CHUYỆN BÙA NGẢI XỨ MƯỜNG - MỘT BÍ ẨN HUYỀN THOẠI CỦA CUỘC SỐNG .BÀI 1

5/11/2010 |
CHUYỆN BÙA NGẢI XỨ MƯỜNG - MỘT BÍ ẨN HUYỀN THOẠI CỦA CUỘC SỐNG . 
( Trích từ TẢN MẠN CHUYỆN PHÁP SƯ - đã đăng tại Vietlyso ) .
Thân gửi các bạn . Vửa rồi vô tình được đọc một bài viết của Phóng viên HOÀNG ANH SƯỚNG trên báo THẾ GIỚI MỚI cách đây vài năm về CHUYỆN BÙA NGẢI XỨ MƯỜNG , dienbatn nóng lòng không thể chịu được liền tự mình tổ chức một chuyến điền dã đi nghiên cứu về đề tài này . Quả là một chuyến đi đầy thú vị và đã đạt được một số kết quả thật là khả quan . dienbatn sẽ từ từ kể lại cho các bạn những điều mắt thấy tai nghe về những câu chuyện tưởng chừng như Huyền bí này . Để mở đầu , dienbatn xin mượn lời của Phóng viên Hoàng Anh Sướng thay cho mình vì thực ra đó cũng là tâm trạng của dienbatn khi nghe về vấn đề này . 
" Bùa ngải xứ Mường 
Phóng sự của Hoàng Anh Sướng 
Tôi đã từng nghe người ta kể nhiều về phép thuật nèm, chài (bùa mê, ngải lú) thần bí của những ông thầy mo Mán, Mường trên rừng xanh núi đỏ. Rằng chỉ với một dúm muối, một đôi đũa, một nhành cây..., họ có thể “bó” cho đôi vợ chồng nọ đang đứng trước nguy cơ tan vỡ trở nên quấn quyện, khăng khít như thuở ban đầu. Có thể chia rẽ cặp tình nhân đang say nhau như điếu đổ kia bỗng chốc trở nên hờ hững, lạnh lùng để rồi ... chia ly đôi ngả. Thậm chí, chỉ với một chiếc kim, một mảnh sắt quấn sợi chỉ ngũ sắc, họ có thể giết chết kẻ thù địch bằng những lời chú bí hiểm... Để “bảo lãnh” cho tính xác thực của những câu chuyện rùng rợn ấy, có người còn lôi ra những lời thề rất độc địa khiến kẻ tò mò, đa nghi Tào Tháo là tôi cứ nhấp nhổm không yên. Và rồi, mặc cho cơn áp thấp nhiệt đới hoành hành, tôi vẫn xé gió, đội mưa lên xứ Mường Thanh Sơn (Phú Thọ) quyết vén bức màn tâm linh kỳ bí này. " 

Trong quá trình đi điền dã lên Phú thọ này , dienbatn có mời thêm một cụ già ( năm nay 77 tuổi ) , là một nhà nhiếp ảnh có tên tuổi và là chủ nhân của hiệu Trà đạo Trường xuân - 13 Ngô Tất Tố - Hà nội đi cùng . Hai thày trò sử dụng một xe 7 chỗ , loại xe Zece , có gầm cao để có thể vượt núi , băng rừng . Đoàn chúng tôi xuất phát từ Hà nội lúc 5 giờ sáng , nhằm Phú thọ thằng tiến . Hành trình của chúng tôi là Hà nội - Thị xã Sơn Tây - Cầu Trung Hà - Tỉnh Phú Thọ - Thị trấn Thanh sơn của Tỉnh Phú thọ . Đường đi rất tốt , chiếc xe xé gió lao đi , chỉ khoảng hơn hai tiếng sau , chúng tôi đã có mặt tại Thị trấn Thanh Sơn - Tỉnh Phú thọ . 
Hai bên đường cảnh ở đây rất đẹp , mời các bạn cùng thưởng thức một số cảnh do dienbatn chụp :
PHẦN BÀI VIẾT CỦA PHÓNG VIÊN HOÀNG ANH SƯỚNG :" Những câu chuyện huyền hoặc và hành trình đi tìm lá bùa yêu 
Buổi trưa hôm ấy, tôi và nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, người đẫm mình mấy mươi năm trong nền văn hoá xứ Mường Phú Thọ, dùng cơm trưa ở nhà khách UBND huyện Thanh Sơn. Anh Tạ Văn Ngọ, trưởng phòng văn hoá huyện tay rót rượu mời khách, miệng xởi lởi: “Chuyện bùa mê ngải lú tôi cũng nghe nhiều rồi, thực hư thế nào, tôi chưa dám kết luận. Riêng chuyện nèm chữa bệnh cho người và gia súc, nhất là nèm chữa bệnh trâu bò bị dòi bọ, nèm chữa hóc, nèm trừ sâu hại hoa màu... thì tôi tin”. Rồi anh kể: cách đây vài năm, một gia đình cùng xóm với anh có con trâu bị bệnh dòi, chữa bao nhiêu thuốc cũng không khỏi. Chị vợ bèn đến nhà ông thầy mo trong làng nhờ chữa bằng bùa chú. Ông thầy mo ngồi xếp bằng, thủng thẳng hỏi: trâu bị bệnh lâu chưa? loét chỗ nào? rồi bảo “khổ chủ” về đi, về mà nhặt dòi bọ. Chị nọ bán tin bán nghi, chân thấp chân cao chạy. Về đến nhà thì eo ôi, dòi từ vết loét ở cổ trâu nhung nhúc chui ra hàng vốc. Vài ngày sau, lành tịt. Hai vợ chồng sướng rơn, vội vàng sắm sanh chút lễ mọn đến tạ ơn thầy. Chuyện nữa: anh Hoàng Bá Tân, con của “nhà bùa chú” nổi tiếng Hoàng Bá Huân ở xã Tân Phú có những bài nèm chữa một số bệnh hiểm nghèo. Đứt tay chảy máu, nhọt sưng mưng mủ, anh chỉ cầm con dao cùn hà hơi niệm chú rồi chí chí vào đó, vài ngày nhọt to như cái chén xẹp ngay. Mới đây, anh niệm thần chú chữa khỏi bệnh viêm gan nặng cho một người ở làng Hoàng Xá. Nhờ đó, anh được mời đi báo cáo điển hình về cách chữa bệnh bằng phương pháp dân gian ở Hội nghị y học dân tộc tỉnh Phú Thọ. 
Nhà văn gầy gò Nguyễn Hữu Nhàn thì nhỏ nhẻ góp một chuyện khá rùng rợn. Chuyện rằng: ông có một người bạn đồng hương quê Tứ Xã (Lâm Thao) dạy học nhiều năm ở xã Lai Đồng (cách Tân Phú 30 km). Một lần chứng kiến một anh Mường có vợ lâm bệnh trọng chết. Thay vì lo ma chay, anh này cứ dí mũi xuống xác vợ... hít lấy hít để. Hỏi dân làng mới biết, anh này vì xấu xí, lại nghèo nên phải nhờ người nèm mới lấy được vợ. Do bỏ bùa mê thuốc lú để lấy cưỡng bức nên khi một người chết thì người kia sẽ phải chết theo do chưa biết hoặc chưa kịp đón thầy đến “ké nèm” (giải bùa chú). Sau này, ông được cụ Hoàng Đức Sin, 80 tuổi, người Mường xã Tân Minh giảng giải thêm rằng: Nếu nèm để lấy vợ mà sống yêu thương nhau thì không sao. Còn nếu nèm để cưỡng bức nhau sẽ bị quả báo tức thì. Vì vậy, khi một người đột tử thì người kia phải hít hơi tử thi cho đến khi thầy đến cởi cho mới thoát. 
Cuộc đời cụ Sin là cả một pho huyền sử về phép thuật nèm chài. Cụ vốn là thầy cúng nổi tiếng cả vùng, đã từng được cấp sắc chánh thượng thừa, cấp bậc cao nhất trong nghề thầy cúng. Muốn lên được cấp bậc này phải qua các sắc tiểu thừa, trung thừa, đại thượng thừa và trung thượng thừa. Là người ăn to nói lớn, cụ cứ choang choang kể: “Ngày xưa, bác là cán bộ xã, làm chủ nhiệm HTX nhiều năm đấy. Vì làm cán bộ, không được đi cúng, không được nói đến chài, nèm nên có lão giở trò ma nèm vợ bác, khiến bà ấy bỏ chồng, bỏ con đi theo hắn. Giận quá, bác gọi hắn đến nhà vãi (bố mẹ vợ) vỗ ngực, chỉ mặt hắn: “14 tuổi tao đã là thầy cúng. Mọi pháp thuật người Mường tao không lạ. Nếu ngươi không đón người ké nèm để tao phải ra tay thì chớ có trách...” Kẻ cướp vợ mặt xanh đít nhái quỳ sụp xuống, lạy cụ như tế sao. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn hỏi: “Thế cụ có giận cụ bà không?” Cụ Sin xua tay cười hớ hớ: “Ô không! Đấy là nó nèm cho mê mẩn mà theo nó thôi. Khi bà ấy về, khóc lóc xin tha thứ, bác không mắng nửa lời, vẫn sống tốt với nhau đến tận bây giờ đấy”. Nhà văn lại hỏi: “Người Mường xưa có thể nèm cho trai gái yêu nhau. Vậy có thể nèm cho nhân tình nhân ngãi, bồ bịch bất chính chán nhau không hả cụ?” “Được chứ!” Cụ Sin nói rồi vỗ vỗ vào vai nhà văn: “Hôm nào đến đây bác dạy cho bài ké nèm mà về xuôi cứu nhân độ thế cho vợ chồng không bỏ nhau”." 
[code]" Biết tôi có ý định tìm hiểu phép thuật nèm chài, Thuỷ, cô gái Mường có nước da đen giòn với nụ cười hoa tươi tắn lúng liếng bảo: “Anh đến đúng ổ bùa ngải của người Mường chúng em rồi đấy. Đẹp giai thế này, không sợ bọn em bỏ bùa mê cho mất đường về quê mẹ sao anh?”. Tiếng cười ré lên. Cậu thanh niên Mường tên Khoẻ, xã Mỹ Thuận, phô hàm răng bàn cuốc gắt gỏng: “Chúng mày có im đi không! Cứ đùa để anh ấy sợ”. Quay lại phía tôi, Khoẻ trùng giọng: “Nèm chài của người Mường chúng em là có thật, lưu truyền từ đời xửa đời xưa. Mẹ em cũng biết nèm đấy, nhưng cụ chẳng làm bao giờ cả. Cụ bảo, làm cái đó thất đức lắm. Bữa trước, có mấy anh nhà báo dưới Hà Nội lên đây tìm hiểu viết bài. Hỏi han linh tinh vài câu rồi về phịa cả một trang báo dài. Toàn bịa đặt, xuyên tạc cả. Lại còn riết róng tố cáo người Mường chúng em loè bịp, chặt chém khách moi tiền, rồi thì mê tín dị đoan khiến dân tình bất bình lắm. Nếu anh thực sự muốn tìm hiểu phép thuật thần bí này, em sẽ đưa anh đi”. Thấy tôi còn bán tin bán nghi, Khoẻ căn vặn: “Anh chưa tin phải không? Thế em hỏi anh nhớ, đôi vợ chồng nọ vừa chiều qua đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Vợ tru tréo chửi chồng, chồng vác dao rượt đuổi vợ, tưởng chém giết nhau đến nơi. Đùng một cái, sáng hôm sau, lại thấy cô vợ hớn hở quay về, ríu rít anh anh, em em như chưa từng có chuyện đánh đấm. Thế không nèm thì là gì? Hay như cô S. Thị Nở ở cầu Mịn kia kìa. Xấu người, lại xấu cả nết. Lấy chồng, đẻ được 2 đứa con gái, chồng chán, nó bỏ. Thế mà anh Tuấn, chủ thầu xây dựng dưới Hà Nội, đẹp trai, lắm tiền, vợ đẹp như tiên, lại chết mê chết mệt S. Hai đứa ăn ở với nhau như vợ chồng. Năm ngoái, lại còn bỏ tiền xây dựng cho S. một ngôi nhà 2 tầng thênh thếnh ở mặt đường. Chuyện này, cả huyện Thanh Sơn biết. Em hỏi anh, thế không phải nèm thì là gì?”. Tôi gật gù lia lịa. Khoẻ hứng chí bảo: “Kể tên những người biết nèm ở đây thì đầy dẫy. Này nhé: Bà Nhàn ở xóm Bưng , thầy mo Thục, thầy Cửu, thầy Thắng, bà Phúc, bà Chối, bà Miến , thầy Hà Văn Bày , ông Hà Văn Bằng, ông Hoàng Bá Huân ... Ôi dào! Nhiều lắm! Nhưng theo em, nổi tiếng nhất vẫn là thầy mo Thục. Thầy cao tay lắm. Ngày nào cũng có người đón thầy đi cúng giải hạn, cúng đàn chay phá ngục cho những nhà chết trùng tang, làm bùa ghét, bùa yêu... Đùi gà gia chủ lễ tạ, cả nhà thầy ăn chẳng hết. Hôm nọ, vợ chồng anh Tân ở Mỹ Thuận có đôi lợn nái xổ chuồng, táo tác đi tìm cả ngày chẳng thấy. Bí quá mới đến nhờ thầy Thục. Ông Thục nhận lời, thắp hương, khấn vái rồi đi bộ lên trên dãy núi Cụt trước mặt anh kia kìa. Ông ấy lầm rầm đọc thần chú rồi hú lên mấy tiếng. Ngay chiều hôm ấy, đôi lợn ở đâu ủn ỉn mò về. Chuyện này, cả làng đồn rầm rĩ, em không nói sai”. Tôi sốt sắng hỏi đường đến nhà ông Thục để xin lá bùa yêu. Khoẻ bảo: “Anh là người lạ, đến nhà, thầy không làm đâu. Để em dẫn đường cho”. Tôi sướng rơn, luýnh quýnh thế nào bỏ quên cả mũ bảo hiểm ở quán. 
Nhà thầy mo Thục nằm chon von trên lưng chừng đồi. Trời mưa, đường trơn nhầy nhụa, xe cài số 1, ì ạch mãi mới lên đến nơi. Căn nhà gỗ, lợp mái gianh, rộng thênh thếnh như cái đình, ồn ào tiếng nói cười. Ngày mai, cậu con út của thầy vào Nam lập nghiệp, gia đình làm bữa liên hoan. Thầy không có nhà. Vợ thầy bảo: Thầy ra chợ thị trấn mua “canh” (thức ăn). Tôi ngồi chờ. Anh con trai cả tủm tỉm: “Chú đến đây là đúng địa chỉ rồi. Yên tâm đi. Bất cứ chuyện gì cần, thầy cũng có thể giúp chú được”. Rồi anh kể, có một cậu thanh niên ở tận Sơn Tây, vợ bỏ đi theo giai, lên khóc lóc van vỉ nhờ thầy cứu giúp. Thầy nhận lời, làm cho một lá bùa. Ba ngày sau, cô vợ trở về. Anh chàng mừng rơn. Cảm tạ tấm lòng của thầy, anh đã biếu thầy 3 triệu. Tháng nào anh ta cũng lên đây một lần để thầy yểm bùa cho tình cảm vợ chồng thêm bền chặt. Mới đây, có một bà tận Gia Lai – KonTum lặn lội ra đây. Chồng làm giám đốc, bồ bịch lăng nhăng. Bà vợ đánh ghen, chửi bới, rồi khóc lóc, nỉ non... đủ hình đủ kiểu mà anh chồng vẫn chứng nào tật ấy. Nhờ bùa của thầy tôi, cô ấy đã giành lại được chồng. Hôm kia, cô ấy gửi biếu thầy tôi 5 triệu nhưng thầy chỉ nhận 3 triệu thôi. Cụ cao tay lắm”. 
Khoảng 5 giờ chiều, thầy Thục mới về. áo trắng, quần âu, trông thầy phong độ lắm so với cái tuổi thất thập. Bắn một điếu thuốc lào, lim dim nhả khói, thầy hất hàm: “Anh từ đâu tới? Có việc gì?”. Tôi liền giả bộ rầu rĩ: “Con là thầy giáo dạy văn dưới Hà Nội. Vợ con đang lăng nhăng với người khác. Con muốn xin thầy một lá bùa để kéo vợ con về”. Thầy cười khùng khục: “Anh nói thế nào ấy chứ. Trông anh đẹp giai lồng lộng, lại hào hoa thế kia, vợ bỏ theo giai sao được”. Tôi rơm rớm nước mắt, van vỉ: “Bẩm thầy! Con đâu dám nói dối. Xin thầy mau ra tay giúp con, thầy cứu con không thì con chết mất”. Miệng nói, tay rút tờ năm chục, tôi dúi vào túí thầy. Bộ mặt tôi lúc đó trông chắc thảm thương lắm nên thầy hạ giọng: “Thôi được rồi, thầy sẽ giúp. Bây giờ, anh ghi tên tuổi của anh và vợ anh vào tờ giấy này. Nhớ phải ghi thật chính xác, nếu không bùa sẽ mất linh”. Ngừng lời, chiêu một ngụm nước, thầy chép miệng: “Gớm! Các cô cậu dưới ấy bây giờ no lưng ấm cật nên giậm giựt chân tay. Ngoại tình, bồ bịch khiếp quá. Chẳng riêng gì anh đâu. ối người làm giám đốc, vụ trưởng mà vẫn cứ bị vợ cắm sừng cho như chơi ấy chứ. Đấy, vừa chiều qua, một cô sồn sồn tô son trát phấn, người núc nỉu những nhẫn, dây chuyền đến cầu xin tôi làm nèm cho... 4 ông bồ không ông nào được rời ra. Dâm đãng đến thế là cùng”. Đang cặm cụi viết, tôi cũng phải bật cười cùng tiếng ồ lên của mấy chục con mắt đang tò mò nhìn tôi từ nãy đến giờ. 
Đón nhận tờ giấy trên tay tôi, thầy Thục khẽ khàng đặt lên ban thờ. Rót đầy ba chén nước, thắp ba nén nhang, thầy phủ phục xuống phản lầm rầm khấn. Gieo quẻ xong, thầy sai bà Thục ra vườn hái mấy cái lá và xúc bát muối lên cho thầy. Quay mặt về phía ban thờ, thầy bắt đầu niệm chú. Cả nhà im phăng phắc. Tôi cố tập trung cũng không nghe được gì, chỉ thấy môi thầy mấp máy như máy khâu. Khuôn mặt thầy đỏ bừng như lên đồng. Niệm xong, thầy đưa nhúm lá và bát muối lên sát miệng, hà hơi 3 lần vào đó. Đưa tôi “bùa yêu” đã được gói ghém cẩn thận, thầy dặn: “Nhúm lá này anh về chia làm đôi. Một để trong gối anh, một để gối vợ. Còn gói muối, hàng ngày nấu canh, anh cứ cho vào, cả nhà cùng ăn. Đảm bảo chỉ một tuần sau, vợ anh sẽ hết tơ tưởng lăng nhăng đến người khác”. " 

Từ những thông tin ở trên , đoàn chúng tôi quyết tâm đi tìn vị Thày Mo giỏi nhất là Thày Mo HOÀNG VĂN THỤC
Nhờ có sự chỉ dẫn từ trước của Phóng viên HOÀNG ANH SƯỚNG , chúng tôi không mất nhiều thời gian đi tìm nhà của Thày Mo HOÀNG VĂN THỤC . Từ Thị trấn Thanh Sơn ( Ngày xưa còn gọi là Phố vàng ) đi Thu Cúc chỉ khoảng trên dưới 3o Km , con đường rất đẹp . Ôm vòng quanh những triền đồi , những nương chè xanh ngát của vùng Trung du . Quang cảnh hai bên đường rất đẹp với những bản làng người Dân tộc nằm chênh vênh bên sườn núi , những nương chè , những thửa ruộng bậc thang ....Tới một cây cầu bê tông có tên là Cầu Mịn , đi qua cầu , rẽ phải và đi vòng vèo một đoạn đường nữa quanh chân đồi , đoàn chúng tôi tới nhà Thày Thục . Trước khi đi , dienbatn có chọn thời điểm xuất phát theo quẻ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN là quẻ HƯU - ĐẠI AN để chắc chắn có thể gặp được Thày Thục , song khi vào , vẫn thấy lo lo vì biết Thày Thục hay đi cúng cho người ta . 
QUẺ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN thật là linh nghiệm . Xe chúng tôi phóng vèo một cái vào tận sân nhà Thày , đã thấy Thày Thục ra cửa đón khách . Thày HOÀNG VĂN THỤC sinh năm 1935 - Tuổi Ất Hợi - Mạng Sơn Đầu Hoả theo sách Tầu và là mạng Thủy theo Lạc Thư Hoa Giáp . Cung Phi Bát trạch Khôn - Thuộc Tây tứ cung . Trông Thày thật là trẻ so với tuổi Ất Hợi của mình . Giọng thày nói sang sảng , rất ấm và luôn có những tràng cười thật hồn nhiên , khoáng đạt . Nhờ có lá thư giới thiệu của Phóng viên HOÀNG ANH SƯỚNG và nhất là dienbatn đi cùng cha đẻ của Phóng viên , là một nhà Nhiếp ảnh tên tuổi và là chủ quán Trà Đạo Trường xuân - 13 - Ngô Tất Tố - Hà nội , nên công việc làm quen không mất nhiều thì giờ lắm . Sau vài tuần trà ( Trà xứ này rất ngon - Trồng sẵn ngoài vườn nhà ) , một bàn nhậu linh đình được dọn ra trên những chiếc chiếu trải trên nền nhà . Trước khi vào nhà Thày , chúng tôi đã ghé Thị xã Thanh sơn mua sẵn mồi nhậu , thày còn bắt con dâu làm thêm mấy con gà nữa . Rượu vào , lời ra , dienbatn tranh thủ ca bài ca con cá : Con cá sống vì nước .....Được nửa phần bữa nhậu , Thày Thục đã đứng dạy tuyên bố nhận dienbatn làm con nuôi và truyền thụ Võ công cho ngay trong đêm hôm đó . Mặt khác , các con Thày vì thấy dienbatn chắc là già quá nên nhất mực tôn làm anh cả, làm Trưởng tràng , có nhiệm vụ dẫn dắt anh em trong nhà hành tẩu cõi Ta bà này . ( Hi Hi - Khoái quá ) . Nghĩ cũng thật buồn cười - dienbatn gặp trường hợp này không phải lần đầu , hình như dienbatn có duyên với các Thày . Nhiều trường hợp , không biết làm sao , chỉ qua một vài lần sơ giao , ngó nghiêng tướng tá của dienbatn như thế nào đó , các Thày đè ra đòi truyền hết sở học của mình ( điều mà ngay cả con cái trong nhà cũng phải ao ước ) . Tiệc rượu tàn , dienbatn ngang nhiên trèo lên giường của Thày Mo Thục làm một giấc tới 4 giờ chiều . Thứ rượu Sán Lùng ở đây thật ngon , chiến đấu như vậy, nếu là thứ rượu khác cũng đủ làm say đến mấy con bò , vậy mà khi tỉnh dậy , dienbatn thấy đầu óc thơ thới , thân thể sảng khoái , liền rủ Ông lão bạn đường xách máy chụp ảnh đi săn hình . Lúc này , nghe các con Thày nói , Thày lại đi ra chợ kiếm mồi về tối chơi tiếp . 
Buổi chiều , Thày Thục về , tay xách lặc lè một tảng thịt rừng và mấy xâu cá suối . dienbatn nghĩ thầm , phen này chắc chết đây, tối nay mà còn nhậu nữa thì làm sao mà học Nèm cho được , lại nữa , thày Thục có tới cả chục cô cháu gái , nếu Thày có ý định Nèm úp sọt dienbatn ở lại sống với xứ Mường thì làm sao mà sài cho hết ??? Kỳ này chắc lại được Chính quyền xã kêu lên cấp cho một quả đồi hoang và mấy con trâu què rồi dienbatn ơi . Nghĩ như vậy mà thấy bủn rủn cả chân tay . dienbatn liền ghé tai Ông Bạn già đi cùng thì thầm to nhỏ . Thật đúng ý , Cụ gật lia gật lịa . 
Bữa cơm tối linh đình lại được dọn lên , điện mất nên những ngọn nến được thắp lên , hòa cùng với hơi sương mù se se lạnh thật là lung linh huyền ảo xứ Mường . Hai Thầy trò chúng tôi viện cớ hãy còn no và lại đang đau bụng nên chỉ làm vài bát cơm cho chắc dạ . Câu chuyện trên chiếu rượu vẫn râm ran . Từ sáng , dienbatn đã âm thầm mở máy ghi âm , ghi lại toàn bộ những câu chuyện của Thày Thục để sau này làm tư liệu . Thày Thục kể rằng : Dòng họ Hoàng nhà Thày đã làm nghề Thày Mo nhiều Đời lắm rồi , bản thân Thày , từ 14 tuổi đã được cha là Thày Mo HOÀNG VĂN CƯ truyền dạy và đã hành nghề từ đó . Thầy cho chúng tôi xem những cuốn sổ dầy cộm ghi tên thân chủ mà Thày đã giúp . Thôi thì từ Bắc chí Nam , từ Tây qua Tàu , đều có mặt trong những cuốn sổ của Thày . Theo Thày Mo Thục , thuật Nèm chài của người Mường có từ hàng mấy nghìn năm rồi , có thể làm được nhiều việc lắm . Như là Nèm yêu , làm cho ông chồng hay bà vợ bồ bịch lăng nhăng chỉ trong 3 ngày là phải quay về lo tu chí làm ăn , thương mến nhau còn hơn lúc mới lấy . Thuật làm cho yêu nhau có nhiều loại lắm , nào là đọc chú vào rau răm , bỏ vào gối người cần Nèm ; Nào là đọc chú và tên tuổi người cần Nèm vào muối , bỏ dần vào nồi canh cho cả nhà ăn , nhưng chỉ riêng người được Nèm mới chịu tác dụng . Ngoài ra còn Nèm vào lá cây , bỏ trên đường người mình thương hay đi , người đó dẫm phải , tự khắc sẽ phải thương yêu mình . Một cách nữa là Nèm bằng cách đọc chú vào tay , vỗ vào vai ai là người đó phải thương phải nhớ . Còn ở dạng cao hơn , chỉ nhìn bằng ánh mắt và thầm đọc chú trong miệng thì người bị Nèm đố có mà thoát . Chả thế mà có một ông Thày Mo tên là Nhẽo có tới mười bà vợ , 18 người con và gần 40 đứa cháu . dienbatn được Thày Thục đọc cho nghe bài Nèm yêu dịch ra tiếng việt như sau : .....Con ni ( Thằng ni ) , ăn phải cái gói ni , phải nhớ thằng ni ( con ni ) một nghìn năm . Hắn này , ăn phải cái gói này , phải nhớ thằng ni ( con ni ) 100 đời .Chừng nào chân cẳng rời ra mới thôi .... 
Nghe như vậy , dienbatn than thầm , ối giời ơi , phải sống chung với nhau đến 1000 năm , đến 100 đời kỳ này chắc chết . 
Lại có thuật Nèm làm cho chán nhau nữa . Nhiều ông chồng bị bà vợ cho cắm sừng ,hoặc các bà có chồng mê mải theo Ca ve lên nhờ thày giúp , đều được toại nguyện . Thuật Nèm này phải nhờ đến lông chó và lông mèo . Cắt lông con chó và con mèo trộn với nhau . đọc chú vào rồi bỏ dưới gối người cần Nèm , lập tức , người đó chán ghét bồ bịch hoặc Ca ve . Thường thì Nèm yêu và Nèm ghét hay làm cùng với nhau . 
Người Mười có những thuật Nèm thật là kỳ lạ , ví như bị đứt tay chảy máu hay bị động vật cắn chảy máu , chỉ cần đọc chú thổi vào , tự khắc vết thương liền tịt mà không để lại sẹo . Hoặc như Nèm nhốt muỗi , nhà mà nhiều muỗi quá , Thày vẽ một vòng tròn lên vách nhà , đọc chú vào đấy , tự khắc muỗi trong nhà bay vô đó đậu hết . Chả trách , nhà Thày ở ngay giữa rừng mà dienbatn để ý không thấy bóng dáng một con muỗi nào cả . 
Về phần Nèm của người Mường , dienbatn xin chép lại những đoạn viết của Phóng viên HOÀNG ANH SƯỚNG : Nhiều đoàn công nhân đến ở đây bị người Mường nèm trêu nấu cơm không chín, nấu nước không sôi. Mọi bài nèm đều đọc bằng tiếng Mường. Riêng bài nèm này lại nói bằng tiếng Kinh. Nguyên văn như sau: “Mày làm đồng hay mày làm đáy. Tao xó xáy cho mày không lên hơi. Mày lên hơi thì tao chém. úm ta ha khất”. Muốn cho cơm chín thì niệm thần chú: “Mày làm đồng hay mày làm đáy. Tao xó xáy cho mày lên hơi. Mày không lên hơi thì tao chém. úm ta ha khất”. Bà Huân giảng giải: “Người ta nín hơi đọc thần chú rồi phì hơi ra mảnh đóm, vờ vào bếp xin lửa nhưng khua khoắng mảnh đóm quanh nồi và dưới chôn nồi. Lửa dẫu có đốt đùng đùng cơm cũng chẳng chín được”.... 
....Thôi, để hôm nào bác biểu diễn cho anh xem bài nèm ráo ướt. Khi ở trên bờ niệm thần chú thì người chống bè, bơi thuyền chốc chốc lại ngã ùm xuống sông, làm cho quần áo vừa ráo lại ướt ngay”. Rồi ông hào hứng kể chuyện làm nèm để bó lại một số cặp vợ chồng khỏi bị tan vỡ. Ông kể chi tiết chuyện anh Khê ở Tân Phú đã có với vợ những 4 mặt con. Tí tởn thế nào lại cưới thêm cô vợ lẽ, suốt ngày òm ọp đánh chửi vợ con. Cụ Bằng ở xóm thấy thế đến nhờ ông Huân “bó” lại cho gia đình họ đoàn tụ. Hẹn một ngày anh em nhà ấy ăn uống họp gia đình để lựa lời khuyên nhủ, chị dâu anh Khê kín đáo giấu 3 đôi đũa của vợ cả, vợ hai và của anh Khê vừa ăn xong không rửa đưa cho ông đem về bó nèm. Ông còn kể chuyện bó nèm cho vợ chồng anh Dũng ở xóm Mịn. Nghe xong, tôi hỏi: “Cháu sẽ viết báo nêu tên thật của họ, liệu có bị kiện không?” Ông Huân cười xoà: “Cả làng biết đấy, kiện gì. Hơn nữa, bác làm phúc đức cho gia đình họ. Bây giờ trong ấm ngoài êm, hiểu ra, họ chỉ biết ơn bác thôi”. Bà Huân vội nói chen vào, giọng lo lắng: “à! Suýt nữa thì quên. Hôm trước đến đám ma nhà anh Thọ. Bà Xuân gọi tôi ra nói nhỏ là về nhờ ông, nếu “nèm tơm thăm” hay “nèm bó đũa” thì làm ơn cởi giúp kẻo một người chết thì cả nhà chết theo”. Ông Huân bảo: “Không sao. Nhà bà Xuân, mẹ anh Huy ở xóm Quyết Tiến, tôi nèm bằng muối không sợ nguy hiểm như bó đũa, tơm thăm nên không phải cởi”. Nói đoạn, ông liền bảo Thuỷ, cậu con út vào buồng mở hòm lấy ra bó đũa cho tôi xem. Đây là 2 đôi của vợ chồng anh Dũng nhờ ông nèm hồi năm ngoái. Bốn cái đũa được bó bằng hai mối buộc chỉ đỏ và chỉ trắng. Ông Huân giải thích: “Muốn nèm bó đũa phải dùng hai loại chỉ khác màu bó chặt đôi đũa ăn cơm của những người đang “ông chẳng bà chuộc”. Bó đũa ấy phải đem về nhà mình cất kỹ. Sau 3 năm khi vợ chồng đã khăng khít, phải đem bó đũa đó ra niệm thần chú bài “ké nèm” (giải) rồi tháo chỉ cho đũa rời ra. Có như thế thì một người chết, người kia sẽ không hề hấn gì”. Còn “nèm tơm thăm” là lấy được mảnh áo hoặc quần của 2 người đã mặc, niệm thần chú vào rồi cất kỹ. Đây là cách nèm khá bền chặt nhưng cũng khá nguy hiểm. Lời bài chú rất dài, người khoẻ, đọc một hơi mới hết. Khi vợ chồng đã gắn bó, để tránh nguy hiểm, phải nèm cởi ra. Đọc lời chú bài ké nèm, hà hơi vào 2 mảnh vải, đem ra sông, suối, chỗ nước quẩn, rồi thả một mảnh ở dòng nước chảy xuôi, một mảnh ở dòng nước chảy ngược. Hai mảnh vải cuốn đi hai nơi sẽ không còn nguy hiểm cho người bị nèm.Ngoài thuật Nèm chài như đã viết ở trên , Thày Thục còn cho tôi biết người Mường cũng biết dùng cả Ngải . Ngải ở đây chỉ dùng có hai loại là Ngải trắng và Ngải đen . Vườn nhà thày tôi thấy trồng cơ man nào là Ngải ( Xem hình ) . Ngày xưa khi đi điền dã tại vùng Thất sơn - Châu đốc và vùng núi Tà lơn bên Miên , dienbatn biết rằng có đến gần 800 loại Ngải . Ngải trắng và Vàng ở đây , người Khme gọi là Ngải Ông Thánh Cu Mơ và Nàng Thăm . Hai loại Ngải này có rất nhiều tác dụng và phải luyện rất công phu qua đủ 100 ngày . Tại xứ Mường này , Thày Thục xử dụng Ngải với mục đích là trừ Trùng tang liên táng . Thày kể rằng , có một dòng họ trong xã bị Trùng tang liên láng , 7 ngôi mộ trong dòng họ chôn cất khá lâu mà thân xác vẫn còn y nguyên . Họ mời Thày tới . Sau khi đọc chú vào của ngải , Thày cho chôn xuống từng ngôi mộ , một thời gian sau , thịt tan hết chỉ còn những bộ xương . Ngoài ra người Mường còn dùng Ngải để trị bệnh con nít khóc dạ đề , để Trấn trạch không cho ma , quỷ vào nhà , dùng để trừ vong đi theo những người Phụ nữ ( Những người này , vì một lý do hợp thế nào đó , vong nhập vào , đêm nào cũng thấy làm tình với vong đó - Có rất nhiều người bị như thế ) . 

Để rộng đường tham khảo , dienbatn xin trích đăng bài của Sư phụ dienbatn là thày SƯƠNG MÃN THIÊN viết về Ngải để các bạn tham khảo : 
TÌM HIỂU VỀ NGẢI ! 
Thường thường chúng ta hay nghe nói bùa ngải ....... 2 tiếng hay gọi chung , về bùa chú thì ít nhiều người ta có khái niệm về tiếng đó hơn , còn ngải thì có nghe nhưng nhiều người không rỏ lắm nó là gì ? xuất xứ từ đâu ,linh nghiệm ở chổ nào v.v......... nay tại hạ không ngại hiểu biết giới hạn , vài dòng trao đổi với quý vị ,mong các cao nhân ngải nghệ vô tình có để mắt đến đây vui lòng bổ sung cho đề mục thêm phong phú ........! 
Ngải là 1 loại thực vật ngoại biến càn khôn ,thường mọc trong những vùng rừng núi ,nhiệt đới như thất sơn ,trường sơn việt nam , lai châu ,vân nam trung quốc hay tà lơn ,lục sơn bên cao miên . 
Ngải có rất nhiều loại ,tính tất cả vừa nguyên thủy vừa lai giống có thể đến gần 800 loại ,có 1 số đã có tên khoa học và đã được công nhận tính năng chữa bệnh hay giúp ích cho cơ thể con người bởi các nhà nghiên cứu khoa học ,nhưng đa phần vẫn còn trong bí ẩn mà tên gọi chỉ được truyền miệng qua kinh nghiệm dân gian hay các ngải sư với nhau . 
Ngải là loài thực vật có củ ,nhỏ nhất thì nhỏ hơn củ nghệ 1 chút (như ngải đen , ngải nàng thâm,nàng xoài) lớn thì có thể bằng bắp vế người đàn ông lực lưỡng ( như ngải mảnh hổ ,cuồng phong, ngải tượng v.v....) 
Ngải có tánh linh tự nhiên kỳ diệu ,ví dụ như 1 củ ngải khô đã vài năm để trong nhà không chạm đất , nhưng khi để vô chậu kêu 1 câu chú mời thần ngải về chứng thì 1 vài tuần nó sẽ tự động mọc mầm sống lại ,lên cây trổ hoa như thường ,hoặc có những người làm ăn, buôn bán vô tình trồng 1 vài chậu ngải bún (còn gọi là ngải hẹ) ở trước nhà mục đích chỉ để làm kiểng ,nhưng tư. nhiên từ đó đông khách đắt hàng ,ăn nên làm ra mà nhơn chủ đâu biết là mình đã trồng loại ngải quến khách cầu tài như vậy ,loại này tên khoa học là auttum crosscus có bán ở các chợ ươm cây ,trồng cây kiểng trên xứ mỹ ,tuy nhiên cùng 1 loại mà co' phân màu sắc khi trổ hoa , cũng do màu hoa mà biết được ít ,nhiều về sự linh ứng của từng loại theo kinh nghiệm các thầy ngải . loại trổ bông màu trắng là mạnh nhất ,loại bông màu đỏ đứng hàng thứ 2 ,loại màu vàng vào hàng 3 và sau cùng là loại có bông màu xanh tím nhạt (thư' này thấy thường ở mỹ) ,tại hạ có 1 người bạn chuyên môn về những loại này xưa ở đường NGUYỂN TRƯỜNG TỘ chuyên giúp thân chủ cầu tài ,khá giả chẳng hạn như nhà sách HỒNG DÂN củ ,thẩm mỹ viện THẠCH THẢO cùng nhiều người trong giới kinh doanh trước 75..... 
ngải so với bùa thì mạnh bạo ,nhạy bén hơn nhưng về độ bền thì không như bùa ,những chuyện gì cần giải quyết cấp tốc ,hiển hiện trước mắt tạo tín tâm cho thân chủ nể phục thì các thầy hay dùng ngải ! nói như vậy không có nghỉa là ngải mạnh hơn bùa ,vì nếu người không học bùa thì không thể luyện ngải được . bởi vì cần có bùa chú để triệu ngải về ,mời ngải ăn (cúng ngải) tom ngải lại không cho đi bậy và người khác không phá được ,sai khiến ngải nhứt nhứt đều phải qua phù chú của chư vị tổ sư...! 
Các pháp sư luyện ngải qua 2 cách sau đây : 
Ngải chậu và ngải khô 
1) Ngải chậu là cây ngải tươi hay bụi ngải tươi được bứng từ rừng về hoặc được gây giông' ra mà trồng ở trong chậu để luyện . 
2)Ngải khô là củ ngải đã đào lên từ bụi ngải trong rừng ,trên núi hay trong chậu trồng của thầy mà đem phơi sương , nắng cho thọ khí âm dương sau 3 ngày thì đem vô nhà cúng và luyện . 
Luyện ngải chậu cách hay nhất là kiếm 7 cái đầu ông táo ( miếng trên của cái lò đất ) bỏ hoang nơi chùa ,miểu ,đình thần v.v.... đem về bầm nhuyển trộn với đất thiên nhiên ,tuyệt đối không dùng phân (bất cứ phân gi`) sau đó lấy 1 miếng chì vẽ khắc chữ bùa tom (cột ) để dưới đít chậu ,lấy 1 cái hột gà sông' dùng mực đỏ vẽ thêm chữ bùa chủ dụng mà mình muốn luyện cho chậu ngải đó ,ví dụ như : ngải thương ,ngải ăn nói ngoại giao ,ngải cầu tài ,ngải quan tư tất thắng (ra toà thưa kiện) v.v.... 
Lể vật để cúng khởi đầu cuộc luyện rất đơn giản chỉ gồm : 3 cái hột gà sống ,1 dĩa gạo muối ,1 ly nước lạnh , 3 chung rượu trắng ,1 dỉa nổ (nếp rang hay bắp rang bong vỏ) đốt 2 cây đèn cầy bên cạnh ,còn lại 3 cây nhang đốt thì cắm vô chậu ngải ,khởi sư. luyện luôn luôn vào lúc chiều chạng vạng (lối giờ dậu) đầu tiên pháp sư niệm chú hội ngải 3 lần ,chú thỉnh 36 mẹ tổ ngải 3 lần rồi chú nguyện ,van vái tên họ tuổi của mình (ngưòi luyện) ngày ,giờ ,năm, tháng này v.v....tôi muốn luyện chậu này gôm` loại ngải gì .............nói ra (có thể luyện 2, 3 thứ chung 1 chậu cũng được) sau khi tác bạch xong thì định thần ,bắt ấn niệm chú sên (đọc thổi) vô chậu ngải ,thông thường luyện khoảng 15 phút là được , với cây ngải đã cao lối 2 tấc thì tinh luyện khoảng 21 ngày liên tục thì ngải đã biết chào thầy , chào là khi thầy niệm 1 câu chú hỏi thăm lá ngải sẽ đong đưa qua lại về hướng thầy mặc dù lúc ấy trời không có gió ......và cứ thế tiếp tục luyện cho đến khi thấy như có bóng trắng thoáng ẩn hiện là ngải đã có thần ,trong thơì gian luyện ngải ông thầy tuyệt đối không được ăn tỏi sông' ,vì thực ra ngải là loại mang khí rất thanh, khác với tỏi nặng về trược được nhà phật liệt vào ngủ vị tân (tỏi, hành ,hẹ , nén ,kiệu ) mà các vị xuất gia đều phải kiêng cử ...... 
Có nhiều ông thầy luyện ngải , trồng ngải kín cả sau vườn , xem như không còn tính theo chậu nữa mà tính theo bao nhiêu mét vuông , đằng đó là 3 mét tai tuợng ngải ,nơi này là 2 thước mẹ nàng thâm v.v....... , mỗi khi chạng vạng tối ,ở từ các vườn lân cận gần bên , nhìn vào vườn ngải nhang cắm đỏ rực theo hình bát giác bao xung quanh vườn càng tăng thêm màu sắc huyền bí , ma quái khiến cho những kẻ dù bạo gan cách mấy cũng cảm giác như lành lạnh ,rờn rợn nơi toc' gáy . 
Khi ngải mà chúng đã trổ thành vườn dày đặc như vậy ,thì khi cúng cho ăn hột gà và nổ phải nhiều hơn nhiều lắm ,khi các loại ngải lá đã cao tới và hơn rún thì thẩy hột gà vô lẩn trong vườn ngải hôm sau ra chỉ còn lại vỏ không ( có thực 100%) có nhiều thầy nuôi ngải tà như : huyết nhân ngải , thiên linh ngải , khô lâu ngải v.v....... còn cho ăn cả gà sống nguyên con ,mỗi lần đọc kinh ,túc thần chú cho ăn là cả vườn ngải xoay vần , chuyển động như gió mạnh đè trên những đám lúa ,bờ cỏ ngoài bờ đê ,dưới ruộng . quăng con gà vào gà kêu quác quác vài ngày sau cũng thấy lông và xương . 
Và cứ tiếp tục luyện đều đặn như vậy ,càng lâu thì ngải càng mạnh , và mỗi tháng cúng ngải 2 lần vào ngày mùng 2 và 16 âm lịch như bên bùa cung' binh ,tướng vậy . đến 1 thời gian nào đó đã đủ thì pháp sư chọn ngày thâu ngải ,cũng nhang đèn trứng ,nổ v.v..... khấn vái đợi khi tàn nhang thì đào gốc lấy củ đem vô nhà ,việc đầu tiên sau khi rửa sạch là pháp sư phải cắn 1 củ nhai nuốt liền ,vì theo thầy truyền là có như vậy ngải nó mới mến và phục tùng thầy lâu dài 
Luyện ngải chậu 
Sau khi để lên dĩa đặt ngay bàn thờ binh, tướng đối diện bàn tổ, (bàn binh thấp dưới rún, bàn tổ phải cao trên ngực ) pháp sư bắt đầu đọc chú kêu ngải ở với mình ,các loài ngải thực là linh lắm ,tính ý họ như các cô gái e dè ,dịu dàng nhưng dấu kín những phong ba , khi luyện các thầy phải dổ ngọt vuốt ve ,thủ thỉ .......noí chuyện với ngải như những cô tình nhân ,thế cho nên từ trước đến nay các ngải sư cao tay ,vang tiếng đều là cô độc không vợ không con ,vì nếu các nàng ngải biết thầy lấy vợ là hè nhau vật hoặc phá vợ thầy đau bệnh nặng hay rề rề không hết kho' làm ăn lắm , các loại ngải ở việt nam ta và miên ,thái ,lào hay dùng đều cùng loại nhưng khác thổ âm địa phương đôi chút thôi ,người mình hay gọi : nàng thâm ,nàng mun ,nàng xoài , nàng gù ,nàng trăng ,nàng hồng v.v.... 
đều là tiêu biểu cho phái đẹp . 
Nói về pháp lực thì ngải rất mạnh và nhạy ,chắc ít nhiều trong chúng ta có nghe qua những mẩu chuyện ngày trước ở vn đại khái như :cô nọ xách giỏ đi chợ tự nhiên có 1 bà xa lạ đến nói vài câu cô bổng đờ đẩn lột tháo dây chuyền ,bông tay ,chiếc lắc ...... cho bà xa lạ đó ,chừng mừơi , 15 phút sau mơí hoàn hồn thì bả đã đi mất tiêu rồi ! đó chính là công năng của ngải ,bùa không thể làm con người mất cả hồn vía lập tức như vậy . 
Còn về mặt lý tính thì ngải nó đơn giản như ta nuôi con chó ,con mèo vậy thôi ,cho nó ăn đều vổ về vài câu mỗi ngày là sai nó làm gì nó làm đó ,không hề phân biệt thiện ,ác trước khi làm ,do đó những phù thủy có tâm thuật bất chánh thường hay luyện ngải để trục lợi , 
Ngải khô 
Còn luyện ngải khô là khi thầy ngải khám phá ra những bụi hay đám ngải hoang trong rừng mà củ đã già ,tốt hoặc ngải thầy trồng sau vườn lấy giống mà chưa luyện trong chậu kịp thì được lấy củ ,rửa sạch và cũng để lên dĩa để trên bàn binh ,tướng ,nhưng thầy phải chiều chiều cúng vái niệm chú sên vô dĩa ngải đó như cách luyện ngải chậu vậy ! thời gian có thể là 360 ngày ,100 ngày 72 ,hoặc 36 ngày hay ít nhứt là 21 ngày mới đủ linh nghiệm . 
Chú hội ngải : 
Án thầy rừng đại tướng thầy rừng phi tà án bộ ,hởi chúng quỷ tà tinh ,âm binh rừng ở đâu sao ta chưa thấy tới ? ớ ........ma ru ma ru ven rừng 3 chu ,thời thưà chi quy tu lục , phất tức phất xạ lu cha tha .năm tơ-rây hào đây huê kiểng ràng ràng thâm thâm ắ rặc .ơ '......ma ru ma ru....( 3 lần) 
Nam mô tam vị thánh tổ ,36 mẹ tổ ngải 12 nàng ngải ,12 mụ ngải ,mẹ lục mẹ lèo ,chú cậu các đẳng nhang vàng ,thần ngải lộc ngải ,ma ngải ma lai ngải, thiên linh ngải ,thâm thanh, hồng hạnh ,hùm hổ ,nhâm sư chúa tướng ,đuôi mọi rợ đợ gồng hổ cảm ứng chứng minh cho.........tên họ tuổi ........cầu việc gì nói ra............(bình an giải nạn ,kiện tụng đắc thắng ,thương mãi đại lợi ,giao tế viên mãn v.v........) (3 lần) 
ngải khi đã luyện khô rồi được sử dụng các cách như sau : 
Khi có thân chủ lại nhờ việc gì đó , ông thầy đầu tiên hỏi tên họ tuổi đương sự ,sau đó nhang đèn triệu thỉnh rồi cắt vài lát ngải khô hoặc cho nguyên cả củ nhỏ gói trong giấy cấp cho thân chủ , cũng có khi tuỳ việc mà sên thêm 1 vài lát cho ngậm vào miệng khi đi ăn nói như lúc ra toà ,đi đòi nợ hoặc mượn tiền . còn có thân chủ làm những nghề như buôn bán địa ốc , bán bar hay là chị em ta cần sự thương mến , chiếu cố của khách hàng thì thì thầy bảo mang đến 1 chai dầu thơm ,bỏ ngải vào đó ,chú nguyện tên tuổi ,mục đích cầu gì v.v...... kêu ngải theo trợ giúp người này ..... đương sự sau đó khi dùng chỉ cần mỗi ngày khấn 36 mẹ tổ ngải và xức dầu đó xung quanh miệng ,nói người ta nghe , xức 2 chân mày nhìn người ta mến và xoa vào 2 tay bắt tay ,vổ vai ,vuốt ve đụng chạm thì người thương chuyện khó hoá dễ ! 
Thực ra khi mình xài ngải cũng như bùa , là không có chuyện phải chuộc , phải thỉnh để xài hoài ,nếu không sẽ bị điên khùng như nhiều người nghỉ , đó chỉ là lòng vụ lợi của mấy ông thầy ,muốn thân chủ trở lại hoài để cúng tiền ,trả công cho ông mà thôi ,nên nếu lâu người đó mà không đến thì ông thầy làm phép trục (kêu đến) người đó không an trong dạ ,xuôi khiến chuyện này chuyện kia phải đến thầy mới trở lại bình thường , xét ra là vị thầy như vậy vốn không đủ tư cách với thiên chức pháp sư của ông ta và cũng không thấu đáo về luật nhân quả vậy ! 
Nói đi thì cũng nói lại ,có nhiều thân chủ cũng bạt mạng ,vì mục đích mà bất chấp ,gạt cả ông thầy xính vính như chơi ,ví dụ có cô là dân giang hồ mưu việc đoạt chồng người mà khi đến thầy bảo là chồng mình theo vợ bé , có người muốn mượn tiền người khác mà lại nói là người đó thiếu tiền mình v.v........ có nhiều người thắc mắc răng` : à ....tại sao làm thầy mà không biết để cho họ qua mặt v.v..... ,thực ra ông ta chỉ là thầy bùa chớ đâu phải thầy bói ,có nhiều ông còn không biết thiên cang ,địa chi ,ngủ hành nạp âm là gì ( mấy thầy ở quê) ,nếu có người luyện cao thì có thiên linh mách bảo hoặc ngải mách ,ma xó v.v..... còn nhiều thầy chỉ là nghề tổ phụ truyền lại tam sao thất bổn biết bao nhiêu hành bấy nhiêu , mà đa số là có óc tự mãn ,xem mình là cái rốn của vũ trụ ,không học hỏi trao dồi thêm ,hoặc là biết mình kém về mặt đó nhưng vì tự ái hảo cũng không chịu hạ mình bổ khuyết ..........., nói vậy không có nghỉa là mấy thầy đó làm không linh ứng ,khi mà thần chú hoặc ngải nghệ đúng tầng số sử dụng , đúng chiêu bài thì nó sẽ phát huy công năng ghê gớm lắm ! 

Bùa ngải phải hội đủ 4 yếu tố : phù ,chú ,ấn ,khuyết mới có thể tác động linh ứng được . 
Bị bỏ bùa yêu có nhiều cấp độ nặng nhẹ và nhiều cách bỏ , ví dụ 1 người bên Mỹ về việt nam chơi bị các cô bia ôm , vũ nữ v.v..... mồi chài bằng bùa yêu , mê hoặc , đắm đuối , nhưng khi về lại mỹ do ngăn cách đại hải , phong thổ , quôc' gia thì bùa kia cũng sẽ giảm bớt hiệu lực phần nào với nạn nhân , còn nạn nhân nếu bị người cùng quốc gia , bản xứ bỏ bùa thì sẽ bị nặng hơn kéo dài hơn, cách bỏ gồm nhiều loại nhưng cái cần thiết là người muốn bỏ phải biết tên họ tuổi thật hay có hình của người mình muốn bỏ ! bùa yêu cũng có chánh tà 2 loại , loại chánh dùng để phu thê hoà hiệp , làm cho chồng bỏ vợ bé , làm vợ bỏ kép quay về với chồng 
Còn những loại quỷ tiên tà pháp , hát yêu ái pháp v.v...... thì làm miễn được việc thì thôi ,không có cấm kỵ thiện ác gì cả , 
Người bị bỏ bùa ở cấp độ nặng là khi đã bị cho uống bùa cùng những loại dơ bẩn từ nội tiết của người đầu độc bằng bùa qua bàn tay trợ giúp của ông thầy nào đó ....! đại khái là ông thầy sau khi khấn cột 2 tên họ tuổi sẽ vẽ cấp cho người đến nhờ 3 lá bùa , kêu người đó dùng kim chích máu từ ngón tay giữa( nam tả nữ hửu) thấm 3 giọt lên mỗi lá bùa rồi lừa cơ hội đốt cho đương sự ăn hoặc uống , những chất mà làm cho bùa phát huy thêm mạnh là cafe sửa và chè đậu đen , sau đó người bị bỏ bắt đầu mong nhớ muốn gặp người kia , khoảng 1 vài tuần là lậm vô cơ hồ thiếu vắng là không được , nôn nao bứt rứt không yên , hay vào trạng thái thẩn thờ , ngó mông lung , buồn ủ rủ và đương nhiên sẽ nổi cáu ,gây gổ với người phối ngẩu (nếu đã có gia đình) , sẳn sàng ly dị bỏ vợ bỏ con để chạy theo người đã hạ thủ ..... 
đó là còn nhân tính 1 chút , còn nếu độc hơn vừa bỏ bùa yêu vừa cộng thêm thuốc mê như con nhện ôm trứng (có thai) ,con bửa củi ( cộng nhiều vị khác v.v..... ) hiệp nhau hỏa tán cho uống vài lần nạn nhân sẽ mê lậm , lú lẩn ( với kẻ ra tay thôi. 
) con chó chạy ngang mà nói con mèo cũng sẽ gật đầu , thứ này khó mở lắm , phải nhơ` pháp sư cao tay làm phép giải cho uống và đưa hình cho pháp sư đó tụng chú kim cang giám sát thổi vào nhiều đêm hòng trục phá tà thuật tư` người hại , nhưng khổ nổi như kẻ say rượu đâu bao giờ nhận là mình say , người bị bỏ bùa không bao giờ nghỉ là mình bị bỏ , cho đến khi tiền bạc trong băng không cánh mà bay ,nhà cửa bán sạch , vợ con bỏ mặc , không còn gì thì kẻ dã tâm kia mới buông tha , lúc đó tỉnh ra thì sự đã rồi ....... bị bùa bỏ nhẹ thì 6 tháng đến 1 năm sẽ hết , nặng thì 1, 2 năm có thể đến điên loạn chẳng bao giờ tỉnh cả , cái đó tuỳ thủ đoạn của người bỏ, phải kiếm cách chửa đừng bỏ mặc ỷ y 
Cho nên người có thân nhân bị bỏ bùa nên nhẩn nại , đừng tranh cải với nạn nhân ráng nhịn nhục , tim` phương cứu gở , cho uống mật con chó mực cũng là 1 cách giải nhưng chỉ hửu hiệu ở cấp độ nhẹ thôi , còn khi đã bị nặng nên nhờ pháp sư cứu chữa , hay đến các chùa nam tông phật giáo của người miên, lào , thái đa số các sư trụ trì những nơi đó đều biết pháp thuật mong họ giúp cho . 
Bùa Phép trước khi dùng phải được Thầy truyền ấn (3 lần), rồi tuyên thệ, rồi giữ giới cấm, kiêng ãn, rồi ăn chay...(có thời gian tôi ăn chay trường 3 năm, một ngày cúng luyện 3 lần). Phải khổ luyện ấn mới có power được (Vì thế mới có câu: “Thầy cao tay ấn”). 
Tại hạ có bí phương sư phụ truyền dùng để mở thư, mở ếm , mở thuốc độc , bùa yêu tất cả v.v........nhưng hiềm vì có 1 vị khó tìm với những ai không biết về huyền bí , nhưng có thể để người quen ở việt nam kiếm được , đi đến bất cứ ông thầy nào về ngải bên đó xin thỉnh ngải nàng thâm , chỉ cần 2 chỉ thôi ( ngải luyện rồi hay chưa cũng được ) phương thuốc này rất thần hiệu tại hạ từng mở cho nhiều người lắm , nay viết ra đây cống hiến quý vị để có ai cần thì dùng , từ khi có tuổi một chút tại hạ chuyên tâm phật chú nhiều hơn , không có nuôi ngải như lúc còn trẻ nên không giúp đến cung ` được , thôi thì tuỳ duyên vậy ! 
xuyên đại hoàng 1 lạng 
bạch giới tử 5 chỉ 
đại qui phiến 1 lạng 
tả diệp 1 lạng 
chỉ xác 1 lạng 
ngải nàng thâm 2 chỉ 
Tất cả hiệp tán thành bột cho uống mỗi lần 5 chỉ , mỗi ngày 1 lần vào sáng sớm bụng đói , hoà nước âm ấm mà uông' . 
Người xaì bùa ngải không có cách nhìn , chỉ có người luyện bùa ngải thì nhìn có thể biết thôi : mắt sáng quắc , ăn cơm , uống rượu hay vái lâm` thầm , ăn uống kiêng cử những thứ như : chó trâu mèo khỉ , dấp cá , ngò om , khế , khi đang ngủ say có ai đến gần đầu nằm tự nhiên bật dậy , tỉnh giấc . 
Thông thường khi dùng bùa ngải là ít nói tới chuyện tính số mạng , ông thầy cũng ít khi tư` chối những chuyện chánh đáng lắm ,nếu những người giả dạng hiền nhân như huynh nói đây cũng khó qua mặt pháp sư lắm ,dù cho vị pháp sư đó có dốt lắm về lỉnh vực bói toán đi chăng nữa ,bởi vì những chuyện thương thiên hại lý khi nào tổ thầy lại làm ngơ ? bằng nhiều cách cảm ứng có thể cản ngăn vị thầy đó làm bậy giúp lầm ! 
Về cách luyện Ngải của người Mường qua theo dõi băng ghi âm và ghi hình , dienbatn thấy đơn giản hơn rất nhiều . Lễ nghi cúng tế , luyện Nèm , làm Ngải cũng rất đơn giản . Có lẽ còn đơn giản hơn cả chuyện giỗ chạp của người Kinh chúng ta .
Đêm đã về trên bản làng người Mười . Xung quanh ngôi nhà , một làn sương mù bao phủ , làm cái nhà Thày Thục như một con tàu bồng bềnh trôi trên biển khơi , khí Trời se lạnh , con người như muốn tìm đến nhau , đem cho nhau chút hơi ấm của cơ thể . Khí hậu này , Trời đất này , trách gì Thày Thục có đến 13 đứa con , chết hết 5 đứa , chỉ còn lại 8 người con đặt tên ÔM - EM - BỘI - THU - PHÚ - QUÝ - TRỌNG - TRẠCH . Thấy Thày không nói gì đến mình , lại sãn cơn buồn ngủ , dienbatn trèo lên giường ngủ tít . Khuya lắm rồi , có lẽ phải hơn 11 giờ , sau khi đã làm được một giấc đẫy ( Ở đây người ta đi ngủ rất sớm ) , bỗng dienbatn thấy Thày Thục , khăn áo chỉnh tề nhè nhẹ đánh thức dậy . Lúc này sương trắng phủ mù mịt , hơi lạnh trên núi như cô đặc lại . dienbatn chân thấp , chân cao theo Thày sang bên căn nhà thờ được xây gần nhà . Không biết Thày Thục dạy từ lúc nào mà đã thấy trên bàn thờ đèn nến sáng trưng , gà luộc , hoa quả đã tề chỉnh trên bàn thờ . 
Thày kêu dienbatn ra bể nước rửa chân tay cho sạch rồi hai Thày trò trèo lên cái phản gỗ lim kê ngay dưới bàn thờ . 
Thày Thục lên hương hết khoảng 15 bát hương trên bàn thờ và lầm rầm khấn vái . Cố gắng nghe , dienbatn thấy thày khẩn cầu Ngài Quan linh cửa suối , Hai ông Thang ngài , Các ông Thần làng Mịn , làng Sang .. Các vị Thần sông : Sông Dân , Sông Nứa , Sông Dày , sông Thao , vái cha của Thày là cụ HOÀNG VĂN CƯ ... Thày khấn đại loại như có thằng Đệ tử , tên .. tuổi... Địa chỉ , nay có lòng học tập Pháp thuật của người Mường , Cầu xin các Quan chứng giám để cho nó học tập bằng anh , bằng em , không làm hổ danh của các Quan ngài .... 
Có một bài Thỉnh Quan rất hay tiếng Mười gọi là bài Thai Luyện Ông Quân , dienbatn chép câu được câu mất như sau : 
Ở trong giếng Lấp ( giếng Lạng ) ngàn quân , 
Đến cơn Phong vụ rần rần ... 
Năm trăm đóng ở vòng trong , 
Cờ bay san sát đóng trong vòng ngoài ... 
Chung quanh quân ta nghiêm làm sao . 
Những Tướng hung hào mụ gót áo len 
Cầu Phật tôi lại cầu Giời ... 
Tóc tươi hơn hớn lại có Nhật Nguyệt Tam tinh . 
Ông hóa làm Vua Thiên hạ giới , 
Con thỉnh Ngài Sông Dân , Sông Nứa , Sông Dày , Sông Thao ... 
Ngài tín chủ sợ bệnh bất an 
Bệnh nhân thân thế , cơm không thấy nhá , cá không thấy ăn , 
Thấy khi trầm , khi mạt , khi thăng , khi giáng , khi đầy khi vơi , khi ngơi , khi nghỉ . 
Nay cung thỉnh các Quan lai lâm giáng hạ ... 
Sau khi làm thủ tục cung thỉnh Thần linh xong , Thày Thục ngồi xếp bằng trên phản , ung dung đốt thuốc lào uống trà và tận tình , cặn kẽ chỉ cho dienbatn những bí quyết của thuật Nèm người Mường . Một Thày , một trò say sưa giảng và học , mải mê ghi chép quên cả cái giá lạnh ngoài kia . Thấm thoắt đêm dài đã qua đi , ngoài kia gà rừng và gà nhà đã đua nhau gáy vang , báo hiệu một ngày mới lại bắt đầu . Thày Thục gói cho dienbatn một ít chân hương và một ít tro ở các bát hương trên bàn thờ để đem về nhà lập bát hương mở một Chi nhánh mới của xứ Mường . Hai thày trò trở về nhà lặng lẽ ngồi ăn cơm nếp với Thịt gà do cô con dâu dọn lên rồi uống trà .Lúc này mọi người mới lục tục trở dạy để bắt đầu một ngày mới trên xứ Mường vừa quen lại vừa lạ này . 
Về thuật nèm của người Mường khi thực hiện phải theo những quy củ và lễ nghi chặt chẽ lắm . Khi đọc chú ( Có khi dài đến hơn một trang giấy ) , phải đọc một mạch , không được nghỉ , nếu giữa chừng bị đứt đoạn phải làm lại từ đầu . Khi đọc , chỉ lầm thầm trong miệng và tuyệt đối không được để lưỡi va vào rằng là mất linh . Sau khi niệm đủ 3 lần bài chú , mà cuối mỗi bài bao giờ cũng có 3 lần câu Úm Ta Ha Khất , phải dùng hơi dài mà phả vào thứ cần Nèm theo một kiểu rất đặc biệt : Hà ,hà , hà .......Hất. Làm đúng phép tắc như vậy thì vật nèm mới được Linh nghiệm . Thường chỉ trong 3 ngày , chậm nhất là một Tuần là sự việc xẩy ra đúng như ý . Phép Nèm cũng có nhiều điều kiêng kỵ . Khi truyền dạy cho người khác phải chọn đúng ngày , giờ , mỗi năm chỉ có một số ngày mới được phép truyền dạy . Có những bài Nèm chỉ được thực hiện vào lúc chập tối hay nửa đêm . Nèm xong phải quay về hướng Tây để thở . Nếu mủa ếch nhái kêu thì có truyền dạy đúng bài bản cũng không thể Khất ( không linh nghiệm ) . 
Thuật Nèm có thể làm được rất nhiều việc . Xin thử thống kê những việc dienbatn đã học , đã thấy để các bạn tham khảo : 
1/ Làm cho vợ chồng thương yêu nhau phải mượn muối , lá rau răm , các cây đũa . 
2/ Nèm làm cho 2 người ghét nhau : mượn lông chó và lông Mèo . 
3/ Nèm cho người khác phải yêu : mượn khăn tay , mượn cành lá , mượn bàn tay đọc chú vào rồi vỗ vai người cần Nèm . Mượn ánh mắt : Miệng đọc chú và liếc mắt nhìn đưa tình vào người cần Nèm làm cho đối phương phải thương phải nhớ . 
4/ Có thể đọc chú làm cho con chó người lạ cũng phải vẫy đuôi khi nhìn thấy mình . 
5/Bị đứt tay , chẩy máu , đọc chú vào thì vết thương tức khắc liền lại mà không để lại sẹo . 
6/ Vẽ một vòng tròn trên vách nhà , đọc chú nhốt muỗi vào trong đó . 
7/ Nèm nương để cho người khác không ăn cắp hoa màu ở nương rãy của mình . 
8/ Nèm chữa bệnh cho người và gia súc . 
9/ Nèm để kêu người khác phải về . 
10/ Nèm giúp cho những người khó sinh sản : Riêng bài Nèm này có cả một đoạn tiếng Kinh như sau : Nước chảy làng làng - Ta mượn chàng bắt nước - Ta bước qua sông - Ta đây là Rồng A cái - Mắt ta có câu liêm - Tay ta có liêm ngoạt - Ta bắt đứa nào , thằng nào - Bất cứ không ra - Ta chém làm ba - Ta pha làm bảy - Ta nạy cái đầu xuống sông .... 
11/ Nèm đòi nợ . 
......... 
Có rất nhiều việc có thể Nèm mà người viết không thể kể ra hết được .
MỘT SỐ HÌNH ẢNH DO DIENBATN CHỤP . 
LÊN ĐƯỜNG 

BẠN ĐỒNG HÀNH 


NHÀ THÀY THỤC 


DÒNG SUỐI BÊN NHÀ THÀY THỤC .
 BUA RUOU LAM QUEN 

 DIENBATN VÀ THÀY MO HOÀNG VĂN THỤC . 


THAY MO THUC VÀ ÔNG BẠN GIÀ . 


THÀY THỤC TẠI NHÀ . 


DIENBATN VÀ CON THỨ 7 CỦA THÀY THỤC . 
ĐIỆN THỜ CỦA THÀY MO THỤC .  
NGẢI VÀNG.
NGẢI TRẮNG . 
VƯỜN NGẢI NHÀ THÀY MO THỤC.

Xin theo dõi tiếp bài 2. dienbatn.
Xem chi tiết…

TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐỘNG TÂY - NHP

5/11/2010 |
TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐỘNG TÂY - NHP



Đây là một cuốn sách của GS.TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG mà nhiều bạn đang tìm kiếm .
http://www.4shared.com/document/I9tsFyKd/Tich_hop_da_van_hoa_dong_tay.html
Thân ái . dienbatn.
PM: dienbatn mới tìm được bài này đăng trên TUVILYSO.NET từ 2004 . Nay chép vào đây để tưởng nhớ NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG và anh DaoKy.
" Lẽ ra bài này phải đặt ở chỗ khác ,nhưng dienbatn mong các bạn chấp nhận vì dienbatn rất muốn có một nén nhang tưởng niệm GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG trong mục Phong thủy quen thuộc của mình. Xin cảm ơn các bạn.dienbatn.
TIỂU SỬ TÓM TẮT CỦA CỐ GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG .
GS-TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG sinh năm 1927 tại Huế.
Từ năm 1954, ông đã dạy các môn Toán, Vật lý lý thuyết, đặc biệt là Lý thuyết nhóm, Cơ lý thuyết, Lý thuyết tương đối, Cơ lượng tử, Lý thuyết các hạt cơ bản tại Trường ĐẠI HỌC TỔNG HỢP -Nay là TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA VIỆT NAM.
Từ năm 1970, ông chuyển sang nghiên cứu những vấn đề thuộc Triết học cổ Đông phương ,Trường Sinh học trên các mặt Triết học,Phương pháp luận và Cơ chế,trong mối quan hệ với các Khoa học Tây phương.
Từ năm 1985, ông đã định hướng được con đường Tích hợp Triết học cổ Đông phương ( Bao gồm cả Trường sinh học ) với Lý thuyết Tập mờ (Sáng tạo nãm 1965 bỏi L A. ZADEH- Thuộc Trường ĐẠI HỌC BEKLAY -CALIFORNIA ) và một số Cận Khoa học.
Tiến sâu hơn nữa vào con đường nghiên cứu của mình GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG đã tiến hành nghiên cứu TIÊN TRI HỌC TÂM LINH MINH TRIẾT VÀ DUY LÝ THỜI ĐẠI DI LẶC THÁNH ĐỨC.Đó là những vấn đề thuộc lĩnh vực Tiên tri rất sâu rộng và phổ quát cho mọi hiện tượng trong tương lai - Thời kỳ của ĐỨC DI LẶC THIÊN TÔN -Ứng với cuộc sống Đời thứ 81 -Thời đại sẽ thay thế cho Thời đại của ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI hiện nay.Điều hết sức thú vị là GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG dùng toàn bộ thuật Toán để chứng minh và khái quát những vấn đề nêu ở trên.
Các tác phẩm đã được công bố của ông như sau :
*Cơ Lý thuyết.
*Hóa Lượng tử trên cơ sở Tích hợp Toán,Lý,Hoá.
*Lý thuyết Nhóm và ứng dụng vào Vật lý Lượng tử.
*Sử lý tín hiệu rời rạc.
*Toán tập mờ cho Kỹ sư.
*Đông Y học dưới ánh sáng của Lý thuyết Tập mờ.
*Con người và Trường Sinh học.
*Oriental Philosophy Fundarmentals and Fuzzy set. East and West.(Tích hợp đa Vãn hóa Đông - Tây cho một chiến lược Giáo dục tương lai ).
*Albert Einstein.
* Galileo Galile.
Còn khoảng hõn 5.000 trang viết bằng thuật toán Lý thuyết Tập mờ, triển khai và lý giải các vấn đề về Thời đại DI LẶC THÁNH ĐỨC chưa được công bố.Đây là một tài liệu Khoa học rất có giá trị và là Tâm huyết của GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG trong gần 20 năm qua.
Cuốn Oriental Philosophy Fundarmentals and Fuzzy set. East and West.(Tích hợp đa Vãn hóa Đông - Tây cho một chiến lược Giáo dục tương lai ) của GS- TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG đã được đánh giá rất cao của các Trường Đại học LOMOMOV, Trung tâm tính toán của VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC LIÊN XÔ,Các nhà Khoa học hàng đầu...
Hy vọng rồi mai đây Khoa học hiện đại sẽ đánh giá được giá trị các công trình nghiên cứu về TIÊN TRI HỌC TÂM LINH MINH TRIẾT VÀ DUY LÝ THỜI ĐẠI DI LẶC THÁNH ĐỨC của ông.
Ông vừa mất ngày 29/ 3/2004 tại nhà riêng A 7- 46 QUẬN ĐỐNG ĐA -PHƯỜNG PHƯƠNG MAI - HÀ NỘI.
Khoảng 20 ngày trước khi mất,dienbatn có dịp diện kiến với ông,ông đã nhờ dienbatn chuyển lời chào Vĩnh biệt với các Huynh đệ đồng Đạo.dienbatn và các Huynh đệ- Tỷ muội trong phái THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO xin dâng một nén nhang tưởng nhớ tới Đại Huynh NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG -Xin chúc Đại Huynh sớm tới thời DI LẶC THÁNH ĐỨC.
Huynh ,Đệ,Tỷ,Muội xin cùng nguyện với anh như sau :
Nam mô Đại nguyện : Huỳnh Đạo hoằng khai- Vạn thù quy nhất bổn.
Nhị nguyện: Cứu khổ chúng sanh- Tỏ ngộ chơn Duyên hồi nguyên chánh giác.
Tam nguyện: Cửu Huyền Thất tổ tịnh độ siêu thăng.
Tứ nguyện: Khai triển Long hoa Phật Vương trị chúng Thế giới bình an.
Ngũ nguyện: Hộ trì Đệ tử Tuệ giác khai thông,Đắc thành Đạo quả.
dienbatn.
Xin thắp nén Tâm nhang cầu nguyệt cho Hương-Linh Giáo Sư Nguyễn Hoàng Phương Siêu sinh Tịnh-độ.
Pháp Vân
Hi all!
Hôm trước đó Huynh cũng nhờ Diênbatn mà nói chuyện được với GS Hoàng Phương. Trong lúc nói chuyện cùng với Đại Huynh thì ông có nói với huynh:
" Hiền Đệ ! Cho huynh gởi lời thăm tất cả huynh đệ của mình trong Nam."
Huynh mới hỏi :
-sức khoẻ của huynh ra sao rồi !
-Tốt ! Tốt lắm ! ( ông cười sang sảng trong máy)nhưng huynh sắp về chầu Thầy rồi đệ ơi ! chuyện này hôm năm 2002 huynh có vào trong TP.HCM tìm đệ đó muốn nói cho đệ nghe việc đức Di Lạc bảo huynh đã hết số, chỉ cho huynh ăn xôi mà thôi !
-Ồ huynh còn khoẻ mà, mai mốt nếu có dịp đệ ra ngoài ấy thăm huynh và Thuỳ Vân !( là cô học trò của Huynh Hoàng Phương ).
-Chắc không kịp đâu đệ ơi! Huynh đã biết ngày mình đi rồi !
Kế đó vì trục trặc máy cúp nửa chừng, không biết tại sao.
Dienbatn à ! Hôm huynh điện cho GS Phương ngày 31/3 thì nghe cháu của Huynh ấy nói: " Thưa Bác Ông cháu mất rồi, cháu cám ơn bác đã hỏi thăm !"
Thật đúng như lời nói của Huynh Hoàng Phương, khoảng 20 ngày sau thì huynh ấy đã thăng mất. Huynh ấy chính là "Thần Quy" mà Thầy Mẹ Phong thiên Danh là "Thiên Quy Tinh" gọi tắt là Thiên Quy. khi đã làm xong sứ mạng để lại cho đời những kiến thức do huynh ấy tham cứu gồm 7 quyển sách gần 2000 trang sách ( sau này huynh ấy gạn lọc và tổng hợp biên soạn trở lại ) những kiến thức ấy rất hiếm có những người hiểu biết rộng rải như vậy! hiện nay còn một anh bạn nửa chính là TS Hoàng Minh Thông ở Dalat cũng tham gia nghiên cứu Kinh Dịch giống như GS. Phương vậy , ông ấy cũng đã gặp Huynh và trao đổi kiến thức của mình với nhóm.
Thấy đệ là người nghĩa cử huynh rất mừng ! chúc đệ một ngày vui vẻ trên diển đàn. Thân . Daoky
-Msg 3 of 3: Đã gửi: 07 April 2004 lúc 1:13am
Đã lưu IP "
http://tuvilyso.net/forum/forum_posts.asp?TID=2123&PN=30
Xem chi tiết…

NGÀY CUỐI CÙNG - “TẬN THẾ”

5/07/2010 |
NGÀY CUỐI CÙNG - “TẬN THẾ”

Thương nhân loại đã kề miệng hố
Động lòng, Ta tiết lộ ít dòng
Để cho bá tánh biết đường
Tránh cơn chuyển biến muôn ngàn khổ đau
Cơ tận diệt trốn đâu tránh khỏi
Phật, Thánh, Tiên các cõi xuống Trần
Lệnh truyền bố trí xa gần
Lập phương cứu thế khắp miền Đông Tây
Cuộc đại tạo Âm Dương biến chuyển
Do sơ đồ phát triển canh tân
Cõi Trên, cõi Dưới đổi dần
Vô hình định đoạt, hữu hình hiện y
Muốn đổi mới cái gì có sẵn
Phải san bằng cho sạch cũ đi
Làm cho đúng lúc kịp thì
Đó là định luật chuyển di tuần hoàn
Cuối Nguyên Hạ mái huyền phát động (1)
Khắp Địa Cầu đâu đặng còn nguyên
Bao nhiêu những chuyện kinh Thiên
Tang điền biến cải đảo điên muôn loài
Lắm sanh chúng đang còn mơ mộng
Tin chắc rằng đời sống văn minh
Của nền khoa học hiện tiền
Là đà chiến thắng thiên nhiên của người
Đâu có biết Cơ Trời lại khác
Trao cho người khí giới diệt vong
Để người tự giết cho đông
Đỡ cho Thần Thánh nhọc công ngày cùng
Nguyên tử lực tân kỳ khoa học
Một phát minh cao cả của người
Là con rắn độc hại đời
Nắm đuôi cũng khó, nắm đầu cũng nguy
Khoa học biết ngoài ra nhánh lá
Đạo học thông nguồn gốc vạn loài
Biết da dốt góc phàm nhơn
Biết da thông góc siêu nhân phi phàm
Trời Âm trược cực hung cực ác
Trận thứ ba hồn xác khó tồn
Chia ra hai khối tranh hùng
Văn minh vật chất cáo chung đến ngày
Nền trật tự hoá công đã sắp
Mà con người muốn lấn sang ranh
Vệ tinh, hoả tiễn phóng nhanh
Ra ngoài biên giới hành tinh của mình
Làm rối loạn quân bình vũ trụ
Hãnh diện rằng chinh phục không gian
Đâu ngờ phản ứng dây chuyền
Rồi đây Hạ Giới chịu nhiều hoạ lây
Lẽ tiến hoá ai đâu chẳng muốn
Nhưng phải tuân định luật thiên nhiên
Thông minh trí thức làm liều
Là cơ phản tiến tiêu điều Trần Gian
Cơ khí hoá muốn bằng Tạo Hoá
Trớ trêu thay châu chấu chống xe
Sức người mà lại muốn khoe
Sánh cùng Thiên Địa - Mẹ Cha muôn loài
Muốn như vậy phải lo tu tập
Đạt đủ quyền đủ lực thần thông
Được cùng Trời Đất hoà đồng
Góp phần tân tạo lập công Hội này (2)
Rồi sẽ thấy quyền năng Tạo Hoá
Triệu ức lần hơn cả sức người
Tạo Trời lập Đất muôn loài
Sinh ra Vũ Trụ chẳng cần máy chi
Đảo lộn hết không gì ngăn nổi
Tạo lại liền chẳng nhọc công lao
Toàn dân thiện mỹ ly hào
Phật Trời, Tiên Thánh xem vào ngẩn ngơ
Thượng, Trung, Hạ bắt đầu thay đổi
Từ đất trời, tinh tú, loài người
Cỏ cây, cầm thú, núi sông
Nắng mưa, thời tiết đâu còn như xưa
Quyền tạo hoá Chân Âm nắm giữ
Đến Kỳ Ba lập lại Nguyên Tân
Đà Hoa Thiên mạng giáng Trần
Nước Nam Đất Việt-Trung ương Địa Cầu
Tây phương đền Thánh, Tiên cung kính
Đợi lệnh truyền sứ mạng hành y
Tiên Thiên rồi đến Hậu Thiên
Hiền tài, sĩ tử khắp miền lập công
Quyền lực hoá vô biên khó tả
Xưa Nữ Oa luyện đá vá Trời
Đà Hoa vá Đất hiện thời
Chỉnh luôn Tam Cõi mà đời chưa hay
Bầu Thái Cực hoá sinh vạn hữu
Cũng là Người dưỡng dục muôn loài
Âm Dương, Tứ Tượng vận hành
Ngũ Hành, Tứ Tượng, Hà Đồ, Lạc Thư
Đất Nam Việt Trung ương mộ kỷ
Nơi tập trung xuất phát quyền năng
Kỳ Ba nắm hết chuẩn thăng
Bảy hai ba sáu tuỳ tùng tại đây
Chốn linh địa trở sanh nhân kiệt
Để sau này phát triển hậu lai
Thông minh trí thức thời nay
Nhiễm sâu tư tưởng ngoại lai khó bày
Người đạo đức chân tài minh triết
Đủ nghĩa nhân hạnh tiết cao sang
Tước quyền, danh lợi chẳng màng
Tuy hình người, trong lại yêu ma
Quên mình để giúp vạn dân, muôn loài
Đời mạt pháp sinh nhiều quỷ quái
Còn nguyên thú tính nguỵ tà
Đại gian đại ác điêu ngoa khó lường
........................................
dienbatn cắt bỏ đoạn này )
Một dân tộc kiêu hùng oanh liệt
Mà lẽ nào chẳng biết phục sinh
Khuyên người ẩn nhẫn qua truông
Hết cơn đen tối đến ngày quang minh
Muốn dọn đất phải làm sạch cỏ
Hễ đốt rừng, sâu bọ chết thiêu
Đến mùa ruộng rẫy xanh tươi
Thu nhiều hoa lợi, người người hưởng chung
Hãy trở lại Gốc Nguồn dân tộc
Lo phá điền dọn đất chờ mùa
Đợi thầy Thập tự giáng Trần
Đem nhiều giống quý lưu truyền đời sau
Không dùng đến binh hùng tướng mạnh
Cũng chẳng cần cơ khí tối tân
Một mình vận chuyển Âm Dương
Thắng binh, thắng tướng, thắng khoa học đời
Mượn hình thức đá cây đất nước
Vận huyền vi trừ khử trược âm
Một bầu vũ trụ bao hàm
Nằm nhà điều khiển, chẳng cần đi đâu
Lo lập lại cơ đồ nước Việt
Sửa bàn cơ bốn biển năm châu
Trong tay nắm đủ phép mầu
Địa hình địa vật khắp miền đổi thay
Đuôi Tây Tạng đầu về Nam Việt
Miệng Cửu Long ngậm biển đại thanh
Huyệt linh kết tụ khí huyền
Chờ giờ sấm nổ chuyển mình thị oai (3)
Cuộc địa chấn xảy ra rùng rợn
Từ Nam Quan đến Mũi Cà Mau
Núi sông đất sụp ầm ầm
Nước trào lửa dậy, đá bay vù vù
Vùng Bảy Núi chẳng còn nguyên vẹn
Trừ vài nơi, các chỗ đều thay
Cù lao, rừng biển, thị thành
Chỗ trồi, chỗ sụp, âm thanh rợn người
Nhiều ranh giới quốc gia thay đổi
Các liệt cường chịu khổ nhiều hơn
Để đền tội ác bao thời
Đòn cân công lý Đất Trời nào sai
Nước Việt mới kinh đô dời chỗ
Về Hậu Giang bờ biển phía Tây
Tàu bè lui tới đông vầy
Đền đài cung điện kỳ quan tuyệt vời
Nước thơm ngọt trị lành các bệnh
Tháp chín tầng mầu nhiệm vô cùng
Lên Trời xuống Biển có đường
Cây, đàn chim hót gió lồng mùi thơm
Khắp các nước đổ xô nhau đến
Để dò xem huyền diệu tân kỳ
Thấy rằng thế giới không bì
Tinh thần, vật chất cực kỳ siêu linh
Đến chừng đó mới xin trợ giáo
Tôn làm thầy học đạo học đời
Sau về truyền bá khắp nơi
Văn minh thượng đỉnh của người Thượng Nguyên
Sẵn vàng bạc, ngọc ngà châu báu
Thêm các hầm có mỏ lộ thiên
Giúp cho thập bát còn tồn
Đủ phương kiến quốc sống Nguyên Thanh Bình
Có điềm trước báo ngày tận thế
Trên bầu trởi đổi sắc xám đen
Mây giăng lơ lửng ưu phiền
Mùi hôi nồng nặc xông lên ngất người
Loài cầm thú khắp nơi sợ hãi
Dưới biển sâu cá nổi như bèo
Tự nhiên cây ngã đổ nhiều
Không trung nổi gió nước thì rút khô
Ba tiếng sấm rung rinh Tam Cõi (3)
Kế ngũ lôi truyền nổ kinh hồn
Tuần hoàn ngưng chẳng vận hành
Thu hồi Nhật Nguyệt, Ngũ Hành còn đâu?
Tối như mực ngày đêm 5 bữa
Không trời trăng, nóng lạnh, gió tiêu
Muôn loài bất tỉnh đê mê
Lựa lọc số ít để dành Nguyên sau (4)
Dưới quỷ quái trồi lên chực sẵn
Trên thú rừng biến hoá thần thông
Xông ra giết hại loài nhân
Cướp hồn cướp xác nhiễu nhương khắp vùng
Trước ngày đó nhập trong dân chúng
Bọn bàng môn tà đạo tung hoành
Dụng bùa dụng ngải phép phù giết nhau
Các đảng phải cũng ra múa rối
Xưng rằng ta mới đủ khôn lanh
Chống nhau để nắm quyền hành
Làm cho xáo trộn các ngành quốc gia
Còn tôn giáo thiên về sắc tướng
Bị qua phân theo hướng lợi danh
Tín đồ chia rẽ phân ranh
Tranh quyền lãnh đạo, rồi đành hại nhau
Dân muôn khổ - chạy theo vật chất
Chỉ lo tiền, chẳng thiết nghĩa nhân
Trên đe dưới búa đập bầm
Sống trong áp bức, lầm than cực cùng
Thiên tài đến tháp tùng địa ách
Khắp hoàn cầu hoạn nạn đủ bề
Binh đao khói lửa mịt mù
Thêm nhiều bệnh lạ giết người phút giây
Thời Âm cực là thời đại loạn
Cảnh máu đào giết chóc thê lương
Đâu cũng nước mắt đau thương
Cơ dĩ định chỉ còn có một
Luật tuần hoàn thay đổi Nguyên kỳ
Muôn loài phải chịu phân ly
Để rồi tiến hoá thêm nhiều hơn xưa
Có tận thế - có cơ cứu thế
Vì lòng từ các Đấng Thiêng Liêng
Cùng nhau xuống tận Hạ miền
Lo chung gánh vác cứu nguy muôn loài
Vì nhiệm vụ lìa nơi Cung Thượng
Đà La Hoa Thiên Mạng hiện thân
Chân Âm ra lệnh ân cần
Phật Trời, Tiên Thánh cứu thêm vài phần
Các giáo chủ hội về đầy đủ
Để xin cùng Phật Mẫu lãnh công
Trước lo trật tự giáo môn
Sau cùng các đấng thập phương cứu đời
Thiên Tiên đến Hậu Tiên hiệp sức
Các Linh Căn có xác dưới Trần
Đều ra trình diện Mẫu Nghi
Để lo cứu nước cứu dân Hội này
Giờ cứu thế thật là huyền diệu
Mùi hoa thơm Mẫu rưới khắp miền
Tiềng đàn nhạc trỗi triền miên
Chuông ngân trầm bỗng ru hồn vạn linh
Phật, Tiên, Thánh đi trên thây chết
Dụng phép mầu chọn lọc xác hồn
Lựa người lựa vật được tồn
Mùi hoa cho ngửi, chuông đàn cho nghe
Lần lần tỉnh giấc mơ mới biết
Mình hiện đang sống cõi xa xăm
Lạ quê lạ cảnh lạ trần
Gia đình quyến thuộc ít còn gặp ai
Loài cầm thú, cỏ cây, sông núi
Được chuyển qua cõi Thượng đều sinh
Thuần Dương, Trái Đất biến hình
Thuần Âm chọn đủ, linh thiêng vô cùng
Tạo lập lại trong ngày hắc ám
Mẫu đào hoa diệu dụng pháp huyền
Phật Trời khai sáng ba miền
Bốn mươi tám nguyện đến nay viên thành
Cơ phán xét tới đây chấm dứt
Đại phong thần đủ bản Kỳ Ba
Long Hoa Đại Hội cộng đồng
Định xong ngôi vị muôn loài Nguyên tân
Địa Cầu mới sổ ghi sáu bảy
Chất đầy thần, thơm mãi mùi hoa
Chân Âm thống lãnh Nguyên đầu
Thời kỳ định lại ba ngàn sáu trăm
Hiệp tam giáo quy còn một Đạo
Lưu truyền do bốn tám Tổ Sư
Khai nguyên tần pháp nhiệm mầu
Lục tâm đã diệt, tu mau đắc thành
Xã hội mới văn minh cao độ
Các ngành đều tiến bộ khó lường
Con người sống cảnh Thần Tiên
Thân hình đẹp đẽ, thông minh vô cùng!
Miệng cười tươi, tâm thần thư thái
Nhờ mùi hoa, nước miếng ngọt hoài
Đất linh học ít biết nhiều
Giống dân Nam hớn duyên ra nối truyền
Hoa nước Việt - Hoàn Cầu được hưởng
Hai miền trên Trung - Thượng cũng nhờ
Là Hoa Thượng Cổ không trồng
Huyền năng vô lượng hoá sanh muôn loài
Một tiểu quốc thay hình đổi dạng
Thành Đại Bang chủ tể Hoàn Cầu
Thật là huyền bí nhiệm mầu
Hậu Hồng Bàng có Nhị đồ tạo công
Ta báo trước việc vui, việc khổ
Nước tới trôn, để lộ vài phần
Mong cho đời đạo ân cần
Thân tâm lo chỉnh để còn ngày sau
Chớ ỷ lại có người cứu thế
Rồi tha hồ tạo nghiệp sâu chôn
Cộng trừ dưới điểm được tồn
Còn thì bị biến xác hồn ra tro
Một kiếp sống bao nhiêu đau khổ
Được là nhân trên cả các loài
Phải sao xứng đáng làm người
Chớ đâu sinh sống chết rồi lại than!
Sao không sống tu thân tích đức
Để được gần Tiên Phật, Thánh Thần?
Các Ngài sẽ hiện xuống Trần
Sống bên dân chúng ở phần hậu lai
Phật, Tiên, Thánh - người phàm đắc đạo
Mình là người, đâu phải quỷ ma
Sao không cố tiến kịp đà?
Để cho sa đoạ dưới hầm lửa sâu
Kỳ Ba lọc quan, dân, tu sĩ (5)
Cùng xét chung tất cả các loài
Màn đêm phủ đến nơi rồi
Hạng nào cũng trễ không xong trong ngày
Hiểu lý chết mới tường lý sống
Nên biết rằng sống chết tương quan
Đó là nhân quả luân hồi
Sống lành, chết nhẹ, tái sinh tiến hoài
Đời với đạo tuy cùng tại thế
Chia hai đường phát triển song hành
Xác hồn phải được quân bình
Lo trau vật chất, tinh thần muội mê
Các tôn giáo lo truyền từ ái
Mà được từ được ái mấy người?
Tu theo thế kỷ hai mươi
Đâu rồi hoàn đó, đạo đời khó phân
Tu kinh kệ âm thinh sắc tướng
Tạo cho nhiều chùa thất tượng hình
Đạo mầu vô tướng vô thanh
Tâm là Chân Phật, xác thân là Chùa
Chạy tìm đạo đông tây khắp chốn
Không biết rằng tại nước non nhà
Phật Trời, Tiên Thánh, Hội về
Lập đời lập đạo pháp mầu hộ sinh
Ham mau đắc huyền linh lạc nẻo
Lưới Ma vương giăng bủa đón mời
Giả Chân phân biệt không rồi
Chín phần lọt rọ, chỉ còn một thôi
Trong Vũ Trụ con người gồm đủ
Cùng vạn loài một thể mà ra
Tướng hình tuy khác bề ngoài
Đều do tứ đại âm dương tạo thành
Tu phải biết tìm trong xác thể
Chủ nhân Ông lồ lộ bên trong
Linh thiêng xinh đẹp nhiệm mầu
Chớ đâu Ông Phật xi măng ở chùa
Cứ tụng đọc sách kinh có chữ
Không chịu tìm vô tự, Chân Kinh
Kinh này không chữ không hình
Tụng thì đắc quả rõ thông Đất Trời
Học ba mớ bề ngoài chứng diện
Rồi xúm tôn ông nọ ông kia
Đạo mầu không chức tước nào
Không cần trưng diện quyền cao làm gì
Tướng ngoài Phật, bên trong yêu quái
Dắt chúng sinh về với Ma vương
Đạo trong thể hiện tâm lương
Trừ tà giác chúng, ngoài thường không lo
Tu hồn được tự do xuất nhập
Lìa thân nhà về viếng quê xưa
Đó là cư sĩ xuất gia
Chớ đâu trốn mẹ lìa cha vô chùa
Người chân chánh không phân tôn giáo
Giáo chủ đều cùng gốc xuống phàm
Tuy dùng phương tiện khác nhau
Tín đồ chia rẽ đạo tâm một nhà
Đâu cần phải chùa to Phật lớn
Ở chòi tranh, đạo vẫn quang minh
Tại gia cũng chứng quả lành
Không thâu không gửi của tiền thập phương
Học đạo lý - học trong thể xác
Khỏi cần tìm lý thuyết mông mênh
Phật xưa đâu có học Kinh
Làm câm, đui, điếc tạo tâm mau lành
Khi biết được trong thân đầy đủ
Màn vô minh tan vỡ lần lần
Tâm linh sáng tỏ trong ngần
Càn khôn vạn vật trong tầm mắt ta
Không cần học đạo tâm vẫn biết
Đủ phép mầu diệu dụng vô biên
Công viên quả mãn siêu phàm
Giúp Cơ cứu thế cuối màn Hạ Nguyên
Đọc không tiếng, vô hình, im lặng
Đức không khoe, cũng chẳng cần khen
Hạnh làm đầy đủ âm thầm
Hoá sinh dưỡng dục muôn loài vạn sinh
Đã nhiều vị xuống Cơ ra Sấm
Khuyên Dương trần lo sửa thân tâm
Cũng cho biết việc xa gần
Bị người chế nhạo nói khùng với điên
Ta có nói e người không thích
Nhưng lộ cho biết chuyện hãi hùng
Của ngày tận diệt cuối cùng
Để đời nghĩ lại ai khùng ai điên?
Khuyên bá tánh chăm lo ruộng rẫy
Sắm lưới chài dò bẫy giăng tơ
Tới mùa thâu lợi đầy kho
Gia đình sung túc, quốc gia phú cường
Đất sắp chết như người hấp hối
Ngũ tạng lìa, tứ đại đảo điên
Năm châu bốn biển ngửa nghiêng
Muôn loài rối loạn, đâu nguyên sắc mầu
Việc sẽ đến trong đời hiện tại
Chờ đâu xa trăm vạn năm sau
Cơ Trời như thể mộng mơ
Ngủ đêm một giấc, sáng ra đổi đời
Qua năm Tý nhiều lời nhiều chuyện
Còn bây giờ ít chuyện ít lời...
Nhắn cùng các điểm linh căn
Thuyền gần rời bến, ngủ quên trễ đò
Nghe phụng gáy Tây Kỳ vang dội
Bạch Hổ gầm rung động rừng sâu
Là ngày vinh hiển bắt đầu
Việt Nam phục nghiệp, Tiên Rồng rạng danh./.
____________________________________
(1) Theo nhiều nguồn tư liệu tôn giáo và tâm linh, xã hội loài người đang chuyển đổi từ Hạ Nguyên với nhiều khổ đau sang Thượng Nguyên với đời sống phúc lạc hoà đồng.
(2) Hội Long Hoa hay Hội Trời.
(3) Tín hiệu mở đầu thời khắc tận diệt là ba tiếng sấm vang dậy Trời Đất.
(4) Chính là Thượng Nguyên.
(5) Đây là kỳ tận diệt lần thứ ba kể từ khi khai Thiên lập Địa.
Nhóm NC tâm linh (Sưu tầm và giới thiệu)
Xem chi tiết…

NHẬN THỨC VỀ TÂM LINH .

5/06/2010 |
Nhận thức về Tâm linh



Hiện nay vấn đề Tâm linh đang nở rộ và có tính toàn cầu. Nhiều nước trên thế giới, ví dụ như ở Mỹ người ta dành những kênh truyền hình chuyên chiếu về phim “Ma”, giới thiệu và lý giải sự tồn tại của thế giới Tâm linh, của những “linh hồn” con người sau khi đã chết. Hầu như các nước trên thế giới nước nào cũng có các tổ chức, các Hội nghiên cứu về Tâm linh với các tên gọi khác nhau như Hội Thông thiên học, Hội nghiên cứu Cận tâm lý… Ở Việt Nam gần đây cũng đã có nhóm nghiên cứu Tâm linh có tên gọi là Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Mục tiêu chủ yếu của các Hội nghiên cứu Tâm linh là lý giải các hiện tượng siêu nhiên trên thực tế để đi đến kết luận là có tồn tại các “thực thể siêu hình” trong thế giới tự nhiên hoặc có những “linh hồn” con người sau khi đã chết hay không ?
Tuy các tổ chức, các Hội nghiên cứu Tâm linh của các nước đã nỗ lực hết sức, nhưng vẫn không thu được kết quả xác đáng chứng minh sự tồn tại của các “thực thể siêu hình”. Đến nay vấn đề Tâm linh vẫn được bao phủ bởi bức màn bí ẩn và nhận thức của con người vẫn còn mung lung, không biết đâu là thật, đâu là giả. Do đó, nhiều người đã có niềm tin quá mức để vô tình trở thành “mê tín dị đoan” thật. Cũng có lắm kẻ lợi dụng sự mơ hồ trong nhận thức Tâm linh của nhiều người trong xã hội để hành nghề kinh doanh kiếm chác. Chẳng thế mà tại nhiều cửa chùa đã có những dịch vụ Tâm linh từ A đến Z, công nghệ khấn vái thuê, viết sớ thuê, bày đồ thờ cúng thuê đã thành chuyên nghiệp mất hết cả nét đẹp văn hoá nơi tôn nghiêm, trong sạch của tinh thần. Hơn nữa tính chất Tâm linh đã trở thành hàng hoá với suy nghĩ thiếu lành mạnh của nhiều người rằng: Càng cúng lễ to, càng đốt nhiều vàng mã, (có cả vàng mã nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh…) thì càng chứng tỏ lòng “thành tâm”, càng được các cõi vô hình “phù hộ, độ trì”… Trước những thực tế ngày càng phồ biến những hiện tượng vừa đáng buồn, vừa đáng thương ấy việc cần thiết lúc này là chúng ta cần có nhận thức đúng đối với vấn đề Tâm linh để có lối sống sao cho “vừa tốt Đời, vừa đẹp Đạo”.
Để có nhận thức đúng về Tâm linh, trước hết nên nghe nhà bác học Albert Einstein, người được cả thế giới tôn vinh là vĩ đại nhất trong tất cả các nhà bác học phát biểu: “Khoa học thiếu Tôn giáo thì khập khiễng, Tôn giáo thiếu Khoa học thì mù loà”.
Hiện tượng Tâm linh xuất phát từ tôn giáo, từ các loại Đạo, nhưng hầu hết chẳng ai hiểu rõ và đúng về các loại Đạo cả. Cũng mang tiếng là đang “tu” theo Đạo đấy, nhưng là “tu mù”, vì chẳng hiểu gì về ý nghĩa của sự tu. Ví dụ như Đạo Phật chẳng hạn, đa số các con chiên đệ tử đều ngưỡng mộ, tin Đức Phật Thích Ca là Đấng siêu nhiên có phép thần thông biến hoá. Họ thường nghĩ cứ thắp hương cầu khấn lên Ngài là sẽ được phù hộ cho tai qua nạn khỏi, rồi phát tài phát lộc, thăng quan tiến chức… Đáng buồn thay! đọc giáo lý nhà Phật mà chẳng hiểu gì cả, tiền của, danh vọng… không phải từ trên Trời rơi xuống mà phải do bản thân tự kiến tạo ra theo đúng luật Nhân quả hết sức khoa học. Có gieo Nhân lành thì mới mong gặt hái được Quả tốt, có lao động trên thực tiễn tốt thì mới có hiệu quả nhiều tiền, thăng tiến…
Hiểu đúng về Đức Phật thì Ngài là nhà Đại bác học chứ không phải là giáo chủ tôn giáo có phép thần thông. Bằng chứng về việc này trong kinh “Diệu pháp liên hoa”, Ngài đã phát hiện ra sự tương đối của không gian, thời gian trước Thuyết tương đối của nhà bác học Einstein tới hơn 2.400 năm. ( Các bạn cứ giở quyển kinh nói trên xem phần Đức Phật nói về thời gian trôi tại các cảnh giới trong vũ trụ thì rõ). Nếu chúng ta tôn vinh Einstein là nhà khoa học vĩ đại thì tại sao không tôn vinh Đức Phật cũng là nhà khoa học vĩ đại mà lại nhận thức Ngài là tôn giáo? “Tôn giáo thiếu khoa học thì mù loà”, đã mù loà thì sao thấy được, nhận thức được Tâm linh? Chính vì thế mà các Hội nghiên cứu Tâm linh trên thế giới nghiên cứu mãi không ra kết quả. Đến nay vẫn mù tịt không chứng minh được sự tồn tại Tâm linh là đúng hay sai ? có tồn tại “thế giới siêu hình” hay không ?
Vấn đề Tâm linh quả là nan giải, nhưng không phải là bế tắc không nhận thức được. Bởi “Khoa học thiếu Tôn giáo..” thì chỉ bị “khập khiễng” chứ không “mù loà”. Nhận thức Tâm linh đúng phải theo con đường khoa học cao cấp hơn, và phải không bị “khập khiễng”. Ác một nỗi hiện nay khoa học hiện đại vẫn còn đang bị lủng củng, khập khiễng, còn chưa hoàn chỉnh. Có những hiện tượng trong vũ trụ, ví dụ như Hố đen, cấp độ nghiên cứu còn thấp hơn Tâm linh mà vẫn chưa nhận thức ra bản chất của nó. (Hố đen vũ trụ vẫn bị bao phủ bởi bức màn bí ẩn sau khi năm 2004 ông Stephen Hawking, người được đánh giá là vĩ đại chỉ đứng sau Einstein tuyên bố đã sai lầm sau 29 năm nghiên cứu Hố đen). Ngay cả Thuyết tương đối vang lừng thế giới của chính Einstein cũng còn bị nghi vấn có vấn đề cần phải xem lại, bổ xung cho hoàn chỉnh hơn.
Cái cần phải xem lại của Thuyết tương đối lại chính là mấu chốt, cơ sở cho việc nghiên cứu chứng minh cho Tâm linh, đó là tiên đề thứ hai về vận tốc ánh sáng. Có điều này là vì nghiên cứu Tâm linh ai cũng hiểu và nhận thức thấy tốc độ lan truyền của sóng thông tin Tâm linh là không có giới hạn, sự truyền thông tin gần như ngay lập tức, dường như không phụ thuộc vào khoảng cách với thời gian. Trong khi đó vận tốc truyền của sóng ánh sáng lại được coi là vận tốc giới hạn của mọi vận tốc đã được Khoa học hiện đại lấy làm tiêu chuẩn, “cơ sở khoa học” cho mọi phương trình tính toán. Nếu ai dám phát biểu c ≠ constant, và c (vận tốc ánh sáng) không phải là giới hạn của mọi vận tốc, thì người đó là “phản khoa học”. Khoa học bị “khập khiễng” ở chính chỗ đó. Giải quyết chữa được cái bảo thủ, “khập khiễng” của Khoa học này công cuộc nghiên cứu chứng minh Tâm linh mới chỉ có thể bắt đầu và phát triển.
Khi khoa học đã giải quyết được bài toán về vận tốc ánh sáng không phải là vận tốc giới hạn của mọi vận tốc, thấy được cái “cong” của ánh sáng trong không gian “cong” khác với cái “thẳng” của ánh sáng trong không gian thông thường thì việc nghiên cứu Tâm linh, ứng dụng vào thực tiễn sẽ phát triển rất nhanh. Có thể chỉ vài chục năm sau, đến cuối thế kỷ 21, đầu thế kỷ 22 , Khoa học công nghệ thế giới sẽ chế tạo ra máy xem được hình dáng, nói chuyện trực tiếp với “thế giới siêu hình”, nôm na dễ hiểu là xem và nghe được các cảnh giới của “Ma quỷ”, “Thần thánh” vô hình trong vũ trụ. Lúc đó Khoa học thế giới mới chính thức công bố sự tồn tại Tâm linh, các “thực thể siêu hình” là có thật chứ không phải là chuyện tưởng tượng, “mê tín dị đoan”.
Câu chuyện nhân loại có thể chế tạo ra máy móc giao lưu trực tuyến với “thế giới siêu hình”, với “Ma quỷ”, “Thần thánh” trong tương lai có vẻ như chuyện hoang đường, viễn tưởng của hôm nay, nhưng sẽ là hiện thực của ngày mai trong tương lai với tầm nhìn của những nhà khoa học chân chính.
Bởi lẽ thứ nhất, chúng ta tin vào Đức Phật đã chỉ dẫn có tính khoa học rằng các chủng tử siêu vi hạt “sát na” có vận tốc cực nhanh khác với vận tốc ánh sáng, nhưng lại cùng ở dạng sóng lan truyền trong không gian. Chúng ta xem được vô tuyến truyền hình vì vô tuyến truyền hình là cái máy thu nhận được thông tin qua sóng điện từ với các tần số bước sóng thích hợp. Vậy thì tại sao khoa học công nghệ trong tương lai, với những thành tựu đã đạt được lại không thể chế tạo ra hệ thống máy móc thu nhận được các bước sóng thông tin siêu vi hạt “sát na” ? Tin vào Đức Phật, nhà bác học lỗi lạc đã phát hiện ra sóng siêu vi hạt “sát na”, nghĩa là khoa học đã không thiếu “tôn giáo”, nên không còn “khập khiễng” nữa. Đó là nguyên nhân có thể tin được là có người thấy được những điều không ai thấy, làm được những điều mà hiện tại tưởng là hoang tưởng.
Bởi lẽ thứ hai, cứ giả sử ví dụ như sau: Nếu có ai đó có tài tiên đoán sống ở đầu thế kỷ 20 phát biểu rằng đến cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, khoa học công nghệ phát triển, con người có thể chế tạo ra cái máy kỳ diệu bất chấp cả khoảng cách xa xăm, núi non biển cả ngăn cách, có một sự kiện thể thao diễn ra ở nước Pháp, thì đồng thời tại Mỹ, hoặc ở Việt Nam thông qua cái máy kỳ diệu đó bạn cũng có thể xem được hình ảnh, âm thanh của sự kiện thể thao đó rõ ràng như thể bạn đang ở Pháp. (Hệ thống vô tuyến truyền hình phát trực tiếp sự kiện thể thao). Dám cá rằng dù có trí tưởng tượng cao đến mấy thì hầu hết thiên hạ sống ở đầu thế kỷ 20 nghe thấy bạn nói thế cũng cho là “hoang tưởng”, nói không có “cơ sở khoa học” và không ai tin cái điều “nhảm nhí” như vậy.
Cái tưởng là “hoang tưởng”, không có “cơ sở khoa học” ở đầu thế kỷ 20, nhưng lại là sự thật, là khoa học ứng dụng hiện đại ở cuối thế kỷ 20 như ví dụ trên. Do đó nếu là người có văn hoá thì chúng ta không nên chê cười những cái gì mình chưa biết, chưa hiểu, chưa hình dung ra. Hiện tượng Tâm linh cũng vậy, hiện tại chưa biết, chưa hiểu, khoa học chưa chứng minh được thì không thể cứ mù quáng cho là “mê tín dị đoan”, nhưng cũng không thể cứ tin như thật, tin quá mức để trở thành “mê tín dị đoan”.
Tóm lại, hiện tượng Tâm linh là có thật, đã được thể hiện bằng việc các nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sỹ đúng trong nhiều trường hợp trên thực tế dù xác xuất tìm trong tổng số các trường hợp không phải là tuyệt đối 100%. Nhưng để khẳng định, chứng minh theo con đường khoa học thì nay mới chỉ là bắt đầu.
Trước hiện tượng các nhà ngoại cảm tìm được mộ các liệt sỹ, các nhà khoa học đã băn khoăn không hiểu vì sao họ lại có thể “nhìn” xuyên được dưới lòng đất? Khoa học đã đặt vấn đề phải chăng bộ não con người là một “bộ máy” cực kỳ tinh vi do tạo hoá sinh ra nhưng chưa được sử dụng hết mà chỉ có một số người như các nhà ngoại cảm do may mắn sử dụng được nên mới có thể “nhìn” thấy? Sự việc được sáng tỏ khi các nhà khoa học thế giới khám phá ra rằng bộ não con người có khoảng 2 ÷ 2,5 tỷ tế bào nơ ron thần kinh nhưng hiện tại mới chỉ sử dụng được khoảng 10%. Số lượng còn lại là “lãng phí”, chưa được sử dụng. Nếu sử dụng được thêm khoảng 1-2% nữa thì có thể con người sẽ thông minh hơn, hay cũng có thể “nhìn” xuyên được lòng đất như các nhà ngoại cảm? Đó là hướng tốt của tư duy khoa học, nhưng không phải là mới, bởi Đức phật đã nói điều này cách đây hơn 2500 năm trước rồi. Không phải vô cớ mà Đức Phật đã nói trong Kinh rằng: con người ai cũng có tâm Phật và sẽ trở thành Phật trong tương lai, nhưng vì hiện tại vẫn còn vô minh nên không biết bản thân mình là Phật tương lai, (trong Kinh Pháp Hoa). Khi đã được giác ngộ, hết vô minh trở thành Phật thì các bạn biết rồi đấy sẽ là người có trí tuệ siêu phàm, có thể nhìn thấu “tam đại thiên thế giới” , soi được các “cảnh giới vô hình” trong vũ trụ…Mục tiêu chủ yếu của Đạo Phật là tu đến đỉnh cao của Trí tuệ, hiểu sâu sắc hơn, phù hợp với khoa học hơn thì Đức Phật đã biết trong mỗi con người đã ẩn tàng một “khối lượng tri thức khổng lồ” nhưng chẳng ai biết chính bản thân họ có cái kho tàng tri thức khổng lồ ấy. Chỉ khi nào thành Phật thì họ mới biết là có cái “kho tàng tri thức khổng lồ” đó. Phật tử tu ít thì chứng quả nhỏ, tu nhiều thì chứng quả lớn. Nghĩa là cái “kho tàng tri thức” ấy sẽ được mở nhiều hay ít tuỳ vào sự tu nhiều hay ít của chính con người. Nói như các nhà khoa học thì cái “kho tàng tri thức” đang ẩn tàng đó mới được sử dụng rất ít, tương đương như việc con người mới chỉ sử dụng có 10% số tế bào nơ ron thần kinh thôi. Nếu sử dụng được nhiều hơn thì có thể sẽ trở thành các nhà bác học vĩ đại ví như Newton hay Einstein…
Như vậy vấn đề Tâm linh đã dần dần sáng tỏ, có tính lôgíc, khoa học. Cái số tế bào thần kinh trong não con người chưa sử dụng đến, chính là cái kho tàng tri thức khổng lồ mà không mấy ai biết mình đang có cái kho báu quý giá đó. Và đó cũng chính là điều ẩn chứa những bí ẩn trong mỗi con người, nói lên rằng chất Tâm linh đang tồn tại ở ngay trong chính con người mà bản thân con người đã không biết, không hiểu. Câu nói rất thông dụng từ xưa đến nay vẫn gọi là tôn giáo: cấu tạo con người gồm hai phần thể xác và linh hồn…là đúng nếu có trí tuệ Phật soi xét. Nhưng là không đúng khi trí tuệ con người chưa đạt đến trí tuệ Phật. Như phần đầu đã nói, chúng ta không nên phán xét những điều chúng ta chưa biết, chưa hiểu vì trình độ trí tuệ của đa số là chưa cao, chưa thể bằng Einstein, Newton… lại càng chưa thể sánh với trí tuệ Phật, điều tốt nhất là nên tin vào những người vĩ đại như Đức Phật đã nói.
Cái Tinh thần (linh hồn) của mỗi con người thực chất đúng là cái Tâm linh rất “thiêng liêng”, vĩ đại đang ẩn chứa kho tàng tri thức lớn lao, khổng lồ nhưng chẳng mấy ai biết, ai hiểu bản thân mình đang có cái kho tàng đó. Tương đương như việc số nơ ron thần kinh trong bộ não của con người còn 90% chưa được sử dụng.Vậy thì làm thế nào để mở được “kho tàng tri thức” đang ẩn chứa trong người ra để sử dụng? Hay tu như thế nào để trở thành có công quả thành Bồ tát, thành Phật ?
Theo như Đức Phật là người đã giác ngộ, có Tâm linh cao thì chìa khoá để mở cái kho tàng ấy đó là tình thương yêu, lòng nhân ái . Có chìa khoá đó thì việc mở, hay nói đúng hơn là kết hợp với động tác mở (các biện pháp cơ bản của Thiền như Yôga, khí công, Tâm năng dưỡng sinh, nhân điện…) sẽ rất dễ dàng mở được kho báu, và khi kho báu đã mở được rồi thì việc nhìn thấy “cảnh giới của Ma” là chuyện bình thường, lúc đó con người sẽ có trí tuệ rất cao, là những nhà bác học vĩ đại, những nhà tỷ phú có đầu óc kinh doanh lỗi lạc, những nhà lãnh đạo xuất chúng…
Chìa khoá để mở “kho tàng tri thức” đang ẩn tàng trong “linh hồn” con ngưòi đúng là tình thương yêu, nhân ái với sự trợ giúp của các công đoạn thể dục dưỡng sinh của Thiền. Không nói thì các bạn cũng đã biết, từ xưa đến nay bất kể các Đạo tôn giáo lớn nào trên thế giới đều hướng con người theo hướng thiện, có lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại và cao hơn là với tất cả các chúng sinh đang tồn tại trong thế giới tự nhiên này. Chẳng có Đạo nào dạy điều ác cả, ví đó không phải là chìa khoá dể mở kho báu. Ngoài việc phải có tình thương yêu đó ra, hàng ngày phải tĩnh lặng cầu kinh “sám hối”. Sự tĩnh lặng cầu kinh hàng ngày đó chính là phương pháp Thiền cơ bản, đơn giản nhất nhằm tập trung tư tưởng rũ bỏ mọi ý nghĩ vẩn vơ khiến cho bộ não được trong sạch, giảm treest… Nguyên lý cơ bản của Thiền là làm sao trí não được thư dãn tĩnh lặng tránh được những ý nghĩ hoạt động thường ngày chen lấn làm cho phần ‘tiềm năng phi thường” bị chèn không hoạt động. Phần này động thì phần kia phải tĩnh, muốn cho phần đang tĩnh hoạt động thì phần đang hoạt động phải tĩnh. Sự cân bằng là điều lý tưởng nhất cho sức khoẻ Tinh thần, mà biện pháp Thiền chính là biện pháp giúp cho sự cân bằng đó.
Ứng dụng của các phương pháp Thiền, tập luyện yoga, Tâm năng dưỡng sinh, nhân điện… có hiệu quả để mở ‘kho tàng tri thức…” khai thác tiềm năng to lớn đang tiềm ẩn trong mỗi con người thì trước hết con người phải có Nhân, có Đức có tình thương yêu con người, nghĩa là đầu tiên phải có chìa khoá. Không có chìa khoá tình thương yêu của con người, điều kiện cơ bản nhất thì có Thiền đến hết kiếp cũng chẳng có hiệu quả. Nhưng đã có chìa khoá chất lượng cao (lòng nhân ái lớn) và với sự trợ giúp của việc Thiền, thể dục dưỡng sinh… thì hiệu quả có thể nói là rất lớn, thậm chí là phi thường. Ví dụ như có nhà Yoga đã làm thí nghiệm trước sự chứng kiến của khoa học, ông ta đã “ngủ” ở dưới hầm sâu dưới lòng đất, không ăn, không uống, và hầu như “không thở” trong suốt 42 ngày đêm.
Tổng kết thật ngắn gọn dễ hiểu là có thế giới Tâm linh thật và chính cá nhân mỗi con người có thể nói là cũng đang có tồn tại Tâm linh, thường gọi là “linh hồn” trên thân xác đang sống. Vì gọi “linh hồn” thì rất trừu tượng, siêu hình nên nói chệch đi là “tâm hồn”, hay “Tinh thần”, “ý thức”. “Linh hồn” con người đang sống đang ẩn tàng những tiềm năng vô cùng to lớn, nôm na là “kho tàng tri thức khổng lồ”, nếu biết khai thác những tiềm năng vô cùng to lớn đó thì con người sẽ trở thành vĩ nhân, có trí tuệ siêu phàm…Điều đặc biệt quan trọng là chìa khoá để mở những tiềm năng to lớn đang ẩn tàng trong “linh hồn”con người đó là Tình thương yêu, lòng nhân ái của con người, và sự trợ giúp hữu hiệu nhất cho chìa khoá đó là sự thư giãn tinh thần, nói theo cách nói của nhà Phật thì đó phương tiện Thiền.
Gần đây, nhiều người dự đoán và thường nói thế kỷ 21 là thế kỷ của Tâm linh, hay là kỷ nguyên Tâm linh. Nhưng cũng có nhiều người còn băn khoăn không biết điều dự đoán đó có đúng hay không ? Như đã phân tích về nhận thức Tâm linh trên và theo nhãn quan khoa học thì dự đoán đó là đúng vì rất phù hợp với quá trình tiến hoá của loài người. Theo như kinh sách, Đức Phật đã nói sau này Bồ tát Di Lặc thành Phật sẽ ở trên thế giới của các vị Bồ tát, thế giới đó nhà xây ngọc bảy báu, đường xá lát bằng vàng… (Kinh diệu pháp liên hoa). Đại ý là thế giới đó rất giầu sang không phải lo gì về của cải vật chất, còn tính cách của các vị bồ tát thì ai cũng hiểu đó là những người trí tuệ siêu phàm đầy lòng từ bi bác ái. Thế giới của Đức Phật nói rất trùng với tư tưởng biện chứng khoa học của ông Mác và Ăng ghen tiên đoán rằng nhất định nhân loại sẽ thực hiện được giấc mơ tiến tới thế giới đại đồng. Lúc đó trình độ khoa học công nghệ đã rất cao, con người đã giác ngộ văn hoá tư tưởng cao trở thành những người ưu tú trong xã hội, như các vị “Bồ tát” theo cách nói của Phật. Nên xã hội đó làm việc theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, người với người sống để yêu nhau. Những vĩ nhân đó nói không sai, chỉ có điều con người chúng ta trình độ trí tuệ chỉ có hạn nên chưa hiểu đúng tư tưởng của các vĩ nhân đó nên cứ hay nghi ngờ thật, giả.
Thế kỷ Tâm linh hay còn gọi là kỷ nguyên Tâm linh nghĩa là thế kỷ con người đã nhận thức đúng về Tâm linh, sống theo đúng nghĩa của Tâm linh, có tình thương yêu và giàu lòng nhân ái, luôn luôn trau rồi đạo đức, rèn luyện thư dãn ý thức theo đúng khoa học của Thiền. Khai phá mở được “kho tàng tri thức to lớn”, những tiềm năng đang tiềm ẩn trong con người mà trước đây không hề biết, nên dần dần đã trở thành những người ưu tú, những “Bồ tát” sống, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Nói theo cách khoa học đang nói là con người đã mở rộng phạm vi hữu ích trong số tế bào nơ ron thần kinh còn bị “lãng phí” trong bộ não. Hiện nay mới sử dụng có 10% thì tương lai sẽ sử dụng được 15%, thậm chí 20%. Đa số con người trong xã hội là Thiên tài, có “công năng đặc dị”, trí tuệ siêu phàm và lòng từ bi bác ái thì xã hội đó khác nào thế giới đại đồng của ông Mác- Ăng ghen là làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, người với người sống để yêu nhau? Xã hội đó cũng khác nào thế giới của các vị Bồ tát, nhà xây bằng ngọc ngà bảy món, đường lát bằng vàng theo tư tưởng của Đức Phật mà hiện nay vẫn cho là tôn giáo?
Cuối cùng chúng ta nên hiểu rằng nếu có nhận thức đúng về Tâm linh thì con người sẽ trở nên có văn hoá, có lòng từ bi, bác ác ái hơn, cuộc sống có ý nghĩa vừa có lợi cho bản thân, vừa có ích cho xã hội.
Hà nội, ngày 14/3/2009
Lê Văn Cường
dienbatn giới thiệu .
Xem chi tiết…

VÀI NÉT VỀ ÐỊA MẠCH HÀ TÂY.

5/06/2010 |
VÀI NÉT VỀ ÐỊA MẠCH HÀ TÂY.

Thân gửi các bạn trên Diễn đàn.
Trong bài HUYỀN THUẬT VÀ KHOA HỌC ,người viết có nhắc đến việc Long mạch của dãy núi Chùa thầy -Hà tây bị cắt đứt và hậu quả của nó.Ngày hôm nay nhận được một bài viết của một Cao nhân ẩn danh,nhờ người viết post để các bạn tham khảo thêm về vấn đề này.Xin trân trọng cảm ơn Cao nhân họ PHẠM.Toàn bộ bài viết nguyên văn như sau :

VÀI NÉT VỀ ĐỊA MẠCH HÀ TÂY.


Theo ngược dòng con sông Đáy từ cầu Mai lĩnh đến dãy núi chùa Thầy có vài dãy núi đất có ,đá có,mà địa mạch chạy ngược so với dòng sông,tạo nên một vùng bán sơn địa với nhiều danh lam ,thắng cảnh nổi tiếng,đẹp đến nỗi tốn biết bao bút mực của các danh sĩ từ xưa đến nay..Riêng về Phong thủy cũng có rất nhiều người qua vùng đất này để tham quan ,chiêm nghiệm vì nơi đây nghe đồn là vùng đất Địa linh có nhiều Huyệt quý như Sài sơn (Chùa Thầy ) có Huyệt Đế vương,núi Phượng hoàng cũng có Huyệt Đế vương chắc là xuất phát từ cuốn "CAO BIỀN ĐỊA LÝ TẤU THƯ ".Khi mà các tin đồn này lan truyền trong dân gian thông qua truyền miệng từ đời này qua đời khác khiến cho dân chúng và các nhà chức trách Địa phương ra sức bảo vệ một phần di sản quý báu vừa vô hình,vừa hữu hình và họ hy vọng biết đâu đó sẽ có những ông Vua,ông Quan sinh ra từ đất này.Dãy núi đầu tiên từ chùa Hỏa tinh sang chùa Linh đến giáp dẫy núi đá Trầm.Dẫy núi này rất đặc biệt về đặc điểm Địa chất vì có nhiều loại Khoáng sản,thậm chí có cả than.Dãy tiếp theo là dãy núi đá Trầm và nơi đây ăn thông sang dãy núi đá có chùa Vô vi.Mạch đá núi Trầm tàng Phong tụ Thủy,kết Huyệt,Minh đường rộng rãi có dãy núi đất trước mặt làm án ,sơn thủy hữu tình,cách đó không xa chùa Vô vi nằm trên mộtngọn núi đá đơn độc với những điểm Kiến trúc mang đậm màu sắc Đạo giáo.Nhớ lại khi trước ,lúc tôi còn là học sinh,sinh viên.Bạn bè thường rủ nhau đạp xe đi tham quan chùa Trầm Vô vi,cảm giác của tôi lúc đó như lạc vào thế giới Thần tiên,thì giờ đây lại thấy có phần tiêu điều xác sơ.
Những ngôi Chùa không chuông,không mõ,chỉ thỉnh thoảng mới có một ít khách Du lịch ghé qua,phải chăng Linh khí đã hết,Thần Phật bỏ đi rồi chăng?
Cách núi Trầm không xa,một dãy núi khác chạy từ Quốc lộ số 6 (Đường Hà nội -Hòa bình ),chạy một đọan hơn 10 cây đến tận xã Đồng lư.
Trên đỉnh của ngọn núi Đồng lư có một ngôi chùa ,hiện nay cũng đã bị tàn phá,chỉ còn dấu tích,phải nói rằng trên dãy núi này có khá nhiều chùa chiền nổi tiếng,ví như chùa Trăm gian,tọa lạc trên một thế đất Hữu Long vô Hổ.Đi tiếp ngược lên trên là dãy núi đá có hình con quái long mà đầu là núi Thầy,đuôi là động Hoàng xá.Các đốt của Long mạch này đều có Long hộ vệ ,nói cách khác là có những mạch đất gặp mạch đá thì kết Huyệt và trên các Huyệt này đều có dựng chùa ở trên như chùa Long đẩu ở đốt thứ hai,chùa Hoa pháp ở đốt thứ ba.Đầu của con Long đá bao bọc lấy Huyệt nơi chùa Thầy tọa lạc,lấy đốt thứ hai làm án Long trì trước mặt làm Minh đường,nhưng thế đất đó cũng chỉ là hữu Hổ vô Long.Đốt thứ tư là núi Phượng hoàng có hình dáng giống như một con đại bàng đang xà xuống,theo sách CAO BIỀN ĐỊA LÝ TẤU THƯ thì đây cũng là một thế đất phát Đế vương.Phần đuôi của Long mạch là động Hoàng xá,núi này tương đối đẹp,bốn phía đều tàng phong tụ thủy ,tuy nhiên chỉ có phía mặt chính là hình thể toàn diện nhất,Long Hổ đầy đủ ôm lấy Minh đường là hồ tự nhiên,phía xa trước mặt là sông Đáy chảy qua,lấy làng làm án.Thế đất này trong sách của Cao vương mô tả và kết luận là thế đất phát Công khanh.Quả thực là quái Long này có nhiều Huyệt kết ,nhưng không đẹp và kết to như sách của Cao vương,hơn nữa hiện nay,linh khí của mạch đá đã cạn,thứ nhất do thời gian,thứ hai Long mạch bị cắt đứt ở nhiều nơi,nên các Huyệt khí còn lại rất yếu.Theo kiến thức về Phong thủy bao gồm hai khí Thiên khí và Địa khí ,khi có chủ nhân thì thêm Nhân khí nữa.Thiên khí là khí mà Loan đầu của Huyệt như một cái antena thu .Địa khí là khí lưu chuyển qua địa mạch đến Huyệt.Nhân khí bao gồm một loạt các vấn đề như tri thức,phúc đức dòng họ...vv. Nhìn chung những phần Địa mạch đã mô tả ở trên đã bị tàn phá nhiều,phần gây ra do chủ ý,phần gây ra do vô tình,quả thực đáng tiếc.Tuy nhiên phần Loan đầu của một số Huyệt lớn vẫn còn và nó có chức năng như một antena thu Thiên khí cho cả một vùng,vả lại những thế Huyệt này cũng là những nơi danh lam thắng cảnh đáng kể cho Nhà nước và nhân dân địa phương ,bởi vậy Nhà nước và nhân dân địa phương bảo vệ và giữ gìn.Giống như các vùng bán sơn địa khác ở miền Bắc,nơi thường kết Huyệt lớn,sinh ra nhiều anh hùng ,hào kiệt ,nhưng sự khác biệt ở đây có lẽ về số lượng Huyệt kết và phong cảnh Thiên nhiên đa dạng,phong phú,đẹp say lòng người
Hà nội ngày 2/12/2003
PHẠM HOA ĐƯỜNG.

Tôi xin trích lại những điều mình đã viết về việc này trong topic HUYỀN THUẬT VÀ KHOA HỌC.

"Vừa rồi nhân chuyến ra Bắc,người viết thấy một chuyện hết sức đau lòng.Nếu bạn nào có dịp đi qua Chùa Thầy thuộc Tỉnh Hà tây và chịu khó quan sát sẽ thấy một Long mạch rất lớn và kéo dài,trong đó núi Chùa Thầy là phần đầu Long mạch,kế đó là núi Phượng hoàng là phần cổ của Long mạch,tiếp theo là khu vực Động Hoàng xá, còn một loạt các dẫy núi khác,liên tục kéo dài tới cả chục Km.Nếu để ý một chút các bạn sẽ thấy một điều thật kỳ diệu của Cha ông ta ngày trước :Tại những điểm nổi lên của Long mạch (Núi ),đều có một ngôi Chùa nằm ẩn ḿnh trong những hàng cây xanh tốt.Điều đó có trùng hợp hay vô tình chăng ?Long mạch này đă có được nhắc đến trong CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ.Không hiểu vì lẽ gì mà người ta cấp phép cho xây dựng một nhà máy Xi măng tại khu vực núi Phượng hoàng.Nhà máy này là của TQ đầu tư xây dựng.Tại một khu vực không cho phép khai thác đá núi mà mở một nhà máy sản xuất Xi măng tại đây? Những người làm Nhà máy vì không được phép khai thác đá núi nên đă cho đào đá ngầm ở dưới đất,tại ngay vị trí vỉa đá nối liền giữa Núi Chùa Thầy và Núi Phượng Hoàng.Hố đào này sâu trên 20 m và nay đă trở thành một cái ao rất lớn ngay tại chân núi Phượng Hoàng.Việc này có hậu quả ra sao chắc các bạn cũng có thể đoán biết được.Như vậy hiện nay Long mạch này đă bị người TQ chém cho lìa đầu.Hố đào trên kết thúc khoảng năm ngoái.Thật là đáng buồn cho số phận một Long mạch lớn."
dienbatn xin được nói thêm một chút về núi Đồng lư.Ngày trước,dienbatn có dịp cùng Sư thày Thích Đàm Nền (Trụ trì chùa Đồng Quan -15 phố Tây sơn -Phường Quang Trung -Quận Đống Đa -HÀ NỘI - Hơi xéo gò Đống đa ) là người được tiếp nhận di sản của chùa CAO SƠN TỰ trên núi Đồng lư.Cùng đi có Cao nhân họ Phạm là người viết bài này,cùng lên đỉnh của ngọn núi Đồng lư,tìm lại Long mạch và hướng xây lại CAO SƠN TỰ.
CAO SƠN TỰ là một ngôi chùa có từ vài trăm năm trước,tọa lạc tại đỉnh của núi Đồng lư.Chùa có ba cấp,chùa Thượng,chùa Trung và chùa Hạ,trải dần từ đỉnh núi xuống chân núi Đồng lư.Mặc dù CAO SƠN TỰ được tọa ở một địa thế rất đẹp về mặt Phong thủy như đă phân tích ở phần trên,nhưng trong khoảng vài chục năm gần đây,CAO SƠN TỰ phải trải qua rất nhiều thăng trầm.Trong kháng chiến chống Pháp,CAO SƠN TỰ đă một lần biến thành bình địa và trở thành một cao điểm của Pháp.Tới ḥa bình lập lại,CAO SƠN TỰ lại được xây dựng lại,sau đó trong chiến tranh,CAO SƠN TỰ lại một lần nữa biến thành đống gạch vụn,với chi chít giao thông hào,ụ pháo cao xạ.Hiện nay trên đỉnh núi chỉ còn lại đống gạch vụn với các đường giao thông hào chạy quanh và chỉ còn có hai chiếc tháp cổ đứng chơ vơ cùng Tuế nguyệt.Theo tôi biết,Sư thầy THÍCH ĐÀM NỀN đang cố gắng tìm cách xây dựng lại mái chùa xưa.Hiện nay ,dòng khí của Long mạch dăy núi Đồng lư vẫn còn rất mạnh,chúng tôi có dịp thẩm định điều này khi mấy Thầy trò cùng đi khắp dẫy núi để tìm lại hướng đi của Long mạch.Tại gần vị trí Huyệt kết,chúng tôi đă tìm lại được hướng và di tích của CAO SƠN TỰ thủa ban đầu.Qua thực tế này,chúng tôi thấy sở học của những người làm chùa ngày xưa thật là vi diệu,chỉ tiếc rằng khi bắt tay vào xây dựng CAO SƠN TỰ,người xưa không có sự trấn yểm đúng mức,làm cho chùa hai lần phải trải qua những cuộc bể dâu và giờ này chỉ còn là một phế tích.
Người xưa có câu :Một ngọn núi nhô lên đơn độc gần một ngôi làng nào đó,thấy cảnh vật xung quanh xinh đẹp,trên núi xuất hiện nhiều kỳ hoa dị thảo thì phải biết đó là Long,phải biết phân biệt đầu,đuôi ,Can,Chi,Triền,Giáp,Hộ vệ sơn chạy đến đâu.Đối chiếu xem vì sao nào chủ chiếu cuộc đất này,xem cuộc thế nhỏ ,lớn,tốt xấu ra sao.Sau cùng quan sát tính tình ăn ở của dân địa phương nơi đây,thì ta mới nhận biết được Chân Long hay Giả Long.Kinh Thư có viết :"Tinh tú ở trên trời và Địa thế ở dưới đất luôn hỗ tương với nhau,Phong thủy Bảo địa tự nhiên sẽ thành...Dương đức sẽ hình thành từ hình thể của ta và Âm đức sẽ hình thành từ vị trí ăn ,ở,cư xử Thiện hạnh của ta ".Khi các bạn có dịp tiếp xúc với dân địa phương,tự nhiên các bạn có một sự yên bình,nhẹ nhõm.Lần ra Bắc vừa rồi,dienbatn có dịp tiếp xúc với người địa phương và quả thật có học hỏi được rất nhiều điều trong cuộc sống bình yên của họ.Tại nơi chân núi Đồng lư này,một quang cảnh làng quê tuyệt đẹp,đến say lòng người ;Một vùng quê còn bảo tồn rất nhiều phong tục Văn hóa cổ mà ngày nay thật là khó kiếm trên đất Việt.Cây đa,bến nước,sân đình,cái cổng làng cũ kỹ rêu phong,cái cầu ao bằng gạch,cái cối đá thủng dùng để đập lúa nằm tại sân đình....Tất cả những cái đó còn nguyên vẹn trong con mắt của những người xa sứ,và trở thành những kỷ niệm ,hình ảnh nhớ đến quay quắt trong những ngày đêm tha phương cầu thực ,khó ngủ.
Hiện nay,vì nhiều lý do,Long mạch này ngày càng bị tàn phá,làm cho Sinh khí của cả một vùng đất cứ ngày càng giảm dần.Thậm chí hiện nay,người ta còn ngang nhiên chiếm đất của CAO SƠN TỰ để trồng khoai,sắn,mãng cầu...
Giá trị trồng trọt của cả ngọn núi này thực không đáng kể,trong khi đó một vùng Địa linh thì cứ bị tàn phá từng ngày.Người viết bài này khẩn cầu các nhà chức trách địa phương hãy trả lại đất cho CAO SƠN TỰ và tạo mọi điều kiện để sư thầy THÍCH ĐÀM NỀN có thể khôi phục lại chùa này.Khi CAO SƠN TỰ được xây dựng lại,về Phong thủy thì bảo tồn được Khí mạch của núi sông,về kinh tế,du lịch thì địa phương có thêm một điểm tham quan,du lịch vô cùng hấp dẫn.
Trong bài viết này,dienbatn cũng rất mong các bạn trên diễn đàn,bằng khả năng của mình giúp đỡ,hỗ trợ sư thầy THÍCH ĐÀM NỀN khôi phục lại CAO SƠN TỰ -Một thắng cảnh đẹp đến say lòng người.Các bạn có thể liên hệ với sư thầy theo địa chỉ :Sư thầy THÍCH ĐÀM NỀN -15 phố Tây Sơn -Phường Quang trung -Quận Đống Đa -Hà nội .Tel :04.8572888.
dienbatn xin cảm ơn các bạn đã quan tâm.
dienbatn.
Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *