NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM . BÀI 3.

3/25/2011 |
NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
HOÀN CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN.
1/ĐÁNH GIÁ THỨ BA. 
" Bửu- Sơn Kỳ- Hương được xem như hậu thân của phái Trúc Lâm Yên Tử. Thật thế, Đức Phật Thầy Tây An quả xứng đáng là vị thừa kế của Thiền phái đời Lý, đời Trần, vì Ngài đã tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc.
Sở dĩ các tổ Trúc Lâm gây được thịnh huống cho đạo Phật đời Trần là nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: tinh thần dân tộc, đối cơ và hoàn cảnh.
Về phương diện dân tộc tinh, Trúc Lâm Yên Tử là một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam từ cách đặt tên đến nghi thức hành đạo.
Về phương diện đối co, pháp môn Thiền Tịnh song tu rất thích hợp với trình độ của con người ở thời kỳ Tượng pháp, gồm có hạng hạ căn cần tu cầu tha lực và hạng thượng căn đủ sức tu tự lực.
Về phương diện hoàn cảnh, chủ trương nhập thế và xuất thế rất phù hợp với tinh thần của một xã hội đang đòi hỏi sự nỗ lực của tăng lẫn tục trong công cuộc để tỉnh tinh thần hy sinh để bảo vệ lãnh thổ và giữ vững tín ngưỡng quốc gia chống lại mọi cuộc xâm lăng bờ cõi ở phía Bắc và mọi sự uy hiếp dị giáo ở phía Nam.
Cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử. Đức Phật Thầy Tây An đã nắm vững ba yếu tố ấy khi đứng ra phát động phong trào chấn hưng Phật-giáo....


...Không ai bỏ con đường Tu Nhân mà thành được Phật-đạo, Đức Phật Thích Ca trước khi đắc đạo, hằng bao nhiêu số kiếp hành nhân đạo. Nhờ những công hạnh thi thiết trong giai đoạn nhập thế đắp bồi, tích lũy sâu dày mà Đức Phật chóng đạt thành quả vĩ trong giai đoạn xuất thế.
Xem đó đủ thấy,
muốn xuất thế trước phải hoàn thành giai đoạn nhập thế, muốn tu Phật đạo, trước phải tu Nhân đạo
, cũng như muốn cất nhà trước phải xây nền đắp móng cho vững chắc. Ví bằng chẳng hành xong đạo làm người mà muốn đạt thành quả vị Thánh Tiên thì cũng chẳng khác người cất nhà mà không chịu đắp móng xây nền.
Công cuộc chấn hưng Phật giáo cũng thế. Từ trước đến nay, nhà Thiền sở dĩ được sum nghiêm, tăng ni được yên ổn tu trì là nhờ thiện nam tín nữ sùng mộ đạo đức, ủng hộ cúng dường. Sự phồn thịnh phấn phát Phật giáo, xem đó, đều do lòng ngưỡng đạo của đàn na, tức hạng tại gia cư sĩ . Sau mấy trăm năm loạn lạc, nhân dân khốn khổ, tàn thất gia đình, đời sống đã không yên, còn đâu tinh thần hộ trì Phật-pháp. Gia dĩ, những sự đàn áp, những tà thuyết mê tín dị đoan thừa cơ hội khởi lên. Những người dối thế trốn đời lần lần; đột nhập vào cửa thiền, đó là những duyên cớ khiến cho tín đồ một ngày một mất đức tin, xa dần cửa đạo.
Nay muốn chấn hưng đạo Phát, thiết tưởng, việc xây dựng tín đồ để làm nền tảng là điều cần phải thi thiết trước hết. Một đoàn thể mà không có đoàn viện còn có thể thành là một đoàn thể chăng, hà huống là đạo Phật lại không có tín đồ nhà Phật thì làm sao phát triển cho được. Nhưng cho được trở thành một tín đồ nhà Phật, tức hạng người làm theo lời Phật dạy với hy vọng sau này thành Phật thì ít nhất cũng phải là người hiếu từ với cha mẹ, nhân ái với mọi người, nghĩa là phải làm tròn nhân đạo...
...Diệu dung của Phật pháp là luôn luôn khế lý và khế cơ, Khế lý thộc về thể, còn khế cơ thộc về dụng. Thế nên muốn hoằng dương giáo pháp phải biết ứng dụng cho khế hợp với căn cơ chúng sinh thì sự phổ hóa mới có hiệu quả.
Đức Phật Thầy Tây An, khi dựng lên phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương để khôi phục thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần, mặc dù chỗ lập giáo không khác phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng cho được phù hợp với căn tính của chúng sinh. Ngài không thể lặp lại y nguyên pháp môn Thiền Tịnh song tu mà không có sự châm chước.
Là bậc thấu rõ cơ huyền, Đức Phật Thầy Tây An trước hơn ai hết, báo tin cho chúng sinh biết rằng đời Hạ nguơn sắp dứt, Long Hoa hội sắp khai để chọn lọc kẻ hiền lương lập lên đời Thượng nguơn an lạc. Chẳng những Ngài nhận rõ máy tuần huờn, mà Ngài còn thấu rõ căn tính của chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp, hầu hết đều phước ít tội nhiều, khó lĩnh hội những giáo pháp cao siêu như chúng sinh ở đời Trần đời Lý
Thế nên, giáo pháp mà Ngài đưa ra hoằng hóa, cho được thích hợp với thời kỳ và căn khí của chúng sinh, hẳn phải khác hơn phái Trúc Lâm Yên Tử.
Thời kỳ đã gấp rút, dân chúng vốn thiểu căn, một pháp môn đối cơ không thể có tính chất trường kỳ và cao viễn; vì rằng trường kỳ thì không kịp trang nghiêm hạnh lành, còn nếu cao viễn thì chúng sinh đã không thể lĩnh hội mà còn sinh lòng chán ngán.
Phải gấp rút và dễ hành, đó là hai điều kiện tối yếu, cũng là hai đặc tính mà những pháp môn đưa ra giáo hóa trong thời kỳ này cần phải có. Nếu thiếu đi dù có được nhiều trợ duyên cũng không sao gây được thịnh huống trong đạo Phật, vì lẽ không được chúng sinh sùng mộ và qui ngưỡng theo.
Đã hiểu rõ hai đặc tính cốt yếu ấy, nên chi Đức Phật Thầy Tây An không lặp lại chủ trương của phái Trúc Lâm Yên Tử mà xướng xuất phép tu gồm cả ba của Mật, Tịnh và Thiền.
Sau mấy trăm năm loạn lạc, dân chúng cơ hồ mất hết tin tưởng, đâm ra ngờ vực đối với Phật-pháp. Gia dĩ, sự suy lạc của nhà Thiền do các tập tục mê tín dị đoan thịnh khởi, càng làm cho lòng ngờ vực thêm tăng trưởng. Trong lúc đó lại được luồng gió văn minh vật chất thổi vào càng dễ lôi cuốn người đời ngã theo dục lạc và ưa thích những cái hữu hình hữu ảnh là những vật mang lại khoái cảm về thị dục và thính dục.
Trong lúc tinh thần dân chúng chỉ thích cái gì đem lại kết quả nhãn tiền có thể thấy được, thực tiễn đem lại lợi ích cho bản thân, mà đưa giáo pháp cao siêu ra giảng hóa thì chẳng những người đời không sùng mộ mà còn buông lời nhạo báng cười chê là khác.
Vả lại, tâm lý chung của người đời bao giờ cũng ham sống sợ chết, luôn luôn quí trọng thân mạng, vậy nên, cái giáo pháp nhiếp hóa hữu hiệu nhất là những ai biết đem lợi lạc cho kẻ khốn cùng, đem sự mạnh lành cho người đau ốm.
Chính nhận rõ tâm lý ấy, cho nên Đức Phật Thầy Tây An, muốn gây lấy đức tin ở hạng người thiểu căn thiểu đức ở buổi Hạ nguơn, không sao chẳng thi thiết giáo pháp ;huyền diệu của Mật tông.
Mật tông cũng gọi Chân ngôn tông là một tông phái lấy pháp tu trì bí mật làm yếu chỉ. Giáo pháp không xướng xuất bằng cách giảng dạy mà bằng những mật ngữ, phù chú và ấn quyết để lạm phép huyền bí. Nó có năng lực đem lại sự an lành và xua trừ các tai hoạn.
Tông này rất thịnh ở Trung Hoa nhưng về sau thất truyền vì khó thi hành; nay chỉ còn thịnh ở Tây Tạng và Nhật Bản. Ở Việt Nam, vào đời Lý có những tăng như Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh tu theo Mật giáo, có nhiều phép nhiệm, danh tiếng còn truyền đến nay.
Vì là một giáo pháp chỉ truyền nhau bằng mật ngữ và khó tu chứng, cho nên ít người chịu tu. Người muốn tu phải lắm công phu tập luyện trì chú và kết ấn, ngoài ra còn phải được minh sư chỉ dạy mới không ai lạc, có hại cho huệ mạng.
Đức Phật Thầy là một bực chứng chân đắc pháp, nên khi ra đời không ngại dùng những thuật huyền bí của Mật giáo cứu độ chúng sinh. Gặp lúc dân chúng mặc nạn ôn dịch. Ngài đã dùng phép huyền diệu chữa trị thần linh. Chỉ với một chung nước lã. Ngài niệm chú rồi cho uống, thế mà trăm bịnh trăm lành. Ngoài ra, Ngài còn dùng phép huyền điệu chữa các bịnh tà như điên cuồng, trùng tang,. mắc đàng dưới. Ngài còn biến hiện nhiều diệu thuật khi bị nhà cầm quyền lúc bấy giờ thử thách.
Nhờ những phép diệu cứu độ chúng sinh, cho thấy rõ hiển chứng mà người đời nhất là những người mắc bịnh được chữa lành, đều đem lòng tin tưởng, qui ngưỡng theo rất đông.
Chẳng những thi thiết phép diệu mà Ngài còn truyền cho môn nhân đệ tử để đi cứu đời độ thế. Những cao đệ như Đạo Xuyến, Đạo Sang, Đình Tây, Đạo Lập… đều được Ngài truyền mật pháp mà đắc thần thông. Trong lúc Ngài còn trụ thế cũng như sau lúc Ngài tịch diệt, các môn đệ phân nhau đi hóa độ khắp các tỉnh miền Nam và Cao miên. Về các tỉnh miền Tây thì có Đạo Sang, Đạo Lập, Đạo Ngoạn, Đạo Ới, Đạo Thắng… mở cơ phổ độ, còn về các tỉnh miền Đông thì có Đạo Xuyến đi Đức Phật Thầy Tây An hóa. Riêng về các tỉnh dài theo ranh giới Cao miên thì có Bà Năm, Chòm Dầu và cậu hai Lãnh tục gọi cậu hai Gò sặc lãnh phân giáo độ.
Thành thử, chẳng bao lâu, khắp các tỉnh miền Nam, nơi nào cũng có đạo Bửu- Sơn Kỳ- Hương truyền bá đến. Có thể nói, chỉ nhơ thi thiết các pháp huyền diệu của Mật giáo để cứu thế độ dân mà phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương đem người đời từ chỗ thiếu tin tưởng đến chỗ tin tưởng.
Khi còn trụ thế, chính Đức Phật Thầy truyền dạy cho đệ tử các mật chú và phép thần thông nhưng sau đó thì các đệ tử không còn truyền dạy cho ai ngoài những người trong thân tộc một vài cách chữa trị. cốt để giữ cho còn tinh thần và ngọn lửa thiêng của Mật giáo không tắt. Dù vậy, thỉnh thoảng lâu lâu cũng có vài phần tỏ ngộ ra đời dùng các phép mầu nhiệm cứu thế độ dân không khác Đức Phật Thầy hay các vị hiền thủ. Đại để như trường hợp của Đức Bổn Sư ở núi Tượng và gần đây Đức Huỳnh Giáo chủ cùng một số môn nhân đệ tử của phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương, Thành ra, tuy không có lối "Tổ tổ tương truyền", nhưng nhờ có các vị tỏ ngộ ra đời mà giáo pháp Mật tông vẫn luôn luôn được xiển phát trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Gần đây, xuất hiện nhiều vị chữa trị bịnh nhân bằng những phương pháp kỳ diệu, như dùng nước lạnh cho uống, hoặc hốt thuốc bằng lá xoài là da, hoặc dùng cây móc tai chích vào chỗ đau, hoặc dùng điện lực thoa vuốt… đều là những người được mật truyền phép nhiệm.
Sự truyền dạy không do một vị tỏ ngộ này truyền lại cho một vị khác như Đức Phật Thầy cùng các bậc hiền thủ trước kia thi thiết, mà lại truyền bằng cách mật nhiệm do cơ duyên. Cách truyền mật nhiệm ấy đã được Đức Huỳnh Giáo chủ bộc lộ trong câu:
Giấc mộng vàng đặng truyền đại đạo.
Cảnh vô sanh lòng bạo mà mê.
Thì ra, sự truyền thừa giáo pháp Mật tông vẫn còn tiếp tục trong Bửu- Sơn Kỳ- Hương nhưng không bằng lối hiển cụ mà bằng lối vô binh, chỉ riêng có người được truyền tự biết. Phải chẳng vì tránh sự ganh tỵ giữa các môn nhân mà các bậc chân sư truyền bí pháp trong mộng cho những người mà mấy Ngài nhận thấy phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương lâu lâu lại có một vài vị chứng ngộ ra đời đem những điều của mình được mật truyền ra cứu dân độ thế.
Nhưng dù sao, những phép màu nhiệm cũng chỉ có giá trị để thức tỉnh người đời nhất là hạng thiểu căn, hơn là giáo hóa. Đức Huỳnh Giáo chủ có chỗ nhận rằng: "Ta tùy trình độ cơ cảm của tín nữ thiện nam trên thì nói Phật pháp cho kẻ có lòng mộ Đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền hiệu của Tiên gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị…" Như thế, phép nhiệm có được thi thiết, cũng là việc bất đắc dĩ, chỉ dùng trong giai đoạn mà lòng người chưa có tin tưởng, còn nghi ngờ đối với Phật pháp hay quá thiên trọng về hình thức về những cái gì linh nghiệm.
Cái lực dụng của phép nhiệm, dẫu rằng có hiệu quả và hữu ích trong sự gây lấy đức tin để hướng dẫn vào con đường giải thoát, nhưng nó cũng dễ trở thành nguy hại khi nó vượt quá cái giới hạn ấy. Vì rằng đời người bởi quá trọng về hình tướng nên chỉ có thể tin những gì cho họ thấy được hiệu quả nhãn tiền, cho nên một khi không có phép nhiệm thì lòng tin của họ dễ phai lợt và dễ hướng theo những điều nhảm nhí, mê tín dị đoan.
Vả lại, về phép nhiệm thì chẳng có đạo tà nào là chẳng hành được, nhưng ít khi chúng thi thiết vào việc thiện mà chỉ lợi dụng vào việc làm mê hoặc lòng người với những mục đích xấu xa đen tối. Những người ham linh nghiệm thường dễ bị chúng cám dỗ.
Vì thế, những bực tỏ ngộ chỉ xem phép nhiệm là một phương tiện và bất đắc dĩ phải dùng đến để độ kẻ thiểu căn; nhưng khi gây được lòng tin tưởng đối với Phật pháp rồi thì không còn dùng đến nữa. Xưa kia Đức Phật cũng chỉ dùng phép nhiệm trong những trường hợp đặc biệt và bằng ngăn cấm môn đệ dùng đến, sợ dân chúng hiểu lầm giáo pháp của Ngài với tà đạo. Đức Phật Thầy Tây An và gần đây Đức Huỳnh Giáo chủ cũng thế. Trong những buổi đầu, mấy Ngài dùng phép nhiệm chữa trị bịnh căn cho người kém tin tưởng sớm thức tỉnh cảm lấy ơn cứu độ mà qui ngưỡng tu hành. Nhưng về sau, khi người đời đem lòng mộ đạo thì mấy Ngài không còn thi thiết nữa.
Đã hiểu như thế, nên chi Mật giáo đối với Đức Phật Thầy chỉ là một phương tiện để gây niềm tin tưởng trong thời kỳ mà con người quả thiên chấp về hình tướng và quay cuồng theo vật dục.Vai trò của Mật giáo là cốt dọn lấy miếng đất "lòng tin" để rồi có gieo hột giống Bồ đề chánh pháp. Thế nên, đồng thời với Mật giáo, Đức Phật Thầy Tây An còn khai thị phép tu Tịnh và tu Thiền.
Những phép huyện diệu của Mật tông chẳng phải ai cũng có thể hành được. Ngay như ở Trung Hoa, Mật tông chỉ thịnh hành có một lúc rồi dần dần suy vi, cũng vì phép tu về mật chú và truyền ấn quyết rất khó, phi hạng người có căn cơ, chi nguyện lớn thì ít có ai đủ kiên nhẫn dể tu tập Mật tông đã khó hành như thế thì vị tất ở Việt Nam lại có nhân duyên gây thành một tông phái.
Đức Phật Thầy Tây An đã thấu rõ cơ huyền thi đâu lẽ, trong lúc nhận thấy chúng sinh phần nhiều thiểu căn thiểu trí, lại xướng xuất một pháp môn khó tu như Mật tông.
Nhưng đứng trước những tâm trạng chỉ có thể tin những gì đem lại kết quả nhãn tiền, thấy được, nhận xét được, nếu không thi thiết những huyền diệu của Mật tông thì khó mà gây được lòng ngưỡng vọng của họ đối với Phật-pháp. Như thế mật tông hay những phép huyện diệu chỉ là một phương tiện để độ nhhững kẻ thiểu căn, chớ không thể xem đó là một pháp môn chính yếu, có thể gây thành qui mô hoàng đại và truyền thừa trong quảng đại chúng sinh.
Mật tông đã là một pháp quyền, tạm thời thì thiết để dìu dắt chúng sinh đến pháp thiệt, nên sau khi dùng huyện diệu chữa trị con bịnh mạnh lành, nghĩa là sau khi gây cho họ có đức tin đối với Phật pháp, Đức Phật Thầy Tây An bèn đưa chúng sinh tiến thêm một bước nữa: Qui y Tam bảo.
Pháp môn Mật tông trong sự gây dựng đức tin cho chúng sinh, có thể nói đến đây đã thành tựu, nhưng chẳng vì thế mà nó chấm dứt. Nó vẫn còn truyền thừa trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương và đó là một đặc trưng không một giáo phái nào có. Để có đủ phương tiện thức tỉnh chúng sinh và giữ mãi ngọn lửa "tin" không tắt. Đức Phật Thầy Tây An đã truyền mật pháp cho một số cao đệ và về sau, khi hệ thống truyền thừa hữu vi không còn thi thiết thì các vị hiển giáo trong giác hệ mặt truyền bằng phương pháp vô vi: trong mộng. Nhờ vậy mà lúc nào Mật tông cũng còn hiển chứng trong Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
Vả chăng sứ mạng của Đức Phật Thầy Tây An và giáo hệ của ngài là hóa độ quảng đại chúng sinh trong thời mạt hạ, cho nên khi đã dùng lưỡi phãng "Mật tông " phát xong đám cỏ dại, dọn miếng đất hoang thành khoảnh có thể cày cấy trồng tỉa được thì Ngài không ngàn ngại đem ương hột giống "Phật pháp". Vì không dùng lưỡi phãng "Mật tông" dọn cỏ "hoài nghi bất tín" mà đem hột giống "Phật pháp" đến gieo, chắc chắn là nó sẽ bị cỏ dại đè bẹp hay làm ung thúi: nếu còn chăng chỉ một số ít.
Như vậy, muốn ương hột giống "Phật pháp" không thể không dùng đến lưỡi phãn "Mật tông" dọn cỏ trước.
Miếng đất đã dọn xong, bây giờ là đến lúc gieo trồng. Nhưng nếu là một nhà nông thiện nghệ thì điều trước tiên phải xem chất đất ấy thích hợp với giống cây nào rồi mới chọn giống đến ương: ví bằng không xem đất và chọn giống thì cũng là một việc làm hoài công phí của.
Về phương diện hoằng dương giáo pháp cũng thế. Một giáp pháp cho được phù hợp với căn tinh của chúng sinh phải là một giáo pháp đối cơ. Vậy trong lúc dân chúng phần đông thiểu căn thiểu trí, mất cả lòng tin tưởng đối với chánh pháp có thể đem giáo lý cao siêu phổ hóa được chăng?
Hẳn là không thể được. Thế nên sau khi dùng huyền điệu chữa trị cho chúng nhân khỏi bịnh để gây nơi họ lòng tin tưởng đối với Phật-pháp. Đức Phật Thầy Tây An, tiến đến một bước nữa là dạy họ Niệm Phật, một phép tu thích hợp với thời kỳ Hạ nguơn ác thế và đễ hành đối với hạng sơ cơ.
Thật thế đối với những tâm hồn cơ hồ mất cả đức tin, phải nhờ huyền diệu mới thức tỉnh được mà khai thị một pháp môn khó tu thì hẳn là không thể khai thị một pháp môn khó tu thì hẳn là không thể nào họ hành nổi; mà dầu có hành đi nữa cũng không bền lâu.
Phương chi, trong nhiều kinh Phật và hầu hết các tổ Tịnh độ tông đều nhận rằng vào thời mạt phạp, chỉ có pháp môn Niệm Phật là thù thắng hơn hết, bởi nó dễ hành đối với tất cả các hạng chúng sinh mà kết quả lại chắc chắn nữa.
Kinh Đại Tập nguyệt tạng có nói : Ức triệu chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp theo đạo tu hành mà chưa có một người được chứng quả là vì đời ngũ trược ác thế tạp học khó thành, chỉ có một môn niệm Phật là dễ thông vào đường đạo mà thôi.
Ngài Thiên Như Hòa thượng cũng nói rằng: Chánh pháp, tượng pháp chi hậu, chư kinh diệt tận, chỉ lưu "A di đà Phật" tứ tự cứu độ mạt pháp chúng sinh. Có nghĩa: Sau khi chánh pháp và tượng pháp qua rồi thì các kinh lần lần hoại hết, chỉ còn lại bốn chữ "A di đà Phật" cứu độ chúng sinh trong đời mạt pháp.
Huống chi với pháp môn niệm Phật chẳng ai là chẳng hành được, người làm quan cũng niệm được, người đi buôn bán cũng niệm được, người đi cày bừa cũng niệm được; bất cứ lúc nào dù đi đứng nằm ngồi, đều niệm Phật được cả. Pháp môn đã dễ thọ trì như thế mà kết quả đâu phải là khó đạt thành.
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có nói rằng: Ức Phật niệm Phật, hiện tiền dương lai, tất định kiến Phật, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai: Nhớ Phật niệm Phật thì lúc hiện tiền hay là lúc đương lai, quyết định thấy Phật, chẳng cần phương tiện mà tự nhiên tâm đặng khai thông.
Pháp môn đã phổ thông và đễ thọ trì như thế, nhưng muốn cho được chắc chắn ở kết quả vãng sinh, Đức Phật Thầy Tây An, ngoài việc dạy niệm Phật, còn khuyến tấn thực hành một vài công hạnh về đạo nhân, không khác lời dạy trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật: Muốn sanh về Tịnh độ phải tu ba phước:
1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng, giữ lòng hiền lành không giết hại sanh mạng và tu mười nghiệp hiện
2. Thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh và đừng phạm uy nghi
3. Phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa.
Cứ xét ba điều phước trên đây, chúng ta nhận thấy đó là cả pháp môn Tu Nhân và Học Phật mà Đức Phật Thầy Tây An đã xướng xuất.
Những điều như hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng giữ lòng hiền mà không giết hại sinh mạng và tu mười nghiệp thiện chính là những điều thuộc về Hiếu nghĩa Tứ Ân, những điều căn bản của Tu Nhân.
Đến như: thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh, đừng phạm các uy nghi, phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa, đều là những điều hoàn toàn thuộc về Học Phật.
Thế là, đồng thời với việc khuyên tu niệm Phật Đức Phật Thầy Tây An đã xây dựng nền tảng của Tu Nhân.
Trong lúc chúng sinh còn bỡ ngỡ trước giáo pháp của Phật, chưa lìa được mọi ràng buộc của gia đình và xã hội thì chỉ có pháp môn Niệm Phật và Tu Nhân là thích hợp với hạnh tu tại gia của họ.
Cho nên để tiếp nhận tất cả mọi hạng người vào nhà Phật, Đức Phật Thầy Tây An đã từ cửa ngõ "Mật tông" dìu dắt mọi người bước lên thềm "Tịnh độ". Vì là nấc thang dễ bước nên chẳng ai, sau khi được "Mật tông" mở cửa "Tín Tâm", mà không vững dạ đi vào.
Lúc mới vào nhà"Tịnh độ", mặc dù hơi mới lạ, nhưng chẳng bao lâu khi thi thiết được vài công hạnh về Tu Nhân thì lại muốn lục hành nhiều công hạnh khó khăn hơn. cũng như học sinh khi học xong chương trình tiểu học thì vững lòng muốn bước lên bực trung học.
Chương trình hóa độ của Đức Phật Thầy cũng thế. Sau khi dùng "Mật tông" gây lấy đức tin cho mọi người, Ngài bèn khai thị pháp môn Tịnh độ tức là pháp môn niệm danh hiệu Đức Phật A di đà cầu lấy tha lực tiếp độ vãng sanh về cõi Cực lạc, một phép tu. dù hạng sơ cơ cũng có thể lãnh thọ, Nhưng ngoài phép tu tha lực phổ thông cho tất cả các hạng người. Đức Phật Thầy còn khai thị phép tu tự lực, dành riêng cho những người có căn cơ và đủ nghị lực hành tri.
Tuy phân biệt có phép tu khó, phép tu dễ, nhưng trong thời kỳ mạt pháp nầy không thể tu Thiền mà chẳng tu Tịnh hay tu Tịnh mà chẳng tu Thiền; vì rằng hai phép tu: tự lực và tha lực, nếu cùng song hành thì hiệu quả chẳng những chắc chắn mà lại mau chóng. Ngài Vĩnh Minh Thiền sư há chẳng nhận:
Có Thiền tông, có Tịnh độ.
Như thêm sừng cho mãnh hổ.
Hiện tại thì làm thầy người,
Vị lai thì làm Phật tổ.
Như thế, Đức Phật Thầy Tây An cũng đồng chủ trương Thiền Tịnh song tu như phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng vì thời kỳ và căn cơ của chúng sinh có khác, cho nên mặc dù cùng chủ trương tu tự lực và tha lực, song phương pháp của Đức Phật Thầy có khác, Phái Trúc Lâm Yên Tử lấy Thiền làm chánh tông, còn Tịnh làm trợ tông cho nên qui hướng cả về con đường xuất thế. Đức Phật Thầy Tây An, bởi ra đời giữa thời Hạ nguơn mạt pháp, chúng sinh đa số đều căn tính cạn cợt, cho nên, cũng đồng chủ trương Thiền tịnh song tu, nhưng đặt Tịnh làm chánh tông, còn Thiền làm trợ tông và quy hướng về con đường nhập thế để chuẩn bị cho bước đường xuất thế về sau.
Do căn linh chúng sinh của hai thời kỳ không đồng mà phương pháp giáo hóa của Đức Phật Thầy Tây An có khác hơn của phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho được phù hợp với trình độ của còn người Hạ nguơn hạ, Đức Phật Thầy xướng xuất Bửu- Sơn Kỳ- Hương với pháp tu gồm cả Mật, Tịnh, Thiền.
Chính nhờ thi thiết Mật tông cứu dân độ bịnh bằng những phương pháp huyền diệu mà Đức Phật Thầy và giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương gây được lòng tin tưởng của chúng sinh. Rồi từ chỗ sơ tín, chúng sinh được tăng trưởng đức tin bằng phép tu Tịnh độ và Hiếu nghĩa Tứ Ân. Nhưng khi hành được những điều tu phước và thập thiện, nghĩa là đi được đoạn đường Tu Giới thì với phép tu Thiền tông, hành giả sẽ tiến lên đoạn đường Tu Định và Tu Huệ.
Nhờ phân ra ba đoạn đường: Mật, Tịnh, Thiền mà Đức Phật Thầy Tây An hóa độ tất cả các hạng người, từ hạng sơ cơ đến hạng thượng căn thượng tri, khôi phục cái thịnh huống trong đạo Phật như phái Trúc lâm.
Sở dị sự giác tỉnh được sâu rộng dường ấy, phải nhìn nhận, một phần lớn là do kỳ công của mật tông dọn đường khởi tín, Đó là chỗ thù thắng nhất của Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Thật là một pháp môn đối cơ trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp. Những người có bổn phận hoằng dương giáo pháp ở thời này mà không hành được hay không thị hiện các pháp truyền diệu của Mật tông thì dù có tạo nhiều trợ duyên, cũng khó mà phát động một phong trào sùng mộ đạo đức trong dân chúng.
Nhưng Mật tông dù sao cũng chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố để làm hưng khởi đạo Phật thi thiết thuần mặt Mật tông, chẳng những không đủ chấn hưng đạo Phật mà lắm khi còn có hại, vì nó dễ đưa người đến mê tín dị đoan.
Thế nên, muốn gây thịnh huống cho Phật-giáo, ngoài yếu tố đối cơ, còn cần phải hoàn bị hai yếu tố nữa: Tinh thần dân tộc và thích ứng hoàn cảnh.
Chính nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: Tinh thần dân tộc. Đối cơ và Thích ứng hoàn cảnh mà Đức Phật Thầy Tây An xây dựng nên giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương và phát mạnh phong trào chấn hưng Phật-giáo.

  ( BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - VƯƠNG KIM - sdd)
( Xin xem tiếp bài 4 ). dienbatn

Xem chi tiết…

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM . BÀI 2

3/24/2011 |

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM
HOÀN CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN XUẤT HIỆN.

Trang thờ Phật Trùm núi Tượng ( ảnh dienbatn )Về hoàn cảnh và nguyên nhân ra đời các Đạo giáo mới của Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến nay có nhiều ý kiến và góc độ đánh giá. dienbatn xin điểm lại một số ý kiến :
1/ĐÁNH GIÁ THỨ NHẤT. 

Giếng nước chữa bệnh của Đức Phật Trùm ( ảnh dienbatn )
" Nguyên nhân ra đời.Có thể có các cách lý giải khác nhau về nguyên nhân ra đời các tôn giáo bản địa Nam Bộ. Nhưng có một thực tế là các tôn giáo chỉ ra đời trong xã hội của người Việt Nam Bộ và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi đó. Rõ ràng xã hội của người Việt Nam Bộ và bối cảnh của xã hội Nam Bộ vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ, việc đề cập đến bối cảnh Việt nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 sẽ góp phần hiểu rõ lý do của sự xuất hiện tôn giáo bản địa.
1. Bối cảnh Việt nam trong cuối thế kỉ 19
1.1   Tính chất phong kiến của triều đình nhà Nguyễn.
Vào đầu thế kỷ 19, được sự giúp đỡ của các thế lực trong và ngoài nước Nguyễn Ánh đã khôi phục được quyền thống trị cho dòng họ Nguyễn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do bản chất của chính quyền này là một dòng họ vua quan đầy tham vọng cho nên khi nắm được chính quyền trong cả nước, thì nhà Nguyễn đã tái lập chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền dòng họ trên phạm vi cả nước. Quyền hành tập trung trong tay vua tới mức bất kỳ một công việc gì dù lớn nhỏ các quan dưới quyền cũng không được tự ý thi hành nếu không có ý kiến của nhà vua.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính cũng thể hiện tính chất nhất quán của triều Nguyễn. Trong lĩnh vực ruộng đất, đường lối chung là sự tái lập và phát triển một cách ưu tiên các loại sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã để là cơ sở cho nền kinh tế nhà nước, đồng thời hết sức chú ý đến sự phát triển sở hữu địa chủ trên cơ sở hạn chế sở hữu nhỏ tự canh của nông dân tập thể. Đường lối này không phù hợp với yêu cầu phát triển lịch sử nên không thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Về hệ tư tưởng, hệ thống chính là Nho giáo. Vì hệ tư tưởng Nho giáo tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam và cùng với việc thờ cúng thần linh, tổ tiên được coi là phương tiện tốt nhất tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và thần dân. Mọi đề xuất cho việc canh tân đất nước đều không được lắng nghe.
Ngay sau khi vượt qua được bão táp khởi nghĩa nông dân để khôi phục lại quyền thống trị của dòng họ Nguyễn, triều đình Nguyễn đã tỏ rõ sự tận hưởng đắc thắng bằng những hành động xa xỉ đáng lên án.  Còn đối với bọn quan lại, sử sách ghi lại đầy rẫy những dẫn chứng không thể bác bỏ về đời sống xa hoa, trụy lạc, tham ô, của chúng. 
Để bù đắp lại những chi phí khổng lồ cho việc xây dựng kinh thành, lăng tẩm và phục vụ đời sống xa hoa của cả một vương triều và bọn quan lại, không có cách nào khác là huy động sức người và sức của trong nhân dân. Người nông dân phải đóng nhiều loại thuế. Ngoài thuế ruộng đất khá nặng nề họ còn phải đóng thuế đinh và nó trở thành một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của nhà nước phong kiến.


Cánh đồng cạnh núi Dài( Giài )- ảnh dienbatn.
1.2 Đời sống khổ cực của những người lao động
 Chính sách kinh tế của nhà Nguyễn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân cùng với các yếu tố khác, góp phần tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân. Người nông dân phải đi lính, đi phu để phục vụ cho đời sống vốn đã rất xa hoa của bọn thống trị. Những người thợ thủ công cũng phải đóng thuế hết sức nặng nề. Họ vừa phải đóng thuế đinh vừa phải nộp thuế sản phẩm.
Đời sống của người nông dân khổ cực còn do thiên tai gây nên. Dịch bệnh xảy ra làm chết người làm hao mòn sức lực, ảnh hưởng đến sản xuất đến các sinh hoạt cộng đồng khác. Đi kèm theo thiên tai, dịch bệnh là nạn đói triền miên cũng gây không ít nỗi thống khổ cho người lao động. Thiên tai, dịch bệnh, nạn đói làm cho đời sống của người nông dân tại các làng quê Việt Nam khổ cực đã xô đẩy hàng hàng nông dân phải rời bỏ quê hương phiêu tán. Giai cấp cơ bản và đông đảo trong xã hội là nông dân.

1.3   Sự phản kháng của nhân dân 
Vấn đề cơ bản của nông dân là ruộng đất - tư liệu sản xuất chính và cũng là nguồn sống chính. Nhưng những nguyện vọng chính đáng của họ không được đáp ứng và do đó có những phản ứng tùy theo cấp độ. Cấp thấp nhất là đòi chia lại ruộng đất. Cấp cao hơn là ly tán, bỏ quê hương ra đi. Cấp cao nhất thể hiện phản ứng gay gắt của nông dân là tham gia các cuộc khởi nghĩa. Tất nhiên các cuộc khởi nghĩa nổ ra do nhiều nguyên nhân khác nhau (như mâu thuẫn quyền lợi giữa các phe phái, sự bần cùng của người dân, sự bất bình đẳng quyền lợi giữa các tộc người...) Nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu chi phối đến hình thức đấu tranh là do ách áp bức bóc lột của bọn quan lại địa chủ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, liên tục với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Không cam chịu chết dần chết mòn vì đói rét bệnh tật, các tầng lớp bị trị đã vùng lên tìm lối thoát cho sự sống còn của bản thân mình, cũng tức là đấu tranh cho sự tồn tại của xã hội, của cả dân.


Vồ hội trên núi Cô Tô ( ảnh dienbatn )
1.4    Cuộc xâm lược của Pháp và những hậu quả của nó
Chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách sát đạo đã tạo cho thực dân phương Tây cái cớ để chúng thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Ngày 31-5-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược. Chúng muốn chiếm Đà Nẵng để làm bàn đạp tấn công Huế. Nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quan quân của nhà Nguyễn trước họa mất nước. Sau đó, chúng chuyển hướng tấn công Gia Định, vốn là chỗ dựa của Nguyễn Ánh trước đây với mục đích là giành một địa bàn quan trọng và thuận lợi cho việc hành binh và lưu thông thương mại đồng thời để gây sức ép với triều đình Huế qua việc cắt đứt con đường vận chuyển lương thực từ miền Nam ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc, để rồi từ đó Pháp sẽ có điều kiện phát triển chiến tranh sang Campuchia, Lào rồi tiến lên vùng biên giới giữa Lào và Trung Quốc. Để thực hiện dã tâm đó vào tháng 2 năm 1859, Pháp chuyển quân từ Đà Nẵng và tiến dần lên Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2 năm 1859 chúng đánh chiếm những đồn nhỏ trên đường tiến vào Sài Gòn. Mặc dù gặp sức kháng cự nhưng cuối cùng chúng cũng chiếm được và tiến đánh Gia Định. Thành Gia Định với mức độ khá quy mô và kiên cố vào thời bấy giờ cũng không thể bảo vệ được trước sức tấn công của thực dân Pháp. Để rồi sau khi chiếm được thành Gia Định thực dân Pháp tiếp tục mở rộng lấn chiếm các tỉnh khác như Định Tường (Mỹ Tho), Biên Hòa. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đã thừa nhận ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và Côn Đảo thuộc Pháp. Trong khi triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ (vì quyền lợi của dòng họ) thực dân Pháp, nhân dân ta ở các tỉnh bị Pháp chiếm vẫn tiếp tục đấu tranh. Đó là những cuộc kháng chiến đầu tiên và còn tiếp diễn mãi. Đến năm 1867, chỉ trong vòng một tuần thực dân Pháp chiếm các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến đây kết thúc giai đoạn đầu trong kế hoạch chung xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Và cũng từ đây bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử nước ta. Mặc dù vua quan nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ nhưng nhân dân ta với lòng yêu nước không cam tâm nhìn cảnh đất nước bị ngoại bang thống trị vẫn đấu tranh kiên cường. Tôn giáo bản địa ra đời trong tình hình này, hầu hết các tôn giáo bản địa đều chủ trương chịu ơn đất nước và ơn đồng bào nên các đệ tử đều tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tóm lại có thể thấy rằng Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Như sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thế giới.

Núi Cô Tô - Ảnh dienbatn.
Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.
Thứ đến, đó là nơi có nhiều tộc người sinh sống. Đây là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện. Chưa nói đến là nơi đây đã từng có một số tộc người sinh sống nhưng do những lý do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác. Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di cư xảy ra liên tục. Quá trình giao lưu văn hóa, và tiếp biến văn hóa  giữa các tộc người tạo nên sự hội tụ của các nền văn hóa. Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau, và tôn giáo bản địa khi xuất hiện cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố này (hỗn dung tôn giáo của Cao Đài là một thí dụ điển hình).

2.2   Không có hệ tư tưởng chủ đạo chi phối
Có một thực tế là những người nông dân Việt vào Nam Bộ khai hoang lập làng (ấp) ”hầu hết là những người nghèo khổ, dốt nát, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện. Xét về cơ bản, nền giáo dục của lớp cư dân vào Nam Bộ khai hoang van nằm trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo. Đó là nền tảng giáo dục của xã hội Việt Nam thời bây giờ. Nhưng những di dân lại là những người nghèo khó, những người vì những lý do khác nhau đã phải rời bỏ quê hương, môi trường lao động cực nhọc ở miền đất mới không phải là mảnh đất tốt cho Nho giáo bám rễ sâu. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã có ảnh hưởng rất lớn về mọi mặt.  Nhưng một khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó ít học thì khó lòng có thể xác lập được một chỗ trong xã hội để chi phối và ảnh hưởng như nó đã từng có trong xã hội Việt Nam. Vì vậy, việc xuất hiện một tôn giáo bản địa phù hợp với tâm tư ý nguyện của người dân lúc bấy giờ là một điều tất yếu.
Và có thể thấy, đạo Cao Đài ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân Nam Bộ. Trên thực tế, nó có vai trò cố kết người dân không chỉ về mặt tinh thần mà còn về các mặt kinh tế, xã hội. Vì thế đạo phát triển khá nhanh chóng. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây.

 2.3   Điều kiện xã hội của vùng Nam bộ thời đó
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.

2.4 Lòng yêu nước của nhân dân ta
Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và cũng chính điều này mà tôn giáo nào hô hào phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc thì sẽ được nhân dân hưởng ứng một cách nhiệt tình và mãnh liệt.
Như Đạo BSKH nhấn mạnh việc đền ơn đất nước, ơn đồng bào, ơn Tổ tiên, ơn Tam Bảo, ơn đồng loại nên khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tín đồ BSKH tham gia đánh Pháp, biến trại ruộng thành căn cứ kháng chiến (điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Bảy Thưa – Láng Linh (An Giang) từ 1867 đến 1873 do Trần Văn Thành lãnh đạo. Theo tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, Trương Định và Nguyễn Trung Trực cũng là tín đồ BSKH.

2.5 Vai trò lu mờ của Phật giáo và Thiên chúa giáo thời bấy giờ
Thiên chúa giáo và Phật giáo là 2 tôn giáo lớn được du nhập từ Nước Ngoài vào Việt Nam, nhưng Thiên Chúa giáo do Pháp mang vào nước ta nên ít nhiều cũng có thiện cảm với chế độ thực dân Pháp, nên không thấy xuất hiện sự đấu tranh của tôn giáo này với chủ nghĩa thực dân.
Còn Phật giáo thì bị Pháp phong tỏa kềm chặt, lại không xuất hiện những nhân vật uyên bác và linh hoạt để có thể hướng tín đồ của mình trong công cuộc đấu tranh chống Pháp một cách hợp pháp công khai hay bán công khai, do vậy quần chúng yêu nước, không thể dựa vào hai tôn giáo này và việc hưởng ứng với các tôn giáo bản địa khác cũng là một tất yếu.
2. Nguyên nhân ra đời của tôn giáo bản địa
2.1 Vị trí và đặc điểm của miền tây nam bộ
V. KẾT LUẬN
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó ra đời trong những điều kiện xã hội cụ thể và cũng chính những điều kiện cụ thể đó lại chế định vùng ảnh hưởng của tôn giáo. Điều kiện còn thì thì nó còn, và nó sẽ mất đi khi những điều kiện sinh ra nó không còn tồn tại nữa, sự suy thoái kém phát triển của một số tôn giáo bản địa hiện nay đã minh chứng cho quy luật bất biến này.
Qua bài viết trên có thể kết luận rằng, tinh thần yêu nước và đời sống cực khổ của nhân dân, sự đô hộ vơ vét của giặc Pháp, vị trí , đặc điểm và điều kiện của Nam bộ thời bấy giờ cộng với sự suy tàn của Nho giáo, sự lu mờ của các tôn giáo quốc tế khác ở VN đã làm phát sinh nhanh chóng các tôn giáo bản địa tại Việt Nam thời bấy giờ.
Tài liệu tham khảo

1.   GS TS. Ngô Văn Lệ - Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ
2.   Nguyên Hùng -Sư thúc Hòa Hảo NXB TH Hậu Giang 1990
3.   Nguyên Hùng –Người Bình Xuyên NXB CAND 2005
4.   Nguyễn Anh Tuấn & Đỗ Minh Hợp Tôn giáo lí luận xưa và nay - NXB TH TP.HCM 2005
hoangnguyen 

 -
http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:HFEVTQZF_fkJ:sachxua.net/forum/index.php%3Ftopic%3D6511.0+nguy%C3%AAn+nh%C3%A2n+xu%E1%BA%A5t+hi%E1%BB%87n+%C4%91%E1%BA%A1o+gi%C3%A1o+nam+b%E1%BB%99&cd=4&hl=vi&ct=clnk&gl=vn&source=www.google.com.vn
2/ĐÁNH GIÁ THỨ HAI. 
Phật Thầy Tây An - ảnh sưu tầm.
"Đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy nó có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Thực sự đây là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã dược khai sinh không những ở Nam Bộ mà cả ở vùng Ðông Nam Á như Philippines, Indonesia. Có nhiều đạo giáo tương tự hình thành trong những điều kiện nhất định của thời điểm chính trị và không gian xã-hội : khi chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược vùng Ðông Nam Á vào thế kỷ 16 trở đi, dù bọn vua quan phong kiến có đầu hàng hoặc thỏa hiệp với bọn thực dân xâm lược thì tầng lớp sĩ phu và nông dân yêu nước vẫn chống lại bằng mọi hình thức. 
Không thể chống lại công khai bằng bạo lực quân sự, nho sĩ và nông dân với khuynh hướng quốc gia cực đoan, bài ngoại và mê tín đã sử dụng đạo giáo và thần quyền để tập hợp và tổ chức một cách bán hợp pháp hoặc hợp pháp bí mật, hoặc công khai những lực lượng chống xâm lược ngoại bang và sự bóc lột của bọn phong kiến chủ đất, lúc ấy đã đầu hàng hoặc thỏa hiệp với thực dân ngoại bang.
Như vậy bản thể của những đạo giáo trong lúc đó là nông dân, nho sĩ yêu nước, chống phong kiến và chịu ảnh hưởng của những trào lưu đạo giáo cứu thế vốn sẵn có của xã hội Ðông phương. - Nam Bộ, những đạo giáo như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo v.v... cũng đều mang những thuộc tính như vậy.
Hoàn cảnh lịch sử khi ra đời của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào giữa thế kỹ XIX (1849) là trong hoàn cảnh đất nước và xã hội cực kỳ rối ren từ Bắc vào Nam. Trong khi đó xã hội suy thoái, vua quan ngu dốt, bất tài, lại thêm nạn tham nhũng, bóc lột, sưu cao thuế nặng, triều đình kỳ thị chém giết tôn giáo : cấm đạo Gia Tô, cấm lập chùa thờ Phật. Nạn mất mùa, đói kém, kinh tế phá sản, các bệnh dịch hoành hành đã khiến nhiều cuộc khởi nghĩa và bạo động nổ ra khắp mọi nơi. Lợi dụng cơ hội này, thực dân Tây phương tác động bằng nhiều cách để gây rối loạn nhằm thực hiện ý đồ xâm lược. Trong điều kiện lịch sử như vậy, lòng dân ly tán, cố chống lại triều đình và bọn địa chủ mới đang phát triển.
Ở miền Bắc có các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nho sĩ như : Phan Bá Vành năm 1826 (Thái Bình, Nam Ðịnh), Lê Duy Lương năm 1833(Ninh Bình, Hưng Hóa), Nông Văn Vân năm 1833 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang). - miền Nam có cuộc khởi nghĩa của Lê văn Khôi năm 1833. Thực chất đây là cuộc khởi nghĩa của nho sĩ, nông dân nghèo và dân tộc thiểu số chống lại nạn áp bức bóc lột của triều đình, bọn chủ đất và sự đô hộ của thực dân Pháp.
 Phan Lạc Tuyên"
( Xin xem tiếp bài 3 - dienbatn ).

NHỮNG ÔNG ĐẠO VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO MỚI Ở VIỆT NAM .

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_24.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/03/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_06.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_08.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_13.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/04/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_22.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_16.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_19.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/05/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o_25.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/06/nhung-ong-ao-va-su-hinh-thanh-ao-moi-o.html

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *