Blog chuyên nghiên cứu và chia sẻ văn hóa phương Đông - phong thủy - tâm linh - đạo pháp - kinh dịch...
EMAIL : dienbatn@gmail.com
TEL : 0942627277 - 0904392219.LOẠT BÀI NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU VỀ CHÚA TRỊNH VÀ PHỦ TRỊNH.
BÀI 2. Phủ Chúa Trịnh: Trung Tâm Quyền Lực, Biểu Tượng Của Một Thời Đại.
LOẠT BÀI NGHIÊN CỨU
CHUYÊN SÂU VỀ CHÚA TRỊNH VÀ PHỦ TRỊNH.
BÀI 2. Phủ Chúa Trịnh:
Trung Tâm Quyền Lực, Biểu Tượng Của Một Thời Đại.
Trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của Đại Việt, thời kỳ
Lê Trung hưng nổi bật với một thể chế chính trị độc đáo: "lưỡng đầu chế",
nơi vua Lê chỉ còn danh nghĩa, còn quyền bính thực sự nằm trong tay các Chúa Trịnh
. Biểu tượng rõ nét nhất cho quyền uy tuyệt đối của họ Trịnh chính là Phủ Chúa
Trịnh (chữ Hán: 鄭王府
/ Trịnh vương phủ), một công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga bậc nhất Thăng
Long bấy giờ. Vốn mang nhiều danh xưng chính thức như Chính phủ, Soái phủ, hay
Nội phủ, Phủ Chúa không chỉ là nơi làm việc mà còn là biểu tượng sống động cho
sự thăng trầm của một dòng họ đã định đoạt vận mệnh Đàng Ngoài suốt hơn hai thế
kỷ .
I. Từ Nền Móng Quyền
Lực Đến Trung Tâm Chính Trị.
1. Bối cảnh hình
thành và sự chuyển dịch quyền lực.
Sau khi giúp nhà Lê trung hưng đánh bại nhà Mạc và khôi phục
kinh thành Thăng Long vào năm 1593, quyền lực của họ Trịnh ngày càng được củng
cố. Năm 1599, Trịnh Tùng tự lập làm Đô nguyên soái, Tổng quốc chính, Thương phụ,
Bình An vương . Với uy quyền ngày một cao, Trịnh Tùng đã yêu cầu vua Lê Thế
Tông cho phép mở phủ Chúa và đặt quan thuộc . Vua Lê, trong tình thế bất đắc
dĩ, phải chấp thuận, ban thêm cho Trịnh Tùng ngọc toản (chén ngọc), tiết mao (cờ
lông) và hoàng việt (búa vàng) – những biểu tượng đặc quyền của vua chúa thời phong
kiến.
Từ thời điểm này, Phủ Chúa Trịnh chính thức được thiết lập
và trở thành trung tâm thực sự của bộ máy nhà nước phong kiến . Mọi việc lớn nhỏ
trong nước, từ của cải, thuế khóa, quân lính đến dân chúng, đều do Phủ Chúa tự
quyết đoán. Triều đình vua Lê chỉ còn giữ danh nghĩa, không có thực quyền . Điều
này dẫn đến một thực trạng đáng buồn: cung vua ngày càng hoang tàn, trong khi
phủ chúa lại nguy nga tráng lệ.
2. Bộ máy hành chính
"lưỡng đầu" và sự lấn át của Phủ Chúa.
Ban đầu, hệ thống tổ chức chính quyền tại Phủ Chúa vẫn dựa
theo quan chế thời Hồng Đức, có điều chỉnh để phù hợp với tình thế mới . Tuy
nhiên, đến giữa thời Lê Trung hưng, khi các chúa Trịnh đã nắm hết quyền hành, họ
đã thiết lập một hệ thống "Lục phiên" (bao gồm Lễ phiên, Lại phiên,
Công phiên, Hộ phiên, v.v.) nằm trong phủ chúa, hoạt động song song và có vai
trò quyết định hơn "Lục bộ" truyền thống của triều đình Lê. Cụ thể,
vào năm 1718,
Trịnh Cương đã đặt thêm Lục phiên tương đương với Lục bộ (Lại,
Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) bên phủ chúa, nhằm rút hết quyền hành của Lục bộ bên
triều đình . Lúc này, Lục bộ của vua Lê chỉ còn mang tính hình thức, mọi công
việc đều do Lục phiên đảm trách.
Sự ra đời và phát triển của Phủ Chúa Trịnh là minh chứng rõ
ràng cho sự chuyển dịch quyền lực từ vua Lê sang chúa Trịnh. Nó không chỉ là một
công trình kiến trúc mà còn là một thể chế chính trị, nơi mọi quyết sách quan
trọng của Đàng Ngoài được ban hành. Sự đối lập giữa cung vua hoang phế và phủ
chúa nguy nga đã phản ánh chân thực tình trạng "hữu danh vô thực" của
nhà Lê và quyền uy tuyệt đối của họ Trịnh.
II. Vị Trí và Quy Mô
Kiến Trúc Đồ Sộ.
Phủ Chúa Trịnh là một công trình kiến trúc đồ sộ, được xây dựng
liên tục trong khoảng một thế kỷ rưỡi (từ 1592 đến 1749). Nó được xây bằng gạch,
bao bọc nhiều cung điện, lầu các mà các đời chúa Trịnh đã lần lượt cho xây dựng
.
1. Vị trí tại Thăng
Long.
Theo các bản đồ cổ và thư tịch, Phủ Chúa Trịnh nằm ở phía
Tây Nam hồ Gươm (hồ Tả Vọng) . Về vị trí cụ thể, có nhiều giả thuyết khác nhau.
Giả thuyết được nhiều người tán thành nhất cho rằng phủ Chúa là một hình chữ nhật
tương ứng với các phố ngày nay: hai bề dọc là hai đoạn đầu phố Bà Triệu và phố
Quang Trung, hai bề ngang là hai đoạn giữa phố Hai Bà Trưng và Trần Hưng Đạo,
ngõ-xóm Hạ Hồi . Khu vực nội phủ rộng lớn, ứng với các khu vực ngày nay bao gồm
Bệnh viện Việt Đức, qua phố Tràng Thi, Thư viện Quốc gia, Tòa án Nhân dân Tối
cao, phố Hỏa Lò tới giáp phố Thợ Nhuộm.
Phía trên (phía trái mặt Đông phủ) có hồ Tả Vọng (Hồ Gươm),
phía dưới là hồ Hữu Vọng (quãng từ các phố Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Vọng Đức,
xuống tới các phố Lò Đúc, Hàn Thuyên và Hàng Chuối bây giờ) với ngụ ý hai hồ hướng
về phủ chúa . Một số mô tả từ các lái buôn phương Tây còn cho thấy Phủ Chúa Trịnh
dường như nằm ở ven sông Hồng, nơi thủy quân của vua Lê chúa Trịnh thường xuyên
luyện tập . Đối chiếu các nguồn tư liệu, có thể đưa ra giả thuyết rằng quần thể
Phủ Chúa Trịnh được xây trên một diện tích rất rộng, trong đó khu chính ở phía
Tây Nam hồ Hoàn Kiếm, sau đó có thêm nhiều công trình kiến trúc tiến dần sang
phía Đông và Đông Nam, sát bờ sông Hồng (trải dài trên một quãng từ Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam đến Bệnh viện Việt - Xô ngày nay).
2. Cấu trúc và các
công trình nổi bật.
Toàn bộ khu Phủ Chúa có hình vuông với tường thành bao
quanh. Phủ có ba cửa chính: Chính môn (hay Chính Nam) ở phía Nam (khoảng phố Bà
Triệu), Tuyên Vũ môn ở phía Đông (quay ra khoảng giữa hai hồ Tả Vọng và Hữu Vọng,
gần lầu Ngũ Long), và Diệu Công môn (hay Diệu Đức) ở phía Tây (thông ra Cửa Nam
kinh thành Thăng Long, là hướng giao lưu chính với Hoàng thành Thăng Long).
Xung quanh phủ và ven các hồ lân cận, nhà chúa cho xây dựng
khá nhiều nguyệt đài, thủy tạ. Điển hình là Tả Vọng đình trên Gò Rùa (nền Tháp
Rùa ngày nay), cung Khánh Thụy, và núi Ngọc Bội để tôn vinh võ công ở bờ phía
Tây hồ. Nhà chúa cũng thường cho lập các trại thủy binh trên hồ, nên hồ Hoàn Kiếm
còn được gọi là hồ Thủy quân .
Một công trình kiến trúc đặc biệt là lầu Ngũ Long, được chúa
Trịnh Doanh cho xây dựng vào năm 1644 tại cửa ô Tây Long (nay là Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam, gần Bưu điện Hà Nội). Lầu Ngũ Long cao chót vót ba tầng chính, năm
tầng mái, cao khoảng 120 thước (tương đương 60m). Lầu được xây kiên cố bằng đá
phiến lớn, có hai mặt thềm đá bậc lên tầng lầu, chính giữa là điện Quang Minh.
Phần mái trên điện Quang Minh có năm tầng mái đắp năm con rồng nổi, thân vảy
dát mảnh sứ Tàu vàng óng ánh, vây rồng bằng đá cẩm thạch màu. Khi mặt trời chiếu
sáng, ánh nắng rọi vào mình rồng óng ánh như đang chuyển động. Lầu Ngũ Long
không chỉ là công trình kiến trúc mà còn mang tính chất quân sự, phòng thủ vững
chắc, với súng thần công được đặt ở thềm hai bên cửa. Đây cũng là nơi chúa ngự
duyệt thủy quân, tổ chức lễ kỳ đạo, và là nơi các tân khoa thi Hương bái mạng
chúa.
Ngoài phủ, chúa Trịnh còn cho xây dựng những chuồng voi ước
chừng có từ 150-200 con, hàng ngày được dẫn xuống sông để uống nước và tắm rửa.
Các kho thuốc súng và bãi duyệt binh cũng được Dampier mô tả: "Đằng trước
phủ chúa có một bãi rộng hình vuông cho quân lính luyện tập. Ở một bên có chỗ
cho các quan ngồi xem quân lính luyện tập. Ở một bên khác có một kho súng ống
và đạn đại bác" . Bãi cát duyệt binh này là địa điểm chính trong những
ngày lễ Tế cờ và thi đấu võ .
III. Cấu Trúc Nội Phủ
và Đời Sống Xa Hoa Bậc Nhất.
Phủ Chúa Trịnh thực sự là một "cõi tráng lệ chẳng kém
gì cung vua" . Để bước vào phủ, trước tiên phải qua Chính môn, rồi đến cửa
thứ hai là Cáp môn có xá nhân canh giữ. Tiếp đến là phủ Tiết chế, khu quân
lính. Từ Cáp môn có Tiền mã quân túc trực tới đại điện. Sân điện rộng lớn nằm ở
chính giữa, với thềm gác hai tầng bày nghi trượng, vũ khí, chiêng trống, nghi vệ.
Phía sau là tòa Trung Đường, Nghị sự đường, Hậu đường, Tĩnh đường.
Nội cung có lầu Ngũ Phượng, nơi Tuyên phi ngự, cùng với các
hoa viên. Đường nối qua các cung là hành lang có điếm hậu mã quân túc trực, bao
lơn lượn vòng kiểu cách tuyệt đẹp. Sau nội cung có Thái Miếu, nơi thờ phụng các
tổ tiên Chúa Trịnh.
Vườn Ngự uyển ở sau cùng của Vương phủ có nhiều hồ lớn,
quanh bờ trồng nhiều cây cảnh kỳ lạ được thu thập từ muôn phương. Đường uốn lượn
quanh co, giữa đất bằng có núi non ghép cảnh; lâu đài bên hồ có thạch kiều, liễu
rủ; trong vườn có nhiều chim thú lạ.
1. Những mô tả sống động
từ người đương thời.
Sự xa hoa, tráng lệ của Phủ Chúa Trịnh được nhiều tác giả
đương thời, cả trong và ngoài nước, ghi lại một cách chi tiết.
Samuel Baron, thương gia Anh Quốc đến Thăng Long năm 1680,
mô tả: "Phủ Chúa ở Trung tâm thành phố Kẻ Chợ. Những dinh thự dành cho người
nhà chúa được xây 2 tầng có nhiều cửa mở thoáng đãng. Các cửa đồ sộ, chạm trổ
công phu và tất thảy đều làm từ gỗ lim. Các tư thất và cung dành cho phụ nữ đều
lộng lẫy, xa hoa, có chạm trổ, sơn son thiếp vàng. Sân trước khu dinh thự có chuồng
voi lớn và ngựa tốt, trong sân có nhiều vườn cảnh, khóm cây; lối đi có những
chòi tháp nhỏ, ao cá và tất cả những gì chúa giải trí, vui chơi, mặc dù họa hoằn
chúa mới đến đây thưởng lãm".
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, danh y từng được chúa Trịnh
Sâm vời vào phủ chữa bệnh cho vương tử Trịnh Cán, đã ghi chép đầy thán phục
trong Thượng kinh ký sự (viết năm 1781) : "Tôi ngẩng đầu nhìn, thấy bốn bề
tám phía chỗ nào cũng có cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua nở, gió
thoảng hương trời. Hành lang, lan can quanh co, tiếp nối song song... Vòng
quanh ước chừng một dặm, nơi nào cũng lầu đài, đình, gác, rèm châu cửa ngọc,
ánh nước mây lồng, suốt lối toàn hoa cỏ kỳ lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp
chim quý, nhảy nhót bay hót, giữa đất bằng nhô lên ngọn núi cao, cây to bóng
mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc ngang lạch nước quanh co, lại có lan can toàn bằng đá
màu. Tôi vừa đi vừa ngắm, thực chẳng khác gì cõi tiên vậy". Ông còn mô tả
bữa ăn sáng trong phủ với "chén bạc mâm vàng, các món ăn đều quý lạ"
và cảnh nội cung với "màn gấm mở ra, vào bên trong thấy đen tối, không biết
đâu là cửa ra, màn trướng thì hết lớp này đến lớp khác, mỗi lớp đều có thắp một
ngọn nến để dẫn đường... cung nhân đứng xúm xít với nhau, nến sáng lụa che, mặt
phấn áo hồng, lóng lánh mọi vẻ; mùi hoa thơm chan hòa khắp nhà" .
Tuy nhiên, Thượng kinh ký sự cũng cho thấy sự đối nghịch rõ
rệt giữa cuộc sống xa hoa, lầu son gác tía của cung vua phủ chúa và cảnh đời
đói kém, lầm than của nhân dân. Lê Hữu Trác, một người không màng danh lợi, đã
thể hiện tấm lòng mong muốn thoát khỏi vòng công danh phú quý, trở về với núi
cũ non xưa.
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong Tang thương ngẫu lục cũng khắc
họa chi tiết đời sống xa hoa trong phủ chúa, đặc biệt là thú chơi kỳ hoa dị thảo
và các lễ hội. Chúa Trịnh cho thu thập "bao nhiêu những loài trân cầm dị
thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian" . Thậm chí, có
khi phải "phá nhà hủy tường để khiêng ra" những hòn đá hoặc cây cối
quá lớn . Bọn hoạn quan và cung giám lợi dụng việc này để dọa dẫm, cướp bóc dân
chúng, buộc họ phải "chặt cây, phá cảnh, giết chim để tránh khỏi tai vạ".
Phủ chúa Trịnh ngày thường đã là bậc kỳ quan kiến trúc,
nhưng đến ngày lễ hội thì vẻ đẹp xa hoa của nơi đây mới thực sự bộc lộ hết.
Nguyễn Án tả: "Mỗi năm đến tết Trung thu, từ trước mấy tháng, chúa phát gấm
trong cung ra để làm hàng trăm, hàng nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo
tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng". Đến ngày chúa ngự chơi Bắc
cung, cung có ao Long Trì rộng nửa dặm, trồng sen, súng, ven ao đắp núi non,
treo đèn phù dung. Nội thị từ tam phẩm trở lên, "chít khăn mặc áo như đàn
bà, bày hàng ở rìa đường, bán những tạp hóa cùng các đồ hoa quả, chả, rượu, thức
gì cũng có, chồng chất như núi" . Nửa đêm chúa ngự thuyền trên ao, nghe nhạc,
ca hát, "tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên chơi cung Quảng
Hàn mà nghe khúc nhạc Quân Thiên.
2. Triết lý và tầm
nhìn qua các câu đối.
Các câu đối được ghi chép bởi Tây Sơn Binh Bộ Thượng Thư Ngô
Thì Nhậm tại Phủ Chúa Trịnh không chỉ là những áng văn chương mà còn phần nào
thể hiện triết lý cai trị và tầm nhìn của các chúa.
Tại phủ đường, câu đối như:
"Bách tính tổng ngô bào, biến chiếu vô tư, quang thị
chúc" (Trăm họ đều là đồng bào ta, vô tư khắp soi, sáng trưng là đuốc)
"Dân khả cận, bất khả hạ, nghiễm nhiêm hiên bệ kiến mao
từ" (Dân nên gần, không nên hạ thấp, nghiễm nhiên ở nơi hiên bệ, phải thấy
được chốn nhà tranh)
"Vạn lý phụng minh uy, phiên khổn cận chiêm hoa ngạc
nhĩ" (Muôn dặm vâng quyền uy sáng ngời, chốn phiên khổn những xem hoa ngạc
gần gũi)
"Tứ thì tuyên nhã hoá, ti luân dao ngưỡng thái vân
lai" (Bốn mùa tuyên giáo hoá phong nhã, tờ chiếu chỉ xa đón vẻ mây lành tới
gần)
"Học yên tân hựu tân, quân tử cập thì tu đức nghiệp"
(Học sao đã mới lại càng mới, người quân tử phải kịp thời tu rèn đức nghiệp)
"Chính giả chính bất chính, vương thần cư tác thủ di
chương" (Chính là sửa ở chỗ không thẳng, làm cho thẳng, đấng vương thần ăn
ở, việc làm nên giữ phép thường)
Những câu đối này cho thấy một mặt, các chúa Trịnh muốn thể
hiện sự quan tâm đến dân chúng, coi dân như đồng bào, và nhấn mạnh vai trò của
người cai trị trong việc gần gũi dân, sửa đổi những điều sai trái. Mặt khác,
chúng cũng khẳng định quyền uy và sự ảnh hưởng rộng khắp của phủ chúa, với các
phiên trấn xa xôi cũng phải tuân phục và ngưỡng vọng. Đồng thời, các chúa cũng
đề cao việc học tập, tu dưỡng đạo đức và giữ gìn phép tắc, thể hiện mong muốn
xây dựng một nền cai trị vững mạnh dựa trên Nho giáo.
IV. Hành Cung Phủ Trịnh
tại Biện Thượng: Quê Hương Tổ Tiên.
Ngoài Phủ Chúa Trịnh đồ sộ ở Thăng Long, các chúa Trịnh còn
cho xây dựng một hành cung quy mô khá hoàng tráng tại Biện Thượng (nay là xã
Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) – quê hương của chúa tiên khởi Trịnh Kiểm .
Hành cung này được xây dựng trên khoảng đất rộng khoảng 10ha, gồm nhiều khu vực:
Từ phủ (nơi chúa làm việc, tiếp khách), Nội phủ (nơi ở của nhà chúa), khu làm
việc của các quan, khu thờ cúng, khu vườn hồ thưởng ngoạn, và khu giải trí .
Mục đích của việc xây dựng hành cung này là để các chúa Trịnh
thi thoảng về bái yết tiên tổ sơn lăng, đồng thời tiện thể nghỉ ngơi và điều
hành công việc ngoài Phủ Chúa Thăng Long theo kiểu chạy ngựa trạm . Để xây dựng
công trình này, các chúa Trịnh đã huy động những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
nhất về thiết kế, chạm trổ, sơn son thếp vàng, điêu khắc, hội họa .
Ngày nay, tại Biện Thượng vẫn còn di tích Phủ Trịnh – Nghè Vẹt.
Sau nhiều năm xập xệ, dột nát, Phủ Trịnh tại quê tổ đã được phục dựng 7 gian
như hiện tại, một phần nhờ kinh phí nhà nước và một phần nhờ sự xã hội hóa của
dòng họ Trịnh .Đặc biệt, 11 pho tượng các chúa Trịnh (từ Thành tổ Triết vương
Trịnh Tùng đến vị chúa cuối là Án Đô vương Trịnh Bồng, không kể tượng Minh
Khang Thái vương Trịnh Kiểm có từ trước) đã được hậu duệ dòng chúa Trịnh Căn là
cụ Trịnh Doanh (quê Yên Lộ, Hà Đông) chủ sự công trình chế tác và rước về an vị
tại quê tổ vào năm 2005 .
Sự tồn tại của hành cung tại Biện Thượng cho thấy các chúa
Trịnh không chỉ tập trung quyền lực ở kinh đô mà còn duy trì mối liên hệ sâu sắc
với cội nguồn, thể hiện sự coi trọng tổ tiên và truyền thống dòng họ.
V. Sự Hủy Diệt và Di
Sản Còn Lại.
1. Vụ hỏa hoạn lịch sử
năm 1787.
Không có gì là tồn tại mãi mãi, và Phủ Chúa Trịnh cũng không
ngoại lệ. Năm 1786, khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, chúa Trịnh
Khải đã phải bỏ mạng . Sau khi quân Tây Sơn rút về, Trịnh Bồng, anh họ chúa Trịnh
Sâm, cố gắng níu kéo cơ đồ họ Trịnh . Tuy nhiên, đến năm 1787, khi
họ Trịnh thất bại hoàn toàn trong việc khôi phục lại địa vị, Trịnh Bồng chạy khỏi
kinh thành .
Trong bối cảnh hỗn loạn đó, vua Lê Chiêu Thống đã ngầm sai
người phóng hỏa đốt hết Phủ Chúa. Đám cháy lan khắp hai phần ba kinh thành
Thăng Long và cháy trong mười ngày liền mới dứt. Đây được coi là vụ hỏa hoạn lớn
nhất trong lịch sử kinh thành Thăng Long, thiêu trụi cả một quần thể kiến trúc
nguy nga, lộng lẫy, bề thế của các đời chúa Trịnh, biến chúng thành tro bụi.
2. Di sản và ý nghĩa
lịch sử.
Sự hủy diệt của Phủ Chúa Trịnh là một mất mát lớn về kiến
trúc và văn hóa. Tuy nhiên, di sản của nó vẫn còn hiện hữu trong các ghi chép lịch
sử, văn học và trong ký ức dân gian. Phủ Chúa Trịnh không chỉ là một công trình
kiến trúc mà còn là biểu tượng của:
Quyền lực thực tế: Nó minh chứng cho quyền uy tuyệt đối của
họ Trịnh, những người đã nắm giữ vận mệnh Đàng Ngoài trong hơn hai thế kỷ, vượt
lên trên danh nghĩa của vua Lê.
Sự phát triển kiến trúc và nghệ thuật: Phủ Chúa là đỉnh cao
của kiến trúc cung đình thời Lê Trung hưng, phản ánh sự tài hoa của các nghệ
nhân Việt Nam trong việc xây dựng, chạm khắc, và trang trí.
Sự đối lập xã hội: Qua các mô tả về sự xa hoa trong phủ và cảnh
đời cơ cực bên ngoài, Phủ Chúa Trịnh còn là một minh chứng cho sự phân hóa giàu
nghèo sâu sắc trong xã hội phong kiến cuối thời Lê Trung hưng.
Bài học lịch sử: Sự sụp đổ của Phủ Chúa, cùng với sự suy tàn
của họ Trịnh, là một lời nhắc nhở về quy luật thịnh suy của các triều đại, đặc
biệt khi quyền lực bị lạm dụng và đời sống xa hoa lấn át trách nhiệm cai trị.
Ngày nay, dù Phủ Chúa Trịnh không còn, nhưng những dấu tích
và câu chuyện về nó vẫn là một phần quan trọng của lịch sử Thăng Long – Hà Nội.
Các địa danh như khu vực Bệnh viện Việt Đức, Thư viện Quốc gia, Tòa án Nhân dân
Tối cao, phố Hỏa Lò, Thợ Nhuộm vẫn nằm trên nền đất xưa của phủ. Việc phục dựng
và thờ cúng các chúa Trịnh tại quê tổ Biện Thượng cũng là một nỗ lực đáng trân
trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của dòng họ này.
Xin theo dõi tiếp bài 3. Cảm ơn các bạn đã theo dõi. Thân
ái. Điện bà Tây Ninh.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét