lý chơn thông hiểu chớ rày bỏ qua
Cần quán tưởng sâu xa kinh Mẫu
Chớ khoe tài nông nỗi mà chi
Chơn kinh lịnh Mẹ khó bì
Quần thần văn võ chẳng khi lời vàng
Ðại Từ-Tôn Mẫu-Hoàng cao cả
Ân đức dày vong ngã đành sao
Tao nhân mặc khách anh hào
Nông, thương, công, sĩ nỡ nào lãng ngơ
Không đền đáp tôn thờ cung kính
Nỡ vô tâm chẳng kính Mẫu hiền
Thâm sâu nghĩa cả thiêng liêng
Ðành lòng bội bạc chơn truyền lời châu
Chánh pháp đạo nhiệm mầu ai rõ
Giả đò như chẳng tỏ ngộ chi
Phụ ân Từ-Mẫu Diêu-Trì
Ðọa đày muôn kiếp chẳng thì tái sanh
Muốn biết rõ tánh danh Phật Mẫu
Hãy lắng nghe lời Mẫu phân rành
Lão-Bà Hỗn-Ðộn hóa sanh
Thuở còn mờ mịt trược thanh chưa tường
Thiên-Ðịa chia âm dương chơn khí
Thập nhị muôn niên kỷ giáng lâm
Tuổi thọ chín ngàn sáu trăm
Thời gian xuất thế khổ tâm nhọc nhằn
Muôn ngàn năm khuyên răn dạy dỗ
Ngày biệt ly diệt độ chẳng ngờ
Mẫu-Hoàng từ giã con thơ
Hóa thân chớp nhoáng phút giờ chia tay
Hư không ngự mây đài thượng cõi
Ðiển quang-minh chiếu rọi khắp nơi
Huyền vi biến hóa chuyển dời
Truyền kinh châu ngọc bao lời thiết tha
Chẳng thấy ai lệ sa nhớ Mẫu
Chốn trường giang gợi nỗi nhớ thương
Ngự thuyền lướt sóng trùng-dương
Nào ai để dạ vấn vương lòng sầu
Mẹ thương con chẳng câu phiền trách
Lòng ước mong huyết mạch trùng phùng
Sớm về điện ngọc Diêu-Cung
Con lành cố gắng hiếu trung tu hiền
Hội Tý Sửu khai Thiên tịch Ðịa
Vạn sự thành hiếu nghĩa vi tiên
Chơn kinh Phật Mẫu diệu huyền
Hơn trăm tám chục câu khuyên răn đời
Mỗi câu mỗi ý lời Mẹ thuyết
Cùng từ nguồn mạch huyết chảy ra
Gồm bao lời ngọc thiết tha
Chẳng phải lầm lạc đâu mà ngờ nghi
Khắp gia gia đều trì niệm mãi
Thì mùa màng cây trái hoằng sai
Ấm no hưởng lạc trần ai
Cuộc đời chẳng bị nạn tai dập dồn
Ðiển quang Mẹ bảo tồn trường cửu
Ðộ con thơ hội đủ Diêu-Cung
Nếu ai chẳng tín bất tùng
Mùa màng ruộng rẫy sâu trùng bọ ăn
Cuộc sống đành khó khăn đau khổ
Nhân sinh lâm vào chỗ hiểm nguy
Không mong sống sót được gì
Ðại kiếp thủy hỏa phong phi ngập tràn
Ðại Từ-Tôn Mẫu-Hoàng cho biết
Ðúng trăng mười vào tiết trời đông
Mẫu-Từ xuất hiện thần thông
Vào ngày thập bát trần hồng giáng sinh
Mẹ phủ hết điển linh quảng đại
Tâm huyết thư để lại chơn kinh
Kim ngôn siêu thoát quang minh
Từ-Tôn bảo dưỡng chúng sinh an toàn
Là con hiếu đàn tràng cung kỉnh
Mỗi hàng niên nguyện thỉnh Mẫu-Từ
Ðúng ngày thập bát trăng mười
Gia gia tụng niệm người người trì kinh
Lập đại lễ hoa xinh, trà, quả
Dâng hương đăng tất cả khiết tinh
Cùng nhau hội hiệp trì kinh
Sớ dâng Từ-Mẫu chứng minh con lành
Nếu như có nhơn danh hiền sĩ
Truyền bá kinh nghĩa lý đủ đầy
Từ-Tôn đài thọ ân dầy
Cháu con hiền sĩ từ đây huy hoàng
Hưởng lộc thọ vinh sang phú quí
Hạng phu nhơn bần sĩ hiền thần
Truyền kinh phổ biến xa gần
Gia gia vui hưởng muôn phần ấm no
Mẫu hứa sẽ ban cho con thảo
Năm trai lành kế tạo lửa hương
Hai gái hiếu đạo thuần lương
Ðời đời nối dõi tổ đường tông môn
Nam nữ nào sùng tôn kính Mẫu
Kỉnh lễ ngày Kỵ-Mậu thành tâm
Mẹ ban phước lộc cao thâm
Thiên Xuân vạn đại hưởng âm-đức dầy
Xứ phương nào hằng ngày cúng vía
Ðàn tràng cầu bốn phía an ninh
Bảo toàn tánh mạng chúng sinh
Mẫu-Hoàng phủ điển ứng linh lời nguyền
Quốc dân nào kiền thiền vọng bái
Thọ trì kinh nhớ mãi thâm ân
Mẫu-Từ cho xuất Thánh nhân
Thông minh xuất chúng muôn phần huyền-linh
Công đức Mẫu vô hình khó tả
Dầu lâm sơn biển cả khó hơn
Ai mà đáp nghĩa đền ơn
Phải sùng am-tự, họa sơn tượng hình
Rồi dâng lên hương linh thờ phượng
Tạo lập thành tâm, tưởng, bái, tôn
Diêu-Trì Phật Mẹ linh hồn
Hiếu tử làm đặng y ngôn-kim truyền
Mẹ sẽ nhận con hiền dâu thảo
Gắng sức xây tái tạo mau đi
Tùy gia phương-tiện hữu vi
Chẳng cần tiền bạc nhiều chi đâu nào
Mẫu chứng lòng thanh cao tâm hảo
Sẽ ghi tên con thảo danh đề
Thẻ ngọc Mẹ chuyển bút phê
Tâm phàm phủi sạch trở về Diêu-Cung
Bởi vì con tận trung tận hiếu
Ðắc quả cao cửu khiếu khai minh
Con hiền thọ hưởng trường sinh
Nhờ lòng quảng đại quang minh tâm lành
Mẹ sắc tứ phong danh muôn thuở
Chánh quả thành dứt nợ trần ai
Ban cho cửu phẩm liên đài
Trung ương thượng quốc về ngay đền vàng
Thành Ðại-La nghiêm trang quý báu
Phu phụ đồng đắc đạo kim thân
Mẹ ban thọ hưởng hồng ân
Lưu danh bửu điện muôn phần vẻ vang
Ðức Từ-Tôn Mẫu-Hoàng bảo dưỡng
Trải hết tâm vô lượng vô biên
Ngự nơi cõi thượng thiêng liêng
Ðộ cho quốc thới dân yên thanh bình.
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH

ÐỊA MẪU DIỆU KINH
Phật Mẫu tuy vô hình vô tướng
Mẹ cầm quyền phạt thưởng nhơn sinh
Ban ra lời ngọc chơn kinh
Khảo sát đạo lý khai minh địa cầu
Thuở hỗn độn một bầu không khí
Còn mịt mù vô thỉ biết đâu
Phật Mẫu đã ngự đó rồi
Phân ra Thiên Ðịa hoàn cầu chuyển xây
Mẹ đứng ra làm thầy trước nhất
Ðạo hoằng khai lời thật huyền linh
Phổ thông truyền bá chơn kinh
Phán bày phong tục nhơn sinh sáng ngời
Chốn phàm trần đến đời ngươn hạ
Mẹ giáng cơ bút tả chơn kinh
Ai truyền ấn tống phổ in
Mẫu-Hoàng bảo hộ khương ninh cửu trường
Người nào đầy lòng thương tiếp dẫn
Giúp chúng sanh ngộ nhận đạo chơn
Dựng đời thạnh trị thượng ngươn
Hết lòng chỉ giáo linh nhơn tỏ tường
Khắp thế giới thập phương cung kỉnh
Ráng niệm trì nguyện thỉnh lời châu
Ðắc thành sở nguyện mong cầu
Vậy mà chẳng thấy người nào lưu tâm
Hoặc gia gia tháng năm ghi nhớ
Lưu truyền kinh từ thuở ban hành
Kẻ nào rụng niệm chơn thành
Thánh Tiên đắc đạo rạng danh lâu rồi
Ai chẳng tin bất cầu ác cảm
Chê bai rằng mờ ám không tùng
Ðến khi vào lúc lâm chung
Hồn linh kẻ ấy vô cùng khổ đau
Ngục A-tỳ sa vào miên viễn
Ðọa đày người lắm tiếng dễ khinh
Sanh lòng nhạo báng lý kinh
Tội như biển cả mông minh thảm sầu
Gây nhiều lỗi thâm sâu đại hải
Mẹ chẳng phiền phải trái chi đâu
Xét ra khắp cả hoàn cầu
Ðều do lịnh Mẹ pháp mầu chuyển ra
Mẹ thương con vị tha tất cả
Nào thấy ai để dạ xót thương
Ðắng cay khổ nhọc ai tường
Rõ thông nỗi khổ đoạn trường biết bao
Trang nữ kiệt anh hào chí hiếu
Bố cáo cho người hiểu rõ ràng
Ðứng ra giải đáp lời vàng
Cho người trần thế dương gian tri tường
Khắp thiên hạ thập phương chung cảnh
Nạn thiên tai phải quạnh hiu sầu
Dập dồn nhiều cảnh khổ đau
Họa tai trước mắt tránh đâu bây giờ
Mẹ thương con đề thơ phân tỏ
Lại chẳng nghe ghi rõ lời châu
Cuộc đời thế sự bể dâu
Mẹ đà tường tận đoán rồi tiên tri
Dầu khó khăn việc chi nguy khốn
Mẹ bình trị chỉnh đốn khắp nơi
Phán truyền bày tỏ bao lời
Hóa sanh hoằng đạo khai đời dưỡng sanh
Phật Mẫu có phân rành tất cả
Bảy mươi hai vị đã lãnh phần
Ðương kim hành sự xa gần
Vị nào cũng có Thánh Thần hợp chung
Duy mình Mẫu chẳng cùng ai cả
Khắp ở trong thiên hạ xứ nào
Lập chùa, tạo miễu, đền cao
Phụng thờ Thần Thánh ra vào cung nghinh
Còn Mẫu đây riêng mình ai nhớ
Ðến tánh danh cũng chớ tường tri
Cõi trần chẳng có chi chi
Một ngôi miếu nhỏ vậy thì cũng không.
Bởi chúng sanh bạc lòng chẳng nghĩ
Nên cam đành khổ lụy sầu bi
Quanh năm bao cảnh loạn ly
Trời mưa không thuận đất thì không sanh
Mẹ thương con chẳng đành đoạn dứt
Tình thiêng liêng bút mực ghi rằng
Các con lớn nhỏ nghe chăng
Thọ trì kinh Mẫu khó khăn cũng lành
Khắp nhơn sanh điều hành tâm đạo
Giúp cho đời cải tạo ăn năn
Chẳng luận cao thấp ngang bằng
Dầu cho trẻ nhỏ lòng hằng trì kinh.
Chín tuổi biết cung nghinh đọc tụng
Ðiển huyền vi hữu dụng Mẹ ban
Cốt nhục xa cách lạc đàng
Mẹ cho tái hợp bình an sum vầy
Vui trong cảnh bao ngày cách biệt
Dầu chia tay cũng hiệp cùng nhau
Không phân hai bậc thấp cao
Ai ai cũng được truyền trao kinh này
Khắp non nước đông tây nam bắc
Phổ biến kinh để nhắc nhở lòng
Thập phương bá tánh rõ thông
Nếu chẳng khứng thọ chắc không sanh tồn
Bao nguy khổ dập dồn đau xiết
Nạn thiên tai thủy kiệt sơn băng
Chúng sanh ngã gục nhào lăn
Lâm vòng đại nạn thoát chăng được nào
Hiện bây giờ ốm đau bệnh tật
Sinh ra nhiều chứng thật gớm ghê
Khắp trong tất cả thành quê
Thảy đều thọ nạn ê chề khổ thân
Bị nắng hạn mưa dầm ngập hết
Thổ sản này ngã chết chẳng còn
Ðói lòng quằn quại các con
Vậy khuyên ráng nhớ lời son Mẫu-Từ
Mẹ khuyên con tâm thư lời cuối
Gắng công tu thông suốt lý kinh
Truyền trao giải nghĩa phổ in
Cho người trì tụng hiểu kinh kịp thời
Chúng con sẽ thấy đời hết khổ
Nội trong năm phổ độ đầu tiên
Mưa hòa gió thuận khắp miền
Mùa màng sung túc thấy liền chẳng sai
Còn như đáo lệ ngày Kỵ-Mậu
Lập tràng đàn bái Mẫu trì kinh
Dâng đèn sáp thiết quang minh
Từ-Tôn phủ điển nhơn sinh phúc dày
Mỗi trăng có ba ngày Mậu Kỵ
Hãy thành tâm bền chí cúng dường
Kỉnh đàn, đăng, thủy, hoa, hương
Ngoài ra tất cả ngày thường khỏi lo
Việc cúng kiến phải cho tinh khiết
Cố gắng tu tha thiết cần chuyên
Lo tròn phận sự hằng niên
Ba mươi sáu nhựt kiền thiền trì kinh
Sắm lễ vật cung nghinh Từ-Mẫu
Trong các ngày Kỵ-Mậu lập đàn
Gồm có các ngọn đăng quang
Quả hoa tươi thắm hương phàn năm cây
Sáu chung nước lọc đầy đủ lễ
Cùng chung nhau hợp để kỉnh đàn
Thuyết kinh giải lý rõ ràng
Mỗi người đều định tâm an thọ trì
Ai xứ nào làm y lời dạy
Ðịnh tinh thần tụng bảy biến kinh
Tiêu bao nghiệp chướng tội mình
Hưởng đời ngươn thượng huyền linh sanh tồn
Ai cố gắng sớm hôm trì tụng
Thêm hai thời chuyển dụng tâm thành
Mẹ ban huyền diệu điển thanh
Tự tay cứu chữa mạnh lành nội gia
Ðức Từ-Tôn truyền ra cho biết
Các con cần tha thiết ghi lòng
Lúc mạch gần chín đầy đồng
Hiện ra móng Bạch hư không rõ ràng
Gió từ đâu thổi sang rất mạnh
Trong niên này gặp cảnh phong ba
Khổ sầu từ trẻ tới già
Chúng sanh phải chịu thiết tha cơ hàn
Nạn đói lạnh lầm than đau xiết
Là điềm trời ứng thiệt rõ ràng
Thiên đình thâu hạt lúa vàng
Thần linh ngũ cốc lịnh ban về Trời
Gieo họa cho cảnh đời khốn khổ
Tuy vậy mà có chỗ cũng chừa
Nơi nào kỉnh Mẹ sớm trưa
Trì kinh ÐỊA-MẪU phước nhà bình an
Mẹ bảo hộ vững vàng nơi đó
Ðược trúng mùa mưa gió thuận hòa
Ai từng phổ biến gia gia
Tuyên truyền kinh Mẫu đứng ra giải bày
Phổ thông in đủ đầy nghĩa lý
Mẫu sẽ sai các vị Thiên Thần
Gia thần ủng hộ ân cần
Ðồng theo độ kẻ xa gần thành tâm
Ðược phúc lành tháng năm no ấm
Trên Thiên Ðình ghi chấm phước ban
Nội gia kẻ đó thanh nhàn
Sẽ được thạnh phát vinh quang muôn phần
Thanh-Long, Bạch-Hổ Thần cũng giáng
Phò tá người xứng đáng con lành
Từ-Tôn cho biết rõ rành
Trăng mười thập bát giáng sanh trần miền
Ðến giờ Ngọ kiền thiền kỉnh Mẫu
Chẳng có nên dời đổi thời gian
Sửu, Mùi, Thìn, Tuất không an
Ðúng giờ nhất định lập đàn trì kinh
Cầu lịnh Mẹ thương tình cứu khổ
Phủ điển linh phổ độ chúng sanh
Các con tựu họp tâm thành
Ðược ban mầu nhiệm phúc lành khắp nơi
Mẹ hiển Thánh xuống đời tri chứng
Phương hướng nào bền vững chí tâm
Thường hành kinh Mẫu diệu thâm
Ngày đêm thành kỉnh tháng năm thanh nhàn
Còn lo chi mùa màng chẳng trúng
Gia nào hay trì tụng kinh này
Phước lành sẽ được hưởng ngay
Thăng thiên đắc quả chẳng sai chẳng lầm
Hưởng quý tế cao thâm lộc cả
Thọ hương đăng trà quả vinh sang
Chơn Kinh của đức Mẫu-Hoàng
Gồm ba diệu lý lời vàng ngọc châu
Kinh Ðịa Mẫu đứng vào bậc nhứt
Chẳng tường phân ý thức suy tầm
Người đời còn bởi mê tâm
Chẳng nên kinh dễ lỗi lầm tội mang
Ai tỉnh ngộ lập đàn cung kỉnh
Thọ trì kinh nghiêm chỉnh cúng dường
Nạn tai nghiệp chướng lỡ vương
Một ngàn muôn kiếp thoát đường trầm luân
Kinh Ðịa-Mẫu thấm nhuần đạo lý
Gắng cần chuyên nghiệm kỹ lời khuyên
Hằng ngày ròng rã khẩn nguyền
Ðược nhiều công đức tội liền tiêu tan
Kinh Mẫu hơn muôn ngàn kinh khác
Ai chí tâm hiển đạt phúc lành
Rõ thông từng chữ hiểu rành
Người đó sẽ được Mẹ dành hồng ân
Ðiển huyền linh xa gần chiếu tỏa
Phóng hào quang khắp cả bầu trời
Thưởng người hiểu rõ từng lời
Tâm tư kẻ đó sáng ngời minh châu
Ai thông đạt từng câu nghiệm kỹ
Ðã tri tường nghĩa lý diệu kinh
Có thể gội sạch tội mình
Bao nhiêu nghiệp chướng oan tình tiêu tan
Như ai rõ từng hàng Mẫu dạy
Qua nạn tai sắp xảy đến mình
Lại còn hưởng được phước vinh
Tam tài lộc thọ khương ninh thanh nhàn
Nếu ai hiểu được toàn kinh quyển
Thì đích danh Mẫu chuyển điển quang
Luôn được phước lộc bình an
Ðời đời kiếp kiếp Mẹ ban phúc dầy
Như nghe thuyết kinh này chẳng tưởng
Lại bỏ qua không lượng tường tri
Mà lòng chẳng khứng thọ trì
Bị khép vào tội khinh khi Phật Trời
Tội phỉ báng bao lời xúc phạm
Lâm vào cảnh khóc thảm sầu than
Ngày ấy chẳng có kêu oan
Phải đành vướng tội gian nan ngục hình
Dân nước nào chẳng tin lời Mẫu
Sẽ lâm vào bao nỗi thiết tha
Ðại kiếp thủy hỏa phong ba
Thảy đều chết rụi đâu mà còn chi
Lòng Từ-Mẫu nghĩ suy đau xiết
Muốn hủy hoại đại kiếp phong ba
Nạn thủy hỏa sắp xảy ra
Thương cho sanh chúng phải xa cảnh sầu
Ngặt chúng chẳng quay đầu trở lại
Tuân theo lời Mẫu dạy trong kinh
Mẹ muốn bỏ sổ tử hình
Vì thấy số phận chúng sinh chết nhiều
Mẹ tính mãi bao điều phương kế
Chẳng đành lòng bỏ phế lãng ngơ
Tình thương vô bến vô bờ
Làm sao cứu được con thơ trở về
Mẹ dùng chước mầu phê sắc lịnh
Phán phân rằng chỉ định thế này
Truyền Thần Thiện, Ác đến đây
Chia làm hai phái lướt mây xuống trần
Người hung dữ Ác Thần dẫn dắt
Nhập cùng chung kẻ bất lương tâm
Ðộc ác, tàn nhẫn, đa dâm
Chia ra tất cả chẳng lầm lộn chi
Bậc hiền lương phương-phi quân-tử
Thiện Thần gom lại giữ một nơi
Ðưa vào chánh giác kịp thời
Ngày đêm tu niệm quên đời gian nan
Chờ đến ngày hạ màn chung cuộc
Mẫu sẽ vãi ra một cái chài
Dẫu cho thiện, ác phân hai
Tóm thâu tất cả một chài nhốt chung
Liên lụy kẻ tận trung hiếu thảo
Người tu hành học đạo kinh tâm
Chừng đó mới thấy diệu thâm
Mẫu-Từ sẽ chuyển huệ tâm trẻ lành
Ðược sống sót nhàn thanh đủ trí
Biết tường phân chánh lý đường tà
Thiện gần ác lại tránh xa
Từ đó các Ðạo mở ra khai hoằng
Ðồng xuôi lòng ăn năn quy tựu
Chánh Ðạo Mẫu hội đủ đêm về
Chẳng còn chia rẽ khen chê
Phân ra nhiều mối khó bề tường phân
Hình tướng chài phép Thần mầu nhiệm
Mẫu tả ra những điểm rất cần
Nhị Thập Bát Tú phân thân
Phủ vây chánh Bắc giáp gần chánh Nam
Còn phương hướng Tây Nam, Tây Bắc
Các vị thần giáp mặc bông bào
Gồm sáu mươi vị tài cao
Mẫu-Từ phán lịnh truyền trao lời vàng
Tuân lời dạy Thiên-Cang mười vị
Thập Nhị Thần định chỉ Ðịa-Chi
Tất cả Tinh-Tú các vì
Ủng hộ Hoàng-Ðế Thái-Vi hoàn toàn
Ðức Từ-Tôn Mẫu-Hoàng điều khiển
Thần Lôi-công, Lôi-điển tám phương
Phân thân trấn thủ phi thường
Sáu mươi bốn quẻ tỏ tường diệu thâm
Hiện nguyên hình tay cầm binh khí
Ðứng dàn ra trực chỉ đó đây
Khắp trong thiên hạ đủ đầy
Trận đồ của Mẫu lập xây hạ miền
Cõi Trời Nam từ niên Ðinh Hợi
Ðến niên Thân Dậu mới thiệt rồi
Biết bao huyền bí nhiệm mầu
Tại nơi hạ giới thảm sầu thiết tha
Mẫu-Từ bủa Thiên-la, Ðịa võng
Sức đại hùng vang động kinh hồn
Làm cho Thiên ám, Ðịa hôn
Thần sầu Quỷ khóc vong hồn thảm thương
Còn Tứ Ðại Thiên Vương tiếp lịnh
Bốn cửa trận Mẫu định trấn an
Tám vị Thần lực Kim-Cang
Xông vào trận hóa pháp đàn thần thông
Làm Trời Ðất hư không nghiêng ngã
Nhựt Nguyệt Tinh châu hỏa đảo xây
Cũng như chong chóng lăn quay
Thế rồi lặn mất không ngày hiện ra
Mẫu thâu lại yêu tà lăng mỵ
Kẻ bất lương phải bị ngục hình
Hô phong hoán võ lôi đình
Làm cho sấm nổ nước minh mông tràn
Lửa dậy khắp dương gian nguy khổ
Trận cuồng phong bảo tố khắp vùng
Mẫu tận diệt đứa bất trung
Xử người bất nghĩa chẳng dung tha nào
Ðến chừng đó vàng thau mới rõ
Mẫu thâu xong ngày đó bình an
Nước rút, sóng lặng, gió tan
Sẽ thấy vũ trụ dương gian tươi nhuần
Chỉ còn người hiền lương sống sót
Kẻ thiện lương được thoát khỏi vòng
Thế là Mẫu dụng huyền công
Diệu pháp hóa biến thần thông lẹ làng
Kinh đô có sen vàng đua nở
Bốn phía vòng khắp ở thị thành
Các con hiếu thảo hiền lành
Ðến chừng khi đó Mẫu dành hồng ân
Ðược đổi xác Kim-Thân bất hoại
Chẳng tử sanh thoát khỏi nghiệp duyên
Chứng đặng Ðại-La Tiên-Thiên
Bởi nhờ cố gắng tu hiền thành công
Hội Bàn-đào thưởng đồng tất cả
Các con nào đắc quả dự vào
Thế rồi vĩnh viễn về sau
Chẳng còn chuyển kiếp khổ đau trần miền
Chúng con được niên niên bất tử
Khoái lạc tiêu diêu ngự cảnh nhàn
Giống cảnh Diêu-Ðiện Mẫu-Hoàng
Luôn hưởng lộc thọ phước an cửu trường
Phật Mẫu ngự trên thượng tầng cõi
Hoằng khai dưỡng nhơn loại bảo toàn
Hết lòng quảng đại sắc son
Hóa sanh dạy dỗ các con phản hồi.


NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH
TỤNG KINH XONG TIẾP TỤC BÀI NGUYỆN NÀY
Kiền thiền vọng bái Mẫu Hoàng
Chấn chỉnh đạo giáo sắp an dân tình
Độ người khỏi chốn u minh
Vọng cầu bái Mẹ nhờ tình xót thương
Chúng dân tai họa đa vương
Lạy Mẹ dạy dỗ mới tường thiên cơ
Vô Cực Từ Tôn Tây Thiên Bá Chủ
Vương Cung Tây Mẫu đê đầu lạy tạ từ ân
Hào quang rọi xuống hương lân tỉnh thành
Khắp trong dân chúng làm lành
Thương yêu dùm giúp chẳng đành bỏ nhau
Mây lành rọi tỏ năm mầu
Cỏ cây tươi tốt làu làu thái dương
Yên vui bốn bể mới tường
Cơ Trời sắp đặt luân thường vẻ vang
Diêu Trì chấn chỉnh sửa sang
Bao nguồn về cội một đàng chánh quy
Kiền thiền vọng bái từ tôn
Chuẩn y tam giáo mới tồn lý cao
Ơn trên cam lộ rào rào
Chúng con nguyện vọng ước ao thái bình
Lạy cầu Mẹ ở Thiên Đình
Độ an dân chúng pháp linh tỏ tường
NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH (3 biến)
HỒI HƯỚNG
Phần kinh con mới đọc rồi
Nguyện xin phước đức vun bồi chúng sanh
Cho người thức tỉnh tu hành
Bến mê phút chút biến thành ao sen
Lý kinh sáng suốt như đèn
Tụng Kinh Địa Mẫu có duyên
Gặp người trí thức bạn hiền đồng tu
Ngày ngày tinh tấn công phu
Điển quang Mẹ chiếu linh căn sáng ngời
Cúi xin Phật Mẫu chứng lòng
Tâm nguyền quyết chí gắng công tu trì
Nam Mô Vô Thượng Hư Không Địa Mẫu Dưỡng sanh Bảo mạng Chân Kinh Đại Từ Tôn ( 1 Biến )
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 1 biến )
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Từ Thị Tôn Phật ( 1 biến )
Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát ( 1 biến )
TAM QUI
Qui y Phật Mẫu cứu trần thế
Nguyện xin phước đức vun bồi chúng sanh
Trần gian biết nẻo tu hành
Nhờ đèn trí huệ biết đường Phật Tiên
Qui y pháp là phương giải thoát
Điển huyền linh bủa khắp trần gian
Sửa tâm chứng đắc kịp thời
Linh căn Mẹ điểm hội kỳ Long Hoa
Qui y tăng nhân truyền Mẫu đại
Phải ăn chay giới luật nghiêm trang
Hữu hình gia tạm luân hồi
Vô vi thượng cảnh trở về Thiên Cung
Xem chi tiết…

ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.BÀI 1.

3/07/2011 |
ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.BÀI 1.

Lời giới thiệu : Mới đây , dienbatn được một người bạn bên Hội Phúc Thiện ( Ngày trước cùng đi làm từ thiện trên Sơn La ) gửi tặng một cuốn sách nhan đề : " Huyền thoại Phật Mẫu giáng trần " và nhờ dienbatn cho ý kiến thẩm định. dienbatn xin trích nguyên văn bức thư đó như sau :
 "Anh Hùng thân mến!
Em là Nguyệt bạn chi Oanh trong nhóm Phúc Thiện ở Hà Nội,.Tết năm 2008 được đi từ thiện với anh ở Sơn la.  Lâu rồi không gặp anh, anh có khoẻ không a? Năm trước em gọi điện thì được biết anh đang bệnh cột sống phải điều trị bệnh viên. Rồi công việc, gia đinh, con nhỏ ốm triền miên, mọi việc hối hả trôi, em cũng không liên lạc được để thăm anh.
Em gửi mail cho anh có một chuyện xảy ra trong gia đinh sếp ở cơ quan em. Anh đọc file em đính kèm nhé.
Câu chuyển tóm tắt như sau: Năm 2008, vào những ngày 10, 20, 30 âm lịch hàng tháng Phật Địa Mẫu nhập vào con gái của Sếp giảng kinh. Sau đó thì trong gia đình xảy ra nhiều chuyện và hiện nay vẫn vào những ngày đó Phật nhập vào cô em gái của Sếp trong Cần Thơ giảng Kinh. Tất cả sự việc diễn ra trong 2 năm qua được mọi người trong đại gia đình chấp bút lại và in thành quyển " Huyền thoại Phật Địa Mẫu giáng trần" dày 108 trang.
Sếp nói với em muốn đưa lên mạng để mọi người biết đến. Em gửi anh đọc và xin anh ý kiến.
Chúc anh một ngày an lành!
Em Thanh Nguyệt "
 Đối với những vấn đề lớn và khá tế nhị như thế này , dienbatn không dám gọi những ý kiến mình là những ý kiến " thẩm định ". dienbatn chỉ mong muốn nhân câu chuyện này , chúng ta cùng nhau tìm hiểu về Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu { hay còn gọi là Phật Mẫu( vì là MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh và Chúng sanh). Diêu Trì Kim Mẫu ( vì Đức Phật Mẫu ngự tại DTC ). Kim Bàn Phật Mẫu ( vì Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung ). Cửu Thiên Huyền Nữ ( vì Đức Phật Mẫu rất huyền diệu, ngự tại từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên ). Đức MẸ thiêng liêng,Đại Từ Mẫu, Thiên Hậu, Địa Mẫu,MẸ sanh.}
Cúi đầu mừng đức Diêu Trì ,
Hóa sanh vạn vật MẪU NGHI THƯỢNG TÒA .
Động lòng thương cõi giới ba ,
Siêu nhiên mật pháp truyền ra tuyệt vời .
Cha lành con thảo trọn đời ,
Tâm nguyền giữ vẹn vạn lời Mẹ khuyên .
Các con vì bởi nghiệp duyên ,
" Hồng Ân Đại Xá Tam Niên " chuyển trần .
Nay con kỉnh lễ ân cần ,
Cầu xin VÔ CỰC hồng ân ban truyền .
Lạy THÀY điểm hóa diệu huyền ,
Xót thương trần tục là miền tao tân .
Xin cho Phật Thánh Tiên Thần ,
Ra tay tế độ hồng trần khổ đau .
Nghiệp con xin dứt trước sau ,
Cầu xin KIM MẪU vạch màu pháp duyên .
Cúi đầu Huỳnh Đạo Khai Nguyên ,
Chúng con hầu kỉnh Thượng Thiên hội này .
Thánh Thần Tiên Phật hiệp vầy ,
Chuyển lời khẩn vái đến Thày Cao Thiên .
Hóa hoằng chơn pháp Tam Niên ,
Từ Tôn Thượng Đẳng phước duyên ngàn đời .
Nguyện rằng lãnh pháp của Trời ,
Năng hành chẳng bỏ , chẳng lơi mặt bày .
Nam mô HUỲNH ĐẠO THIÊN KHAI ,
QUY NGUYÊN TAM GIÁO trần ai lập đời .

Theo từ điển Cao Đài :
Diêu Trì Kim Mẫu - Phật Mẫu Diêu Trì:
• 瑤池金母 - 佛母瑤池
• A: Buddha-Mother.
• P: Bouddha-Mère.
Kim Mẫu: là từ nói tắt của danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chơn thần cho vạn linh.
* Diêu Trì Kim Mẫu là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.
* Phật Mẫu Diêu Trì là Đức Phật Mẫu ở Diêu Trì Cung.
Đây là hai danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

I. Đức Phật Mẫu là ai?
Theo Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, khi chưa có Trời Đất, còn trong thời kỳ Hỗn Mang hay Hồng Mông, trong vũ trụ chỉ có một chất khí hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hợp, nhưng vô cùng huyền diệu, gọi là Khí Hư Vô (còn gọi là Tiên Thiên Hư Vô chi Khí).
Khí Hư Vô ấy lần lần ngưng kết rồi nổ ra một tiếng thật lớn, sanh ra một khối Đại Linh Quang, cũng gọi là Thái Cực, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng.
Vũ trụ từ đây bắt đầu có một ngôi Thái Cực duy nhứt, là Đại Hồn của một Đấng duy nhứt được gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà chúng ta thường gọi là Đức Chí Tôn.
Đức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương Quang và Âm Quang. Đức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương Quang, còn Khí Âm Quang chưa có ai chưởng quản, vì Càn khôn Vũ trụ lúc bấy giờ chỉ có một mình Đức Chí Tôn mà thôi. Đức Chí Tôn mới hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản Khí Âm Quang.
Vậy, nguồn gốc của Đức Phật Mẫu là một hóa thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ Khí Âm Quang, cầm phân nửa quyền lực của Đức Chí Tôn và luôn luôn tùng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn. (Khi Đức Chí Tôn tạo dựng ra Càn khôn Vũ trụ tới đâu thì Đức Chí Tôn tiếp tục hóa thân ra các Đấng khác để chưởng quản tới đó).
Vũ trụ tới đây đã có 2 khối chất khí vĩ đại là Dương Quang và Âm Quang, và có 2 Đấng đầu tiên cầm quyền Càn khôn Vũ trụ là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.
Sau đó, Đức Phật Mẫu vâng lịnh Đức Chí Tôn, thâu lằn sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Âm Quang phối hợp với Dương Quang để tạo hóa ra các từng Trời, các quả Tinh cầu và các Địa cầu, tạo thành Càn khôn Vũ trụ.
Tiếp theo, Đức Phật Mẫu tạo hóa ra Vạn linh nơi cõi Thiêng liêng vô hình. (Vạn linh gồm đủ Bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn).
Rồi Đức Phật Mẫu lại cho Vạn linh đầu kiếp xuống các Địa cầu tạo thành Vạn vật, tức là Chúng sanh. (Chúng sanh gồm: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại).
PMCK: Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.
* Mỗi một người nơi cõi thiêng liêng đều có 2 thể:
• Một Chơn linh, tức là Linh hồn, do Đức Chí Tôn ban cho. Chơn linh nầy chỉ là một điểm Linh quang do Đức Chí Tôn chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài, ban cho mỗi người để con người có được Tánh linh, có được sự sống và biết gìn giữ sự sống ấy.
• Một Chơn thần, tức là một Xác thân thiêng liêng hay Hình hài thiêng liêng, do Đức Phật Mẫu tạo ra và ban cho để làm hình thể vô vi, bao bọc Chơn linh.
Do đó, con người nơi cõi thiêng liêng gọi Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu. Ấy là 2 Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng vĩ đại nơi cõi Hư linh.
Khi con người ấy đầu kiếp xuống cõi phàm trần thì Chơn linh và Chơn thần của người ấy liền nhập vào thai nhi ngay lúc được sanh ra từ trong bụng bà mẹ phàm trần. Vậy:
* Một con người nơi cõi phàm trần có 3 thể:
• Chơn linh (đã giải ở trên) do Đức Chí Tôn ban cho.
• Chơn thần (đã giải ở trên) do Đức Phật Mẫu tạo ra.
• Xác thân phàm trần do cha mẹ phàm trần tạo ra.
Như thế, một con người nơi cõi phàm trần, ngoài hai Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa.
Tóm lại, toàn cả chúng sanh trong CKVT hay toàn cả Vạn linh, đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, dầu cho đó là những vị Phật cao siêu như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di-Lạc, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jésus, vv...Tất cả đều là con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.
Hiện nay, Đức Phật Mẫu ngự tại Cung Diêu Trì, ở từng Trời Tạo Hóa Thiên, là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.
Theo DLCK, Đức Phật Mẫu cùng các vị Phật: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, với Cửu vị Nữ Phật, và hằng hà sa số chư Phật khác, thường đi đến các cõi trần để dưỡng dục chúng sanh qui nguyên Phật vị.
Đức Phật Mẫu được nhơn loại tôn xưng bằng nhiều danh hiệu khác nhau, tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc và địa phương, kể ra như sau đây:
• Phật Mẫu, vì là MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh và Chúng sanh.
• Diêu Trì Kim Mẫu, vì Đức Phật Mẫu ngự tại DTC.
 • Kim Bàn Phật Mẫu, vì Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.
• Cửu Thiên Huyền Nữ, vì Đức Phật Mẫu rất huyền diệu, ngự tại từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.
• Đức MẸ thiêng liêng,
• Đại Từ Mẫu,
• Thiên Hậu,
• Địa Mẫu,
• MẸ sanh.
Đạo Cao Đài tôn thờ Đức Phật Mẫu là tôn thờ NGÔI ÂM, tức là Ngôi Thứ Nhì; còn NGÔI DƯƠNG là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức Ngôi Thứ Nhứt.
Đây là một Triết lý hết sức mới mẻ và đúng đắn mà từ trước tới nay các tôn giáo chưa từng có. Họ chỉ biết thờ Ngôi Dương mà thôi.
Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay của Đạo Cao Đài còn tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô TTTN, vì Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương chưa xây dựng. Chừng nào Hội Thánh xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương thì sẽ chánh thức thờ Đức Phật Mẫu tại đó và trả lại Báo Ân Từ làm đền thờ các bậc vĩ nhân có đại công với nhơn loại và các bậc tiền bối có đại công với Đạo, để hậu sanh tỏ lòng biết ơn theo đúng chức năng của nó như tên gọi Báo Ân Từ (nhà thờ báo ơn).

II. Quyền năng của Đức Phật Mẫu:
Quyền năng to lớn của Đức Phật Mẫu được cho biết trong hai bài kinh: Phật Mẫu Chơn Kinh và Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, và trong các bài Thánh Ngôn của Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho (Thánh Ngôn của Đức Diêu Trì Kim Mẫu có chép trong phần sau).
Một số quyền năng của Đức Phật Mẫu được biết kể ra:

■ 1. Chủ Âm Quang:Đức Chí Tôn làm chủ Dương Quang, Đức Phật Mẫu làm chủ Âm Quang, nghĩa là Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu làm chủ phần Âm trong toàn cả CKVT.
PMCK: Chủ Âm Quang thường tùng Thiên mạng.

■ 2. Chưởng quản Kim Bàn:Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu dùng chứa các nguyên chất để tạo Chơn thần (Xác thân thiêng liêng) cho con người nơi cõi thiêng liêng.
KĐ9C: Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất,
Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

■ 3. Chưởng quản Vườn Đào Tiên:Đức Phật Mẫu lập ra Vườn Đào Tiên và dùng các quả Đào Tiên ban thưởng cho các Chơn linh tu hành đắc đạo khi trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống.
PMCK: Chưởng Đào Tiên thủ giải trường tồn.
KĐ2C: Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,
Chơn thần khá đến hội hàng chư linh.
Hằng năm, đến kỳ Đào Tiên chín, Đức Phật Mẫu mở Hội Yến Bàn Đào nơi Diêu Trì Cung, dùng các quả Đào Tiên và Tiên tửu, đãi các Đấng Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

■ 4. Tận độ nhơn sanh:Toàn cả nhơn loại, nhứt là 92 ức nguyên nhân đang còn trầm luân nơi cõi trần, đều là con cái thương yêu của Đức Phật Mẫu. Đức Phật Mẫu tận dụng các hình thức giáo hóa để cứu độ tất cả con cái của Ngài, đem trở về cõi thiêng liêng, giao cho Đức Chí Tôn phán định phẩm tước và ngôi vị.
PMCK: Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên Cung.

■ 5. Chưởng quản Tạo Hóa Thiên:Tạo Hóa Thiên là từng Trời rất huyền diệu, cao nhứt trong Cửu Trùng Thiên.
Theo DLCK: "Tạo Hóa Huyền Thiên hữu: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, dữ Cửu vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh Kim Bàn Phật Mẫu, năng tạo năng hóa Vạn linh, năng du Ta-bà Thế giới, dưỡng dục quần sanh, qui nguyên Phật vị.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, thính Ngã dục tu phát nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu dưỡng dục quần linh; nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, huờn hư thi hình đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề xá lợi tử qui nguyên Phật vị, tất đắc giải thoát."
Nghĩa là: Từng Trời Tạo Hóa Thiên huyền diệu có: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, cùng với Chín vị Nữ Phật, như các cấp vô số Phật, tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, có khả năng tạo hóa tất cả Chơn linh, có khả năng đi đây đi đó đến các cõi trần, nuôi nấng chăm sóc chúng sanh, trở về nguồn cội là ngôi vị Phật.
Nếu như có người nam lành, người nữ lành, nghe theo lời Ta, muốn tu hành thì phát ra lời nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu nuôi nấng chăm sóc tất cả các Chơn linh ; nếu như có sanh ra, nếu như chưa sanh ra, nếu như có kiếp sống, nếu như không có kiếp sống, nếu như có tội, nếu như không tội, nếu như có lòng tưởng niệm, nếu như không có lòng tưởng niệm, trở lại cõi Hư Vô, thi hành đúng theo khuôn phép, được phẩm vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Chơn thần trở về nguồn cội là ngôi vị Phật, ắt được giải thoát.

■ 6. Quyền làm MẸ Vạn linh:Đức Phật Mẫu là bà MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh, mà Vạn linh thì gồm đủ Bát Hồn (tức là 8 phẩm Chơn linh) gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.
Nhưng tại sao quyền hành của Đức Phật Mẫu lại nhỏ hơn quyền hành của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hay Đức Di-Lạc Vương Phật?
Đức Hộ Pháp thuyết đạo Con đường TLHS giải như sau:
"Bần đạo đi ngang Cung Hỗn Nguơn Thượng Thiên , là nơi Đức Di-Lạc đã thâu pháp, đã định vị nơi ấy. Bần đạo có tả mà trong tâm còn mờ hồ, không biết tại sao, vì lẽ gì, Đức Phật Mẫu là MẸ mà phải chịu dưới quyền con là Đức Di-Lạc, trong bụng coi hơi bất mãn.
Liền khi ấy, Bần đạo ngó thấy cái tướng hình của Đức Phật Mẫu đứng đằng trước, còn Đức Di-Lạc ở đằng sau lưng, quì xuống, đưa hai bàn tay lên, đặng tỏ cho Bần đạo hiểu, dầu cho người con ấy mạnh mẽ, quyền hành thế nào, mà quyền MẸ vẫn là quyền MẸ, không thế gì qua được. Ngài chỉ tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu đặng trị thế mà thôi."
Cũng trong Con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thuật lại lúc Ngài vào Diêu Trì Cung bái kiến Đức Phật Mẫu, thấy cái huyền năng vô biên của Đức Phật Mẫu:
Bần đạo cùng các bạn kỳ trước đã ghé nơi Tạo Hóa Thiên, tức Tòa Thiên Cung Phật Mẫu là Diêu Trì Cung.
Bần đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: Huyền bí vô biên của Phật Mẫu.
"Bần đạo nói sơ lược huyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Đức Phật Mẫu, ta ngó trên mặt Ngài, ta thấy mặt bà mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về. Bần đạo tưởng ngó thấy bà mẹ sanh Bần đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người mẹ của họ vậy.
Nếu lấy theo cái trí học tưởng tượng không biết con mắt thiêng liêng có chiếu hình mẹ ta chiếu diệu ra không? hay là Huyền diệu vô biên của Phật Mẫu cho chúng ta thấy như vậy.
Bà mẹ hình hài chúng ta đây là nhơn viên của Đức Phật Mẫu bên phái nữ đó....
Có điều trọng hệ là dầu nam nữ cũng vậy, ráng giữ một điều nầy: Coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh Đức Phật Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền hậu vô cùng, hạnh phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại, nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."
Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. Trong Báo Ân Từ, Đức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu theo sự tích Hớn rước Diêu Trì, tức là vua Hớn Võ Đế cầu Đức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Điện:

Sự tích: Hớn rước Diêu Trì:
Vua Hớn Võ Đế hay Hán Vũ Đế (141-87 trước Tây lịch) là vị vua thứ 5 của nhà Hớn (Hán) bên Tàu, có hùng tài đại lược, nhưng cũng rất tín ngưỡng Trời Phật.
Khi Hớn Võ Đế mới lên ngôi, Ngài có phát nguyện lập một cảnh chùa thật tráng lệ gọi là HOA ĐIỆN để sùng bái Trời Phật. Gọi là Hoa Điện, vì chùa nầy được chạm khắc hình các thứ hoa trên các vật liệu xây dựng, nên mới trông vào thấy như là một Cung Điện toàn bằng hoa.
Ngôi chùa lớn lao cực kỳ xinh đẹp như thế, nhưng nhà vua chưa quyết định thờ Đấng nào, chỉ để trống, chủ tâm là chờ đợi đến chừng nào nhà vua thấy được sự huyền diệu hiện tượng ra thì nhà vua mới sùng bái.
Đến năm Hớn Võ Đế được 61 tuổi, nhà vua tổ chức một Lễ Khánh thọ Đáo tuế long trọng, Ngài có sở vọng cầu khẩn thế nào cho có Đức Phật Mẫu giáng xuống chứng lễ, nên nhà vua lập bàn hương án trước sân chùa cầu khẩn ngày đêm, mà không biết Đức Phật Mẫu ngự ở nơi nào và có thấu biết chăng?
Lúc bấy giờ có Ông Đông Phương Sóc, tu đắc đạo thành Tiên, mà trước kia Ông có làm quan trong triều đình của Hớn Võ Đế, sau về núi tu luyện, đang ngồi tịnh, chợt động tâm, liền đoán biết hiểu rõ mọi việc của Võ Đế nơi triều đình. Ông liền xuống núi, đi đến kinh đô, vào triều đình yết kiến Võ Đế.
Vua Hớn Võ Đế gặp Đông Phương Sóc thì rất mừng rỡ, thuật hết mọi việc cho Đông Phương Sóc nghe và nói rõ ước vọng của nhà vua nhân cuộc Lễ Khánh thọ Đáo tuế là sở cầu Đức Phật Mẫu đến chứng lễ, mà không biết Đức Phật Mẫu ở nơi nào, và nhờ ai đi thỉnh, may mắn có Đông Phương Sóc tới, vậy nhờ khanh giúp trẫm đi thỉnh Đức Phật Mẫu được chăng?
Ông Đông Phương Sóc tâu rằng:
- Bệ Hạ đã định thì hạ thần phục mạng, dầu khổ nhọc thế nào, hạ thần cũng đến Diêu Trì Cung thỉnh Đức Phật Mẫu, nhưng kết quả được cùng chăng là do lòng thành cầu nguyện của Bệ Hạ. Vậy xin Bệ Hạ ban chiếu cho Thần đi thỉnh.
Đoạn Đông Phương Sóc lãnh chiếu chỉ ra đi.
Ông dùng huyền diệu Tiên gia, chỉ trong chốc lát, Đông Phương Sóc đã đến được Diêu Trì Cung nơi cõi Tạo Hóa Thiên.
Đông Phương Sóc xin vào yết kiến Đức Phật Mẫu và tâu bày hết các việc của vua Hớn Võ Đế khẩn cầu.
Đức Phật Mẫu cảm động và phán:
- Phật Mẫu sẽ giáng phàm vào đêm Trung Thu chứng lễ Khánh thọ của Hớn Võ Đế theo sự khẩn cầu, sẽ đem theo 4 Tiên đồng nữ nhạc đờn ngâm bài chúc thọ, và tặng 4 quả Đào Tiên . Khi Phật Mẫu đến có Thanh loan báo tin trước.
Phương Sóc rất vui mừng, bái tạ Đức Phật Mẫu, rồi cấp tốc trở lại trần gian, tâu bày các việc cho vua Võ Đế biết.
Nhà vua rất vui mừng và hỏi: - Thanh loan là gì?
Đông Phương Sóc đáp: - Thanh loan là con chim loan màu xanh, đó là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu, dùng để chở Đức Phật Mẫu du hành khắp nơi.
Xin Bệ Hạ chỉnh trang cho long trọng, trang nghiêm, tinh khiết để nghinh tiếp Đức Phật Mẫu, phải lập bàn hương án bên trong và bên ngoài, xông hương khử trược.
Đêm rằm Trung Thu năm đó, trăng sáng vằng vặc, đầu giờ Tý, Hớn Võ Đế quì trước Hoa Điện, thành tâm cầu khẩn.
Xảy thấy một con chim Thanh loan đáp xuống sân Hoa Điện. Liền khi đó, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và bốn Tiên đồng nữ nhạc giáng lâm trước Hoa Điện.
Hớn Võ Đế cung nghinh Đức Phật Mẫu vào ngự nơi Chánh điện của Hoa Điện.
Đức Phật Mẫu dạy bốn Tiên đồng nữ nhạc trao tặng cho Hớn Võ Đế 4 quả Đào Tiên và ca ngâm bài chúc thọ. Ông Đông Phương Sóc quì, hai tay nâng cái dĩa lên để rước lộc (rước 4 quả Đào Tiên).
Bốn vị Tiên đồng nữ nhạc ấy có tên là: Hứa Phi Yến, An Phát Trinh, Đổng Song Thành và Vương Tử Phá.
Sau khi chứng lễ Đáo tuế của Vua Hớn Võ Đế xong, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng nữ nhạc cỡi chim Thanh loan trở về DTC nơi cõi Thiêng liêng.
Vua Hớn Võ Đế ghi nhớ hình ảnh của Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên, cho thợ khéo, tạc hình Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên nơi Hoa Điện để ghi nhớ sự tích và phụng thờ Đức Phật Mẫu.
Sự tích nầy được truyền tụng đến ngày nay.
Do đó, nơi thờ Đức Phật Mẫu được gọi là ĐIỆN chớ không gọi là ĐỀN.
Do theo sự tích nầy, Đức Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ như sau:
" 1. Trên hết là chơn dung Đức Phật Mẫu (ĐPM) cỡi thanh loan, tức là con chim loan màu xanh.
2. Kế đắp 9 pho tượng của Cửu vị Tiên Nương.
3. Đắp thêm 4 pho tượng của 4 Nữ nhạc theo hầu ĐPM.
4. Pho tượng ông Đông Phương Sóc quì bưng bằng hai tay một cái dĩa nâng lên khỏi đầu, trên dĩa có 4 quả đào Tiên do ĐPM ban tặng. Ông Đông Phương Sóc quì bên hữu ĐPM.
5. Pho tượng Đức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Điện.
Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ tự, kiểu xưa gọi là Hoa Điện.
Đáng lẽ tạo hình Hớn Võ Đế, nhưng vì đời Hớn Võ Đế đến nay quá xa thẳm, lại nữa, nguyên căn của Hớn Võ Đế là chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng phàm. Nay là thời Hạ nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, Bát Tiên lãnh lịnh giáng phàm làm tướng soái cho Đức Chí Tôn mở Đạo, Đức Cao Thượng Phẩm chính là chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Đế thì thuận hơn."
Thánh ngôn của Đức Phật Mẫu giáng dạy cũng khá nhiều, sau đây xin chép ra một bài tượng trưng:
Đàn cơ tại Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15-11-Tân Mùi (dl 23-12-1931)
Phò loan: Đức Hộ Pháp - Bảo Văn Pháp Quân.

DIÊU TRÌ KIM MẪU
Thiếp chào chư Hiền đồ Nam Nữ.
Có Từ Bi giá ngự, Thiếp nhượng cho Người, mà Người nhượng lại cho Thiếp giáng trước giáo hóa đôi điều. Thiếp phải tuân mạng. Chư Hiền đồ bình thân.
THI:
Từ Hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ,
Cho Thiếp quyền quản Khí Hư Vô,
Lấy Âm quang tạo phách tăng đồ,
Muôn vật cả lo cho sanh hóa.
Nuôi nấng lấy xác thân hòa hỏa,
Thuận Âm Dương căn quả hữu vi,
Chưa ai vào đến cõi trần nầy,
Chẳng thọ lấy Chơn Thần tay Thiếp.
Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp,
Rồi dắt dìu cho hiệp với CHA.
Kìa mớm cơm vú sữa cũng là,
Sanh một kiếp người ta đáng mấy!
Dầu hài cốt trăm năm cũng vậy,
Khối tình thương chẳng lấy chi nhiều.
Huống tạo Thiên đùm bọc chắt chiu,
Sanh một đứa liều ngàn thế kỷ.
Chịu mất trẻ cũng vì Tà mị,
Cướp con thương bỏ vị quên ngôi,
Ôi! Thương nhiều phen phải chịu ngậm ngùi,
Thấy thân trẻ nổi trôi biển khổ.
Trân trọng lấy hình hài dơ ố,
Còn thiêng liêng vô số tiếc thương,
Hằng trông mong con đặng phi thường,
Đem vào đặng con đường hằng sống.
Kể từ trước Thiếp là hình bóng,
Biết thương con chẳng mộng con thương,
Đạo dìu Đời bởi Thiếp lo lường,
Trên mới thuận khoáng trương phổ tế.
Kể từ trước Đạo còn bị bế,
MẸ thương con chẳng thế dắt dìu,
Nay cõi trần nghiệt chướng giảm tiêu,
Ngọc Hư định đã nhiều phép cứu.
Thiếp từ đặng Phái Vàng chí bửu,
Lịnh Chí Tôn khai mối Tam Kỳ,
Hằng ngày lo cho đám Nữ nhi,
Chẳng đủ trí sánh bì Nam tử.
Ơn nhờ có con là Long Nữ,
Đến thay thân Thiên sứ Từ Hàng,
Đùm bọc em, con ráng bước một đàng,
Đặng cho MẸ dễ dàng cứu rỗi.
Kìa Cực Lạc Niết Bàn đem đổi,
Lấy thân phàm làm mối giải oan,
MẸ trông con về cảnh an nhàn,
Ở trần thế muôn ngàn sầu thảm.
Cõi Thiên vị cho con còn dám,
Huống dạy khuyên mô phạm căn tu,
Chỉnh tiếc con chẳng rõ hiền ngu,
Đặng tự định công phu trọn phận.
Con thì đứa đường đời lẩn bẩn,
Con thì hay vay trở cơ mầu,
Mối huyền vi nào rõ cao sâu,
Cứ đeo đẳng mạch sầu nguồn thảm.
Con ví biết mình cao bực phẩm,
Thì phải toan cho dám phế đời,
Các em con chỉ để con ngươi,
Coi con bước mấy dời nối gót.
Lời cần yếu MẸ than cho trót,
Muốn dạy em, con khá xót xa chừng,
Phải hằng ngày ở dựa bên lưng,
Nhắc từ chuyện, khuyên răn từ việc.
Cửu Nương vốn nhọc nhằn chẳng tiếc,
Chỉ trách con chưa biết nhập trường,
Phải hiểu rằng lòng MẸ hằng thương...
                                         THĂNG 

ĐỊA MẪU CHƠN KINH.
"Nội dung và nguồn gốc
Nguồn gốc của sách này có lẽ xuất phát từ tiên đạo và được viết ra qua các buổi hầu bút và chịu ảnh hưởng bởi lưỡng cực âm dương của Đạo giáo.
Kinh được viết vào ngày mồng 9 tháng giêng năm 1829 tại tỉnh Thiểm Tây, phủ Hán Trung, thành Cố Huyện. miếu Địa Mẫu, người nhập đàn truyền (nói) "kinh" có tên là Phi Loan(飛鸞傳經 tạm dịch "Phi Loan truyền (nói) kinh).
Mặc dù một vài bản tiếng Việt của Địa Mẫu kinh được in trong thời gian gần đây có Tịnh tam nghiệp chân ngôn và tâm kinh bát nhã, chú vãng sanh v.v... của Phật giáo. Khiến người đọc có cảm tưởng như kinh do đức Thích Ca nói. Nhưng trong bản gốc tiếng Hán chỉ là bài trường thi thể song thất; Nội dung tính khuyến thiện, ca ngợi Phật mẫu - mẹ thiêng liêng của vạn linh và chúng sanh, lưỡng cực âm dương của tiên đạo và các cảnh giới siêu hình và hoàn toàn không có những bài kinh Phật giáo.
Người con bổn phận nguyện lành, trên khói hương này xin Mẫu ngự, cầu nguyện Ông bà Cha mẹ lục thân quyến thuộc, âm siêu dương thế. Gia đình hưng thịnh quyến thuộc tăng phước hoàn viên Phước Lộc thọ miên trường
 Sự tích
Vua Quang Tụ nhà Thanh lên ngôi trị vì ở nước Trung Hoa, vào năm thứ 9, nhằm tiết tháng giêng, ngày mồng chín, tại nơi tỉnh Thiễm Tây, phủ Hớn Trung, huyện Thành Cổ có Phật địa Mẫu ngự chim loan hiện xuống tận miếu Bà giáng cơ bút truyền ra kinh.
Phật địa Mẫu ngự trên cõi Thượng Tần tối cao đặt quyển Chân Kinh khuyên răn đời, dưỡng dục đời và bảo toàn tính mạng cho tất cả người đời.

Xưng tán địa Mẫu
- Địa Mẫu đấng tối cao giác ngộ
- Điển linh quang tế độ chúng sinh
- Hỡi ơi chớ có lạc lầm
- Lời vàng châu ngọc chỉ rành nẻo tu
- Cõi trần thế mịt mù tâm tối
- Phải nghe lời mẹ thuyết chân kinh
- Chớ ham vật chất lụy phiền
- Sớm mau thức tỉnh mẹ ban phước lành

 Sự hình thành
Tam cửu là 12, thập nhị Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo,Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Còn Nhị bát là 10 thập Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Can Chi là Âm Dương đó. Vì trong bát quái có phân chia làm 8 hướng, mỗi một hướng chia ra 8 quẻ, mỗi một quẻ chia ra 6 hào, cộng chung lại 64 quẻ, tẻ ra làm 384 hào. Đúng giờ mãn nguyện trúc cơ, thì trong thân của Mẫu xuất hiện ta sáu vị Thánh đế Minh quân. Kể dưới đây: Một là vua Thiên Hoàng, hai là vua Địa Hoàng, ba là vua Nhân Hoàng, bốn là vua Phục Hi, năm là vua Thần Nông, sáu là vua Hiên Viên. Qua đến đời vua Phục Hi thì ngài đã hiểu rõ máy biến hóa Trời Đất. Ngài bèn phân định hai khí Âm Dương và họa ra một cái bát quái Tiên Thiên rõ 8 hướng trong Kiền khôn Vũ Trụ. Đến đời vua Thần Nông thì ngài tiên đắc tìm kiếm ra được năm giống lúa và sáu thứ gạo. Đến đời vua Hiên Viên thì ngài kiếm ra đủ cách thế chế tạo ra y phục và các đồ vật dụng cho con người đời cần dùng chẳng sót món nào.
Lão Bà Địa Mẫu nầy tuy là vô hướng, chớ lão cầm quyền sữa trị và khảo sát cả nhân luân đạo lý. Vì bởi hồi mới mở mang ra một bầu khí mù mù mịt mịt thì đã có Lão Mẫu này hóa sinh ra trước. Mẫu là lớn hơn hết. Cái người mà tạo ra Thiên lập ra Địa là đây, thật là người căn gốc đó. Thưở đó có một mình Mẫu đứng ra làm thầy trước hết. Mẫu liền khai hóa mở mang ra có một mối Đạo và tuyên truyền phổ thông cũng có một phong tục cho tất cả nhân loại mà thôi. "
( Xin xem tiếp bài 2 )
Thân ái . dienbatn
Xem chi tiết…

MÙA XUÂN TA ĐI TA BÀ . BÀI 5.

3/03/2011 |
MÙA XUÂN TA ĐI TA BÀ.
CHÂU ĐỐC
                                                      
                                          
Nguyễn Thanh Liêm
 Châu Đốc là tỉnh địa đầu của Miền Tây Nam Việt, nằm bên biên giới Việt Miên. Phía Tây và phía Bắc của Châu Đốc là nước Kampuchia(Cao Miên) . Phía Đông và Đông Nam là hai tỉnh Kiến Phong và An Giang. Rạch Giá, tức tỉnh Kiên Giang là tỉnh giáp giới phía Nam của Châu Đốc. Diện tích của tỉnh Châu Đốc là 2,759 cây số vuông. Tỉnh lỵ ở cách Sài Gòn 245 cây số đường bộ, về hướng Tây. Châu Đốc là vùng đất sau cùng trong quá trình thành hình của Miền Nam nước Việt. Năm 1757 vua Miên là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long cho Chúa Nguyễn để trả ơn, trong đó có Châu Đốc. Thời này Châu Đốc chỉ là một địa điểm quân sự, một đồn binh của Việt Nam, một “đạo” theo chữ dùng thời Gia Long – Minh Mạng, chưa có dân chúng định cư sinh sống. Từ năm 1817 trở đi Châu Đốc mới bắt đầu trù phú nhờ chính sách mở rộng cương vực của Chúa Nguyễn. Triều đình đặt chức Quản Đạo, Cai Phủ để mộ dân đến khai khẩn đất đai mở mang nông nghiệp. Kinh Vĩnh Tế đào xong lại đem thêm cho Châu Đốc nguồn nhân lực và tài lực rất đáng kể. Xin mời bạn hãy cùng tôi đi một chuyến về miền biên tái xa xôi này.


Yếu tố địa lý núi non sông nước có giá trị văn hoá vô cùng quan trọng ở đây. Hai nhánh lớn của Cửu Long còn rất gần nhau là Tiền Giang và Hậu Giang đều chảy qua tỉnh này. Ở đây người xưa xem sông Cửu Long là con sông quý nên còn có tên Bửu Giang. Qua khỏi Châu Đốc hai nhánh sông này mới bắt đầu dang ra dần. Châu Đốc là con đường giao thông và giao lưu quan trọng giữa hai quốc gia và hai dân tộc Miên Việt. Kinh Vĩnh Tế quan trọng nổi tiếng của Miền Nam dọc theo biên giới Việt Miên, nằm trong tỉnh này. Núi Sam với miểu Bà Chúa Xứ hằng năm có cả trăm ngàn người về dự lễ Vía Bà, và Thất Sơn huyền bí – “Miền Năm Non Bảy Núi” – đều ở nơi đây. Thất Sơn, ngọn núi quý hay Bửu Sơn, là cái nôi của một tôn giáo quan trọng của Miền Tây Nam Phần là Bửu Sơn Kỳ Hương với sự nối tiếp của Phật Giáo Hoà Hảo. Châu Đốc cũng là nơi sinh sống của một bộ phận rất quan trọng của dân tộc Chăm (hay người Chàm) mà người miền Nam thường gọi là Chà Châu Giang. Chúng ta hãy duyệt qua những nét văn hoá đặc thù của tỉnh ven  biên này.


Trước Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất người dân Châu Đốc chưa biết trồng lúa sạ. Họ vẫn theo lối trồng lúa nước cổ truyền của dân Việt. Lối trồng lúa cổ truyền này thất bại hoàn toàn ở vùng này vì vào mùa mưa, “mùa nước nổi”, nước sông Cửu Long dâng cao từ 1.5 thước đến 4.5 thước làm cho lúa chết và mùa màng bị hư hại hết. Người nông dân rất khổ sở, họ phải đi mua lúa gạo từ những nơi khác đem về sinh sống. Phải đến khoảng cuối thập niên 1920 nhờ sự khám phá ra giống “lúa sạ” của ông Phan Văn Vàng người nông dân mới gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp với loại ruộng bị nước ngập mênh mông vào mùa nước nổi ở vùng này. Lúa sạ là loại lúa không cần phải cấy, chỉ cần rải hạt giống (sạ) xuống ruộng rồi tự nó sẽ mọc lên. Đặc biệt là nó cứ lên cao theo mực nước, mực nước sông Củu Long lên cao bao nhiêu thì lúa cũng cao theo bấy nhiêu. Người Pháp gọi nó là lúa nổi (riz flottant), loại lúa hoàn toàn thích hợp với vùng nước nổi ở Long Xuyên Châu Đốc. Giống lúa này đã có từ xưa ở Miên nhưng người Việt mình chưa biết đến. Ông Phan Văn Vàng sống về nghề mua bán cá sấu ở bên Miên. Trong khi qua lại mua bán bên đó ông thấy được cách trồng lúa sạ của người dân Miên. Ông bèn mua lúa giống này đem về phổ biến ở Châu Đốc. Lúa sạ phát triển nhanh từ đó, đem lại nguồn lợi lớn lao cho nông dân vùng Châu Đốc Long Xuyên. Người dân ở đây nhớ ơn ông Vàng, lấy tên ông đặt tên đường trong thành phố như ở Tân Châu chẳng hạn. Trong quận lỵ Tân Châu có con đường mang tên Đường Phan Văn Vàng là vậy.


Ngoài lúa sạ Châu Đốc còn nổi tiếng về tơ tằm, nhất là ở quận Tân Châu. Từ xưa Tân Châu đã nổi tiếng là “xứ tằm tang”. Các làng mạc ở đây đều có trồng dâu nuôi tằm, đặc biệt là ở các xã Vĩnh Hoà, Tân An, Vĩnh Xương, Long Phú. Một số xã lân cận, thuộc quận khác cũng trồng dâu nuôi tằm như Thường Phước, Long Khánh, Long Thuận (quận Hồng Ngự). Hàng danh tiếng ở Tân Châu là lãnh “Mỹ A” rất được dân Miền Nam ưa chuộng. Gần đây khi các lò nhuộm bắt đầu nhuộm bằng mặc nưa thì lãnh Mỹ A càng được người ta ưa thích hơn nữa vì hàng đen mướt và không phai màu. Trái mặc nưa xưa kia phải mua từ Kampuchia nhưng sau này người ta cũng bắt đầu trồng ở Việt Nam.
Có loài cá đặc biệt có rất nhiều ở vùng Châu Đốc, nhất là ở miệt Tân Châu, Hồng Ngự, nhiều đến độ người ta phải dùng làm phân bón vì ăn không hết, mà làm mắm hay làm nước mắm cũng không hết. Đó là con cá linh, một giống cá trắng có vảy nhỏ, xuất phát từ vựa cá thiên nhiên của biển Hồ bên Miên. Hằng năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch thì nước sông Cửu Long bắt đầu quay (nổi màu đục ngầu từng cụm từng cụm  quay quay), tức là từ đó nước mưa từ trên nguồn bắt đầu đổ nhiều vào sông Cửu Long khiến nước dâng lên dần thật cao. Khi nước quay thì cá linh bắt đầu nở con li ti bằng cọng chân nhan. Các con cá linh con li ti này bắt đầu rời nơi sinh ra đời, thả lênh đênh theo dòng nước Cửu Long, trôi giạt về miền Châu Đốc Long Xuyên, xuống tận miền Hậu Giang. Nước sông mênh mông tràn lên đầy ruộng đồng vườn tược, cá linh cũng tràn lan theo nước, chổ nào cũng có. Lúc này cá linh đã lớn bằng đầu chiếc đủa. Đợi lúc nước hạ (thượng tuần tháng 10 âm lịch), chúng lần lượt ngược giòng Cửu Long trở về quê hương biển Hồ. Người ta đánh cá linh bằng cách xây đáy, ven đăng, đặt rọ theo mương, theo mấy khúc doi, theo các ngọn rạch, hoặc “vồn” (tức là xúc cá linh bằng dụng cụ đặc biệt giống như cây vợt thật to gọi là vồn). Người ta đi vồn cá linh bằng ghe, gọi là ghe vồn. Những người chỉ đánh cá linh để ăn trong nhà thì dùng một thứ dụng cụ đươn bằng tre gọi là “bò”. Qua mùa cá linh “lên” (ra đầy sông rạch) thì dọc theo bờ sông Tiền Giang từ biên giới Miên xuống đến Vàm Nao (xã Hoà Hảo), bến nào cũng có người ta thả “bò”, đốt đuốc dài dài theo bờ sông, nhộn nhịp kéo “bò”gọi nhau ơi ới làm vang dội cả một góc trời. Trong một đêm, mỗi cái bò có thể được kéo lên đôi ba dác, và mỗi dác như vậy có thể có đôi ba giạ cá linh. Đó chỉ là người thường đánh để ăn trong nhà. Những ghe đáy chuyên môn đánh cá linh để làm mắm và làm nước mắm thì không biết bao nhiêu giạ mà kể. Cá linh có thể nướng, có thể nấu chua, có thể kho hầm. Làm gì ăn cũng béo, cũng bùi cũng rất là ngon miệng. Đầu cá linh ăn cũng rất ngon, nhất là đầu cá linh kho hầm ăn với cơm cháy thì ngon hơn bánh mì cá mòi nhiều lắm.
Nói đến Châu Đốc là phải nói đến Núi Sam. Núi Sam ở cách tỉnh lỵ Châu Đốc 5 cây số. Núi Sam nổi tiếng vì ở đây có Miểu Bà Chúa Xứ, có Chùa Tây An và có Lăng Thoại Ngọc Hầu. Trong các đền thờ ở Miền Nam hiện nay có lẽ Miểu Bà Chúa Xứ là nơi quy tụ khách thập phương về nhiếu nhất, hơn cả Miểu Bà Đen ở Tây Ninh. Đây là một ngôi miếu rộng, vách gạch lợp ngói, nơi chánh điện có pho tượng Bà rất to, sơn phết rực rỡ. Tượng này không biết do ai tạc nhưng theo các nhà cổ học thì đây là tượng kiến trúc theo các nhà tạc tượng đạo Bà La Môn có thể vào khoảng trước thời Đế Thiên Đế Thích. Tượng cao 1 thước 25, nặng trên một tấn. Trước kia tượng đặt ở lưng chừng núi. Thoại Ngọc Hầu phu nhơn xây dựng Miếu ở dưới chân núi rồi cho thỉnh tượng về đây. Tương truyền rằng lúc đầu phải dùng nhiều người đàn ông lực lưỡng để di chuyển nhưng đám đàn ông này không cách gì khiêng nổi bức tượng, sau cùng phải nhờ đến sức của hằng trăm trinh nữ mới xê dịch được pho tượng rất linh thiêng này. Hai bên bàn thờ Bà có hai câu đối nói lên sự linh ứng của Bà:
“Cầu tất ứng, thành tất linh, mộng trung chỉ thị,
  Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.”


Tín ngưởng Bà Chú Xứ là tín ngưởng chịu ảnh hưởng hay đã được vay mượn của người Chàm. Trong quá trình phát triển về phương Nam người Việt đã giao lưu, vay mượn một số nét (traits) văn hoá, nhất là về kỹ thuật và tín ngưởng, của những dân tộc khác như Chăm và Khmer. Ở Châu Đốc, hay nói rộng ra cho cả Miền Tây Nam Phần, chỉ có hai cuộc lễ qui tụ đông đảo quần chúng nhất, đó là ngày “Vía Bà” ở núi Sam và ngày kỷ niệm thành lập giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo tại Thánh Địa Hoà Hảo. Ngày Vía Bà là ngày 25 tháng 4 âm lịch, và ngày kỷ niệm thành lập Phật Giáo Hoà Hảo là ngày 18 tháng 5. Vào những ngày này đường lưu thông thường bị tắt nghẻn bởi những đợt người từ các nơi tựu về.
Cách Miểu Bà Chúa Xứ chừng vài trăm thước là Chùa Tây An. Chùa được xây cất vào năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) lúc đầu còn nhỏ, lợp tranh với một ít tượng Phật do Tổng đốc Doản Uẩn thiết lập. Dần dần khách thập phương đến chùa dâng cúng nhiều tượng Phật khiến sau này chùa phải mở rộng ra và chứa trên 140 cốt Phật. Ngoài tượng Phật chùa có thờ cả tượng Thần Nông, Huỳnh Đế, Ngọc Hoàng. Ở phía hậu đường, ngay căn giữa có đặt một bàn thờ lớn trên đó có một pho tượng có mang mắt kiếng, cằm có râu, mặc áo nâu sồng, vẻ mặt từ ái. Đó là tượng Đức Phật Thầy Tây An, người đã làm cho ngôi chùa này phát triển không ngừng từ mấy chục năm qua. Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên, sinh ngày rằm tháng mười năm Đinh Mão (1807) tại làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Déc. Đức Phật Thầy bỏ nhà ra đi từ lúc nhỏ, không biết đi đâu làm gì? Mãi đến năm Kỷ Dậu (1848) Ngài mới trở về quê cũ. Ngay lúc đó bệnh dịch tả đang hoành hành ở vùng này. Ngài ra tay cứu chửa làm cho bao nhiêu người thoát chết. Tên tuổi Ngài vang dội khắp nơi, bổn đạo theo Ngài càng lúc càng nhiều khiến chánh quyền đâm ra lo ngại, phải tìm cách quản thúc Ngài ở Châu Đốc. Để tiện việc kiểm soát, chánh quyền chỉ định cho Ngài đến ở tại Chùa Tây An. Tại đây Ngài đã cảm hoá được vị hoà thượng ở chùa này và thu hút hằng vạn tín đồ về với Ngài. Từ đó người ta xem Ngài như một vị Phật, và tôn xưng Ngài là Phật Thầy Tây An. Đạo của Ngài cũng là đạo Phật nhưng cách lập giáo của Ngài khác hơn cách lập giáo của các nhà sư đương thời. Ngài giản dị hoá thủ tục thờ cúng, không gỏ mõ tụng kinh, không cạo đầu mặc áo cà sa, không cần phải cất chùa xây tượng Phật. Tu ở đâu cũng được, miễn tránh điều ác, làm điều lành, rửa lòng trong sạch, thực hành bốn ơn lớn (Tứ Ân) là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào nhân loại. Giáo lý của Ngài có phần mâu thuẫn với khung cảnh của chùa Tây An với hằng trăm tượng Phật bên trong. Thật ra thì chùa đã được xây dựng từ lâu trước khi Ngài bị chánh quyền đưa tới. Việc dâng cúng tượng Phật đã có từ trước và Ngài không muốn chen vào, thay đổi chính sách sẵn có của chùa. Đạo của Ngài cũng được gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương là nguồn gốc của Phật Giáo Hoà Hảo sau này.


Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm ở chân núi Sam, bên trái con đường Châu Đốc – Tịnh Biên. Qua nhiều bậc đá người ta sẽ lên đến một sân rộng ở trên cao có bốn trụ đá khổng lồ đứng sừng sửng ở phía trước, và nhiều ngôi mộ cái cao cái thấp ở bên trong. Sau hàng chục ngôi mộ là một đền thờ xây dựng dưới những tàn cây u nhả. Đền xây bằng tường vôi, nền đá tựa lưng vào núi Sam. Thoại Ngọc Hầu có nhiều công đối với triều đình nhà Nguyễn và nhất là có nhiều công ơn đối với người dân Miền Nam. Gốc người Quảng Nam, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, theo Gia Long đánh Tây Sơn, đi công cán bên Xiêm, bên Miên và Lào, giử nhiều chức vụ quan trọng như Chưởng Cơ Bắc Thành, Trấn Thủ Lạng Sơn, Trấn Thủ Định Tường, Bảo Hộ Cao Miên, Trấn Thủ Vĩnh Thanh, Khâm Sai Thống Chế án thủ Châu Đốc, v v. . . Nhưng công tác được người đời nhớ nhiều nhất là công việc khẩn hoang và đào kinh. Ông bảo : “Thần thụ mệnh vua, siêng năng kính cẩn, nhóm dân lập ấp, tuỳ xem địa thế: một đường ngang song song ra đến trường giang, một đường thẳng lên Sốc Vinh, một đường ngay đến Lò Gò. Vổ về dân sự, mở mang thôn ấp, khai khẩn ruộng vườn, tuy trong muôn phần chưa thoả mãn được một, nhưng đem nay mà sánh xưa, thì đã khác lạ lắm.”  Ngoài những công việc quan trọng trên, ông còn đào hai con kinh rất có giá trị quân sự, kinh tế, chính trị và xã hội đối với Miền Nam. Con kinh thứ nhất ăn thông từ Long Xuyên qua Rạch Giá được triều đình nhà Nguyễn đặt tên là Thoại Hà và núi bên cạnh kinh là núi Thoại Sơn (lấy tên của Nguyễn Văn Thoại). Con kinh thứ nhì quan trọng hơn nữa, đó là con kinh chạy dài từ Châu Đốc đến Hà Tiên, dọc theo biên giới Miên Việt. Kinh này được vua Minh Mạng đặt tên là Vĩnh Tế Hà, và phần núi Sam bên cạnh kinh này được đặt tên là Vĩnh Tế Sơn (Vĩnh Tế là danh xưng của Nhất Phẩm phu nhân của Bảo Hộ Thoại).


Ngoài núi Sam, Châu Đốc còn có phần núi Thất Sơn, vùng núi đầy mầu nhiệm huyền bí của rất nhiều người dân Miền Nam cũng như dân Khmer trước đó. Danh xưng linh thiêng của vùng này của người Miền Nam là vùng “Năm Non Bảy Núi”. Bảy núi tức là Thất Sơn (thất là bảy, sơn là núi). Bảy núi này là : (1) Núi Két (Anh Vũ sơn), (2) núi Giày 5 giếng, gần núi Két (Ngũ Hồ sơn), (3) núi Gấm hay núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), (4) núi Tượng (Liên Hoa sơn), (5) núi Nước gần núi Tượng (Thuỷ Đài sơn), (6) núi Dài (Ngoạ Long sơn). và (7) núi Tô (Phụng Hoàng sơn). Còn Năm Non là năm cái chỏm cao (còn gọi là “Vồ”) của Núi Cấm. Năm cái vồ đó là : Vồ Bò Hong, Vồ Đầu, Vồ Bà, Vồ Ông Bướm, và Vồ Thiên Tuế. Thất Sơn nằm trong khu tam giác Tịnh Biên – Nhà Bàng – Tri Tôn, choán một khu vực dài 30 km, bề ngang độ 17 km (khoảng 1/7 diện tích tỉnh Châu Đốc). là một pháo đài thiên nhiên vô cùng kiên cố bên cạnh Kampuchia và Thái Lan, án ngữ cả vùng biển Hà Tiên, Rạch Giá. Thất Sơn là nơi trú ẩn, và là mật khu của những anh hùng chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX. Thất Sơn cũng là vùng linh địa là cái nôi của Phật giáo Miền Nam hay Bủu Sơn Kỳ Hương. Phật Thầy Tây An, Phật Trùm, Ông Đạo Khoai đều đã từng tu luyện nơi đây. Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hoà Hảo cũng đã từng vào đây học đạo. Đối với các nhà tu hành, các nhà tôn giáo, cũng như một số người hiểu biết thuở xưa thì Thất Sơn chứa nhiều huyền bí nhiều nhiệm mầu mà người thường không biết được. Người ta thường nói đến Thất Sơn hay vùng “Năm Non Bảy Núi” với lòng tôn kính sợ sệt từ xưa đến giờ. 
Trong toàn tỉnh Châu Đốc có bảy thôn ấp có người Chăm ở. Đó là các thôn ấp Koh Ta-boong (mà người Pháp âm là Kotampong), Hà Bao, Vĩnh Trường, Phum Soài, Khánh An, Khánh Bình và Châu Giang. Người Việt ở Miền Nam gọi họ là Chà Và hay Chà Châu Giang. Thật ra họ là người Chàm gốc ở Miền Trung. Vì trốn tránh chiến tranh một số đã sang sinh sống ở Kampuchia. Năm 1755 khi Nguyễn Cư Trinh bình định Cao Miên có chiêu dụ một số người Chăm về vùng Tây Ninh, Hồng Ngự và Châu Giang Châu Đốc khai khẩn ruộng vườn, góp phần ngăn chặn giặc Miên vùng biên tái xa xôi này. Hồi năm 1932 một số người Chăm ở vùng Phan Rang Phan Rí theo Lê Văn Khôi chóng lại triều đình Huế. Thất bại nhóm người này bị tàn sát rất nhiều. Một số phải bỏ xứ trốn đi qua Kampuchia, một số rút lên Miền Thượng, và một số đến nương ngụ với những đồng bào Chàm ở Châu Đốc. Người Việt ở đây thấy họ giao thiệp với Mả Lai, sang học đạo ở Pattani mới lầm tưởng họ là người Mả Lai và mới gọi họ là Chà Và hay Chà Châu Giang. Tiếng Chà Và do tiếng Java (ở Nam Dương) mà ra. Đối với người Chăm, danh xưng Chà Và là một danh xưng có tính cách khinh miệt cũng giống như danh xưng An Nam mà người Hán đã gán cho người Việt mình vậy. Người Chăm ở Châu Đốc theo Hồi giáo. Họ cử thịt heo, khi có người chết thì chôn chớ không thiêu như đạo Bà La Môn. Con trai khi lớn lên khoảng 13, 14 tuổi thì phải chịu lễ cắt quy đầu (circoncision), còn con gái thì khuê môn bất xuất. Theo tục lệ của người Hồi giáo, khi có khách đàn ông đến nhà thì đàn bà rút vào trong không được tiếp khách. Thỉnh thoảng cũng có người Chăm lấy vợ Việt Nam nhưng ngược lại người ta không thấy có người đàn ông Việt Nam nào lấy được vợ Chăm có lẽ vì những tập tục khắt khe đối với phụ nữ của người Hồi giáo. Mỗi ngày người Chăm phải hành lễ 5 lần, tiếng Mả Lai gọi là Sambahyăng, và mỗi năm phải chịu một tháng Ramadan (khoảng tháng 4 – 5 dương lịch) là tháng họ phải nhịn đói, không được hút thuốc và phải kiêng cử cả việc chung chạ với đàn bà. Nhịn đói, chịu khổ nhục là để thông cảm nổi khổ đau củng người nghèo khổ và nhân đó con người sẽ cảm thấy biết ơn Thượng Đế Allah. Người Chăm cử hành đại lễ Roya, đọc kinh Coran và đi chúc mừng nhau giống như ngày Tết của người Việt Nam vậy. Xin mượn lời Dohamide & Dorohiêm nói về Koh Ta-booong, một thôn ấp khép kín của người Chăm ở bên kia bờ Hậu Giang ngang tỉnh lỵ Châu Đốc, trong quyển “Bangsa Champa” của hai ông để kết thúc bài viết về tỉnh này:
“Từ bên này bờ sông nhìn sang bên kia, không xa lắm, chỉ vào khoảng 50 thước là cùng, tiếng trẻ em vui đùa vẫn vọng mồn một sang bên này bờ, nhưng thực tế là hai thế giới khác biệt. Thật vậy, nhà cửa bên kia sông, thường đắp nền cao rồi dựng cột và vách lên, bên trong nhà có bàn thờ tổ tiên, bày biện bàn ghế, giường ngủ có chân cao. Hầu như trước nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhỏ gọi là “bàn ông Thiên” buổi chiều khói hương nghi ngút. Bên này sông, trái lại, nhà nhà đều có sàn; cột thường bằng cây nguyên bào nhẵn, cao khỏi đầu người, mặt tiền nhà nào cũng có một cái thang rắn chắc bằng gỗ, và bên trong nhà hầu như không có bàn ghế, nên khi khách đến nhà thì chủ nhà trải chiếc chiếu hoặc tấm thảm, để chủ khách cùng ngồi xếp bằng trên sàn gỗ. Nhà cửa cất phần lớn sát vào nhau, cả làng hầu như không có nhà nào trồng rau quả, vườn tược, nhứt là vườn trầu xanh tươi như bên kia bờ.
Người dân bên này bờ thường vận chăn sà-rong vấn quanh mình, dài đến gót chân, bình thường gọi người dân bên đất liền là yuôn, và ngược lại, những người yuôn này lại gọi người dân bên cù lao là Chàm, có khi là Chà, và khi có chút gì không bằng lòng nhau thì gọi là . . . Chà và. Người dân bên cù lao sống bao quanh chúng tôi tự gọi mình là người Chăm, trong sanh hoạt hằng ngày, sử dụng một ngôn ngữ riêng không phải tiếng Việt mà là tiếng Chăm.
Vào thập niên 1940, thời Pháp thuộc, xã hội người Chăm ở Koh Taboong sống còn rất khép kín, nên chỉ một số ít người có giao dịch với bên ngoài mới nói và hiểu được chút ít tiếng Việt. Do thiếu giao lưu về văn hoá và xã hội, giữa người Chăm bên này bờ và người Yuôn bên kia bờ rạch, đều có một số thành kiến với nhau về một số mặt thực tế trong sanh hoạt hằng ngày. Cụ thể, người Yuôn dùng đủa ăn cơm thì bị người Chăm chê là Đáng Tạo Hoá (Allah) đã tạo ra bàn tay cho con người sử dụng, thì tại sao lại đi dùng hai chiếc đủa để gắp đồ ăn được xem là rizki, tức ăn phước của Đáng Tạo Hoá ban cho như vậy? Ngược lại người Yuôn lại tỏ ra gớm tục ăn bốc của người Chăm, có vẽ như không mấy hợp vệ sinh. Mãi về sau này, tôi mới được rõ, người Yuôn và người Chăm thuộc hai nền văn minh khác biệt, một bên là nền văn minh đôi đủa, và một bên là nền văn minh ăn bốc, mỗi nền văn minh bao trùm một số dân tộc sanh sống trên một vùng bao rộng của trái đất. Có đi sâu tìm hiểu thì mới biết tập tục ăn bốc là tập tục chung của người A Rap, người Thổ, người Ấn Độ, người Mả Lai, người Nam Dương, v v . . . đòi hỏi cả một kỷ thuật, tạo thành thói quen từ hồi còn bé thơ, trước và sau khi ăn, phải rửa tay, chỉ sử dụng ba ngón giữa và ngón cái của bàn tay mặt để đưa cơm vào miệng, trong khi bàn tay trái chỉ để cầm những gì dơ bẩn.” ( Dohamide & Dorohiêm, Bangsa Champa, tr. 26-28).
    
http://thatsonchaudoc.com/banviet2/NguyenThanhLiem/GopNhat/ChauDoc.htm
Xem chi tiết…

BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ĐẠO VĂN CỦA DIENBATN.

3/02/2011 |
BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ĐẠO VĂN CỦA DIENBATN.
Đã lâu lắm , dienbatn không đọc báo giấy. Bữa qua vô tình cầm một tờ báo của người khác bỏ lại trên ghế mới thấy một chuyện lạ như sau . Tờ báo ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ( Cơ quan Trung ương của Hội Luật gia Việt Nam ) số 24 ra ngày thứ năm 24/2/2011 có đăng bài " Hóa giải nỗi khiếp sợ mang tên Trùng tang " của tác giả Vương Hà.








 
Vấn đề Trùng tang liên táng đã được dienbatn nghiên cứu và công bố từ rất lâu trên các trang web và Blog của mình. các bạn có thể truy cập những bài viết đó tại đây :
Tại đây :
Tại đây :
Tại  đây :
Và còn rất nhiều trang web khác đăng tải lại.

Trùng tang liên táng là một hiện tượng có thật trong cuộc sống của chúng ta . Không có nhiều tư liệu viết về hiện tương này , nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng với nhau những trường hợp chết phạm vào Trùng tang liên táng hết sức đau thương , thậm chí có nhà nhân đinh đông đúc là thế mà chỉ vài ba năm phải chịu cảnh tuyệt tự . Tại miền Bắc Việt Nam có một trung tâm nhốt Trùng lớn nhất nước : Đó chính là chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh .Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ.   Nơi đây từ ngày xưa , các vị sư tăng đã có những phương pháp Trấn Trùng rất huyền bí mà hiệu quả . Hàng ngày , vào buổi chiều , các sư ở đây phải nấu một nồi cháo to , cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây, bữa nào quên là gà vịt của dân quanh vùng thay nhau chết la liệt .  Ngoài ra , tại miền Bắc Việt Nam , từ xưa đã  có các môn phái Pháp Sư theo Bắc Tông , Pháp sư các môn phái Phù thủy của đồng bằng bắc Bộ nhất là tại các tỉnh Bắc Ninh , Hải Phòng , Nam Định ... có khả năng hóa giải Trùng tang liên táng rất hay . Thông thường , các vị sư trong chùa chỉ học theo đạo Phật chứ ít khi học theo kiểu Pháp sư , Phù Thủy , thế nhưng đặc biệt ở chùa Hàm Long - Bắc Ninh , Liên Phái - Hà Nội và một vài chùa nữa lại có những bộ ván khắc in phù giải Trùng tang liên táng từ hàng trăm năm .
Trùng tang liên táng là một hiện tượng rất hay xảy ra trong cuộc sống , nó được cha ông ta nghiên cứu từ ngàn xưa . Biểu hiện của nó là sau khi trong nhà có một người bị chết vì bất cứ lý do nào , sau 49 ngày thì trong dòng họ trực hệ của người mất lần lượt có hiện tượng chết nhiều người thường là có nguyên nhân không xác đáng hay chết bất đắc kỳ tử . Nhiều trường hợp như dienbatn gặp tại Hà Tĩnh , sau khi người cha mất , lần lượt 9 người con trai của người đó chết vì những lý do không ngờ được : Chết đuối , chết cảm , chết tai nạn giao thông ....Cuối cùng chỉ còn duy nhất bà mẹ già 90 tuổi sống côi cút với mấy con bò. Khi gặp , dienbatn ngồi tính lại mới thấy rằng , ông cụ khi chết phạm cả 4 cái trùng tang : Năm , tháng , ngày , giờ . Ngồi nhìn bà cụ còm cõi theo mấy con bò , dienbatn ứa nước mắt . Nếu có hiểu biết sớm , chắc chắn sẽ cứu được rất nhiều người con của bà . Chỉ tiếc rằng - Đất Hà Tĩnh ngày xưa có nhiều Thày giỏi , nay đã quy tiên hết mất rồi .
Trùng tang liên táng hoàn toàn có thật , bản chất của sự việc này ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào khả dĩ có thể giải thích được . Trong quá trình nghiên cứu về hiện tượng này , dienbatn cho rằng đó tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng . Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng . Vì lý do " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu " hay hiện tượng cộng hưởng tần số . .  Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương :Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của Trùng ,nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào.Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống ,dòng họ.Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều,nên trong lý thuyết về Nhạc,loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia ).Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.  Chính điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang liên táng mới bị , còn những người khác và con Dâu , con Rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hường .
Trùng tang liên táng là một sự thực , dù cho người ta đến ngày hôm nay vẫn chưa tìm ra bản chất của nó . Từ xa xưa , người Việt chúng ta đã có quá trình theo dõi , điều trị có hiệu quả việc này . Thực ra sau khi tính toán và phát hiện ra người chết phạm vào Trùng tang liên táng , việc điều trị rất đơn giản và hiệu quả rất cao . Điều cần thiết là khi phát hiện ra phải điều trị càng sớm càng tốt . dienbatn xin giới thiệu một số phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng có kết quả mà dienbatn sưu tập được và một vài phương pháp dienbatn thường sử dụng đạt được kết quả khá tốt .  Một điều cần chú ý là có nhiều phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng , nhưng những phương pháp của Tiên Gia , Phù thủy , Đạo gia thường là những phương pháp bắt nhốt Trùng . Cách này tuy hiệu quả nhưng thực ra rất nguy hiểm vì khi công lực của Thày còn cao , Trùng còn phải chịu hãm trong vòng tù ngục , nhưng khi Thày chết , không còn ai cai quản nhà tù nữa , Trùng sẽ thoát ra gây ảnh hưởng rất nặng đến Gia đình Thày và Thân chủ . Phương pháp tốt nhất là dùng Mật Tông , trì chú cho Trùng được siêu thoát , sau đó hồi hướng công đức cho họ . Phương pháp này dùng những năng lực của Phật pháp , siêu độ cho Trùng rất tốt , khiến cho Trùng sớm siêu thăng tịnh độ , không còn làm ác được nữa .
Có nhiều cách hóa giải Trùng tang liên táng theo nhiều pháp môn . Mỗi pháp môn có cái hay và cái dở riêng . Trong Nam dienbatn chưa thấy có người nào hay môn phái nào chú ý đến hiện tượng này . Ngoài Bắc thì cách đây gần 1000 năm ( Thời Lý ) đã có những trung tâm trấn trùng nổi tiếng là Chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh . Chùa này còn lưu giữ bộ ván khắc Bùa Trấn trùng đầy đủ nhất . Sau này , không hiểu cơ duyên nào , chùa Liên Phái tại Hà Nội cũng có được bộ ván khắc này .
Qua một thời gian nghiên cứu khá lâu , từ một bài thuốc Trấn trùng tang liên táng bí truyền của dòng họ , dienbatn đã kết hợp sử dụng một số Sớ , Phù Bắc Tông được vẽ hai lớp bằng mực và Kỳ Nam ( Tinh chất của Trầm Hương ) và vận dụng Đàn pháp Mật Tông Tỳ Lô Giá Na , Dược Sư , Chuẩn Đề, tụng chú liên tục trong 3 ngày sẽ là một thứ thuốc dùng để xông mộ và người rất hiệu quả . Phương pháp này khi xông xong mộ và người sống , chúng ta vẫn được thờ cúng người mất như bình thường , không cần phải gửi lên chùa Hàm Long . Trải qua hàng trăm trường hợp đã thực hiện trong những năm vừa rồi , tỷ lệ thành công trấn Trùng là 100% . Nguyên lý của bài thuốc này là không bắt nhốt Trùng và Vong hồn người chết nhốt vào tháp , mà dùng hơi thuốc , kết hợp với Quang năng của chư Phật , cầu siêu , giải thoát cho Trùng , biến nó từ Âm Binh thành Thiên Binh . Sau khi vỡ cái Vô Minh vốn có , họ rất vui mừng , cảm tạ . Cách này làm cho Vong linh của người mất , nhờ các Đà La Ni của chư Phật cũng được giải thoát rất nhanh . Có những trường hợp do Trùng đã xâm nhập cơ thể , các phương pháp khác đành bó tay thì sau khi xông thuốc của dienbatn cũng đều được qua khỏi . Về bản chất của vấn đề theo cách hiểu của Khoa học thời nay thì do tác động của thuốc xông , của Phù , chú ...hiện tượng cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống sẽ không xảy ra nữa .
Trong sách kinh Phúc Âm có viết " Phúc cho ai không thấy mà tin " . dienbatn biết rằng vấn đề Trùng tang liên táng không khỏi có người nghi ngờ , diễu cợt . Tuy nhiên , mạng sống của con người là vô cùng quan trọng . Đừng để đến lúc xảy ra mất người rồi thì hối cũng không kịp . Mỗi khi trong nhà có người mất , các bạn nên giành 10 phút để kiểm tra theo hướng dẫn ở trên , 10 phút đó nhiều khi giá trị bằng nhiều mạng người đó các bạn .
 Các bài viết của dienbatn đăng tải trên mạng đều công bố các công trình nghiên cứu của mình Free để phục vụ cộng đồng, các bạn có thể đăng tải về sử dụng. Tuy nhiên khi đăng tải nhớ kèm theo đường dẫn nguồn trích dẫn. Việc báo ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ( là cơ quan trung ương của hội Luật gia Việt Nam ) khi sử dụng tư liệu của dienbatn cũng nên chứng tỏ mình là những Luật gia đúng nghĩa.
Thân ái. dienbatn.
Xem chi tiết…

2/02/2011 |
CHÀO TẾT NĂM TÂN MÃO 2011.
dienbatn chúc tất cả các bạn hữu gần xa trong và ngoài nước một cái Tết an lành, hạnh phúc, vạn sự như ý.
Xem chi tiết…

TOP HOT


THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *