CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO. BÀI 11.

5/06/2015 |
CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.

Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên  dienbatn đăng tiếp loạt bài  CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
8/ Thần Apsara - Vũ nữ trên Trời.

Trong nền văn minh của Ấn Giáo, Apsara là nữ thiên thần xuất thân từ sự khuấy động của nước sữa đại dương, thường được mô tả như những cô gái xinh đẹp tuyệt vời với những đường cong gợi cảm. Tại khu vực Đông Nam Á, những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Giáo (Champa, Campuchia, Thái Lan, Lào, Nam Dương, v.v.) thường có các hình tượng Apsara trên đền tháp. Tháp Trà Kiệu ở miền trung Việt Nam là nơi xuất hiện nhiều nhất hình tượng Apsara Champa vào những thế kỷ thứ 10 và 11.

Apsara là một dạng tiên nữ trong Ấn Độ giáo (Hindu) và thần thoại Phật giáo. Tiếng Việt thường dịch là nữ thần hay tiên nữ.Apsara mang hình dáng những cô gái có vẻ đẹp siêu nhiên. Truyền thuyết cho rằng họ có sắc đẹp tuyệt trần, phong cách thì thanh tao lại rất điêu luyện trong nghệ thuật múa hát, đàn nhạc.
Trong Ấn Độ giáo apsara là vị hôn phối của nam thần nhạc công gandharva và là tỳ nữ hầu hạ cho Indra. Trong khi gandharva tấu nhạc thì apsara múa hát, mua vui cho các thần linh.
Theo Ấn Độ giáo, Apsara là những tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần, cử chỉ thanh thoát, duyên dáng và múa hát điêu luyện, họ là vợ của các nhạc công nơi tiên giới Gandharva, thường đàn ca, múa hát cho các vị thần. Apsara đồng thời là các tì nữ hầu hạ thần Indra vua của các vị thần, hiện thân của chiến tranh, dông bão, mưa gió. Đặc trưng của điệu múa là một vũ nữ Apsara dẫn đầu nhóm vũ nữ trình diễn các động tác tinh tế như những nàng tiên vui chơi giữa khu vườn hồng, nơi mà họ chính là một phần vẻ đẹp của vườn hồng. Những động tác múa rất chậm rãi và tinh tế thể hiện nét độc đáo của nghệ thuật múa Apsara không giống như hầu hết các điệu múa khác trên thế giới. 
Theo sự trải dài của lịch sử, những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Giáo (Champa, Campuchia, Thái Lan, Lào, Nam Dương, v.v.) thường có những hình tượng vũ nữ Apsara có nhiều điểm tương đồng nhưng có có khá nhiều dị biệt.
Hình tượng Apsara của Campuchia .

Theo truyện kể dân gian, apsara là các nàng tiên mây và nước. Khi các nàng đùa giỡn, ca múa, cỏ cây, muông thú sinh sôi, nảy nở, vì vậy người dân Campuchia đã tôn apsara là Nữ thần Thịnh vượng. Những nàng tiên đẹp nhất là Uvasi, Menaka, Ramba và Tilotama thường xuất hiện trong nhiều tác phẩm thơ, nhạc, họa Campuchia. Các nàng cũng là chủ của những cung cấm và chuyên múa hát phục vụ các nam thần trong những buổi tiệc mừng chiến thắng ma quỷ. Mỗi lần, có tới 26 nàng cùng múa hát.Học theo động tác múa huyền bí của tiên nữ, người dân Campuchia đã sáng tạo nên điệu múa tiên nữ apsara biểu diễn vào những ngày lễ ca ngợi công đức của các vị thần và Hoàng gia. Điệu múa trong nhiều thế kỷ đã trở thành điệu múa cung đình, và rồi thành điệu múa quen thuộc của các thanh nữ trong những dịp lễ tết, hội hè và cưới hỏi, là điệu múa cổ điển, êm ái nổi tiếng về sự thanh nhã, cao quý, với các tư thế, cử chỉ hiền dịu. 

Apsara đến nay là tài sản, linh hồn quốc gia Campuchia.Ra đời từ cách đây ít nhất 2.000 năm, những hình ảnh đầu tiên của điệu múa còn thấy trên nhiều phù điêu trang trí ở các ngôi đền cổ kính nhất Campuchia, như quần thể đền Angko - di sản văn hóa thế giới được xây dựng khoảng thế kỷ thứ VIII, đỉnh cao của Vương triều Angko, sánh ngang với Kim Tự Tháp (Ai Cập), trên những tường thành và hào dài từ trăm mét đến hàng nghìn mét của đền cũng như nhiều công trình tôn giáo khắp cả nước.Các tư thế, đường cong của cánh tay, thân thể vũ nữ, cũng như vũ phục bằng vàng, bạc, châu ngọc, hoa lá trong điệu múa đều được phát sinh từ các hình vẽ trong những ngôi đền cổ, miêu tả sử thi Ấn Độ Ramayana hoặc là cuộc chiến giành lấy bình cam lộ giữa quỷ và thần gồm 100 tiết điệu gợi cảm, ý nghĩa. Qua điệu múa, người dân Campuchia muốn nói lên ước mong về một cuộc sống thanh bình, thịnh vượng, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, thần thánh và công đức của người xưa. Ngoài ra là những câu chuyện xúc động về sinh, bệnh, lão, tử... bốn giai đoạn cuộc đời phải trải qua, để thế hệ sau đượcthấu hiểu, chiêm nghiệm và gìn giữ những giá trị văn hóa, tinh thần to lớn của dân tộc.


Mỗi năm, nhờ Hoàng gia bảo trợ, các nghệ sĩ apsara lưu diễn khắp nơi. Nhằm duy trì và phát triển điệu múa cổ truyền, đều đặn có các đoàn nghệ thuật đến từng trường học cơ sở tuyển các em gái nhỏ, đặc biệt là các em mồ côi hoặc nhà nghèo học múa. Các em 8 - 9 tuổi đã được học múa và luyện tập ở trường, ở cung điện, tập nhiều tư thế hấp dẫn, nhất là múa với đôi bàn tay mềm dẻo kỳ lạ, ngón tay có thể gập ra sau sát với cổ tay, đôi chân có thể đá cao, gối có thể vắt ra sau lưng. Vào mỗi buổi chiều, các thiếu nữ lại ra múa hát, vui chơi ở các đền đài trước những phù điêu apsara, lôi cuốn rất nhiều du khách chiêm ngưỡng. ( http://www.vanhoahoc.vn/ ).
" Về Vũ nữ YANGNAITRI (Apsara) - Champa Và Huyền Thoại
Ở mỗi dân tộc, mỗi đất nước đều có bề dày lịch sử và bề rộng của không gian xã hội. Cũng vậy, cư dân Chăm đã có một vương quốc với một nền văn minh cổ đại. Lớp bụi hàng trăm năm của thời gian vẫn không xoá nhoà hình ảnh của vương quốc Chămpa cổ, vốn là một hiện tượng lịch sử văn hoá độc đáo. Bởi lẽ đến nay, những công trình kiến trúc, điêu khắc cổ và kể cả nghề luyện kim đã để lại rất nhiều hiện vật tiêu biểu cho thời kỳ hưng thịnh của cư dân Chăm.   
Apsara - Tượng Vũ nữ Chăm Pa.

Nghệ thuật điêu khắc Chămpa đã đi sâu vào lòng người, sớm nhất vào khoảng đầu thế kỷ 7,  đã gây nên những ấn tượng khá sâu sắc tới nhiều người trong và ngoài nước. Có thể nói công phát hiện đầu tiên là của các học giả, nhà nghiên cứu Pháp như: Parmentier, Agmonier, G. Maspero. Tuy số nhà nghiên cứu không nhiều, nhưng với nghệ thuật điêu khắc độc đáo và phong cách gắn với sắc thái dân tộc đã đóng góp một phần nào vào kho tàng văn hóa của nhân loại. Trong các tác phẩm điêu khắc được trưng bày tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP Hồ Chí Minh. Các tác phẩm được trưng bày ở đây đã minh chứng cho sự phát triển của nghệ thuật Chămpa đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và đã được phát triển liên tục từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 17, trong đó có vũ nữ Apsara Chămpa. Cội nguồn của các pho tượng trên là do các nhà nghiên cứu Pháp phát hiện từ vùng Quảng Nam – Đà Nẵng cho đến Quy Nhơn - Bình Định là những vùng được coi là lưu giữ nhiều nhất các di tích Chămpa như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu. Trong đó tượng vũ nữ Apsara của bệ thờ Trà Kiệu là một tác phẩm điêu khắc tiêu biểu. Vũ nữ Apsara với khuôn mặt đầy đặn, đầu đội mũ Mrần kiểu Kirata - Mukata có nhiều tầng với hai mắt mở to, sóng mũi cao và nở rộng đó là đặc trưng của điêu khắc Chămpa. Bên cạnh đó để làm đẹp và tô thêm sự duyên dáng của các cô vũ nữ, nghệ nhân Chămpa đã khắc đôi bông tai bằng những tua sợi rất tinh tế và hài hòa, ngoài ra với đôi môi mỏng và đang mỉm cười đã làm cho chân dung vũ nữ thêm phần sinh động. Đi sâu vào bức tượng, ngắm nhìn, cố lọc ra những gì tưởng chừng như không hợp lý, nhịp điệu của cơ thể giúp cho chúng ta đi vào bên trong của sự kỳ diệu ấy.  

Cô gái gần như lõa thể, với hai bộ ngực căng tròn với hai cánh tay nõn nà điểm xuyến vòng tay (Kon), bắp tay, bắp đùi căng tròn và thon thả. Cùng với điêu khắc đã phác họa vũ nữ Chămpa đẹp và sống động ấy vượt lên trên vẻ đẹp thân xác. Vũ nữ không có sắc dục, chỉ có nhịp điệu và vũ điệu Tamia Tatih; Tamia Biyen, Tamia Tra mà được các hậu duệ của họ là thiếu nữ Chăm nối tiếp vũ điệu cổ xưa đang lưu truyền trong cộng đồng người Chăm cho đến ngày nay. Toàn bộ khối hình của người vũ nữ là hai hình tam giác đối đỉnh nhau tạo nên một cảm giác cân đối nhưng chông chênh. Các đường lượn của tay và đùi tạo thành các đường gấp khúc uyển chuyển. Với cánh tay dài nõn nà mà có thể nói là quá khổ uốn cong thành một động tác tưởng chừng như là phi lý, nhưng chính cánh tay trái này làm thành một đường lượn kết nối hai phần của bức tượng, làm hai khối trở nên mềm mại và tinh tế hơn. Cùng với chiếc khố “plá tọp” được chạm với họa tiết khắc vạch rất tinh tế, diễn tả các đường trang trí hình cườm đồng tâm tỏa đều trên thân tượng. Những đường tròn từ chuỗi hạt, dây lưng, viền khố tạo một làn sóng lan tỏa từ trên xuống dưới. Các hạt cườm vắt qua bắp đùi và cánh tay giúp cho các khối này trở nên tròn trịa hơn. Hai chân ở một tư thế một chân trụ vững, một chân nhón gót theo nhịp uốn của thân rất uyển chuyển tài hoa mà bất cứ một vũ nữ tài ba nào ở thế gian này khó đạt được. Nghệ nhân Chămpa xưa đã biết tạo được nhịp động của khối đá vô tri vô giác thành một đường nét tổng hòa, một tư thế rất mềm mại mà khỏe khoắn tạo cho người xem, nhà nghiên cứu càng thích thú thêm về vũ nữ Apsara. Nhà nghiên cứu Cao Xuân Phổ đã nói “người ta gọi là vũ nữ riêng tôi gọi là cô gái Trà Kiệu, bao nhiêu mỹ từ đã được gán cho người đẹp, vẫn cảm thấy như chưa đủ, khách tham quan còn muốn tự bàn tay mình tiếp xúc với làn da mát rượi, cầu mong một luồng cộng hưởng giữa người nay và người xưa. Ao giác biết là ảo mà vẫn mong”.    


Tượng Apsara dienbatn chụp tại tháp Chiên Đàn.
Thật vậy, chúng ta có thể nhìn bệ thờ Linga và Yoni ở Trà Kiệu mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là bệ thờ Trà Kiệu, hay bàn thờ vũ nữ : rộng 3m, cao 1,50m thể hiện hai vũ nữ và hai nhạc công với khuôn mặt ngất ngây hiền dịu, đôi mắt như nhìn vào cõi xa xăm, làn môi như hé nở nụ cười, tư thế uốn cong vừa khỏe vừa uyển chuyển mà dứt khoát. Đường cong của thân phù hợp với đường cong của đôi chân tô thêm sự diệu kỳ của người vũ nữ mà nhà nghiên cứu đã thốt lên “động trong cái tĩnh, tĩnh trong cái động của điệu múa”. Đó là bí quyết của nghệ thuật múa của Chămpa nói riêng và nghệ thuật Đông Phương nói chung mà người vũ nữ Trà Kiệu đã thể hiện một cách hoàn mỹ.   So sánh giữa vũ nữ Campuchia với vũ nữ Chămpa, ta thấy có những nét tương đồng, như: có tư thế hai tay uyển chuyển, đôi chân với tư thế một chân trụ và một chân nhón. Tuy nhiên nhìn dưới góc độ mỹ thuật, Apsara Chăm có nét hài hòa, uyển chuyển và hoàn mỹ hơn như mắt mở tròn, mũi cao với khuôn mặt xinh xắn cùng với đôi môi như nở nụ cười, không như Apsara Campuchia với khuôn mặt không cân đối, mũi nở rộng, môi dày, đặc biệt hơi dữ tợn với đôi cánh tay to và thô, có lẽ nghệ thuật điêu khắc của họ đã bị ảnh hưởng vấn đề tôn giáo rất sâu sắc, vì họ quan niệm đã là thần hay vũ nữ phải có cái riêng, cái uy quyền của thần linh, khác với đời thường thì muôn dân mới sợ và kính trọng.   Theo truyền thuyết, Apsara được coi như là nữ thần biên giới, là vũ nữ của thần Indra, chuyên múa hát và dâng hoa cho các vị thần. Apsara có biệt tài ca hát, nhảy múa có nghệ thuật yêu đương, là người bạn hay người yêu của mục đồng thiên giới Gandhawa, đặc biệt có tài khêu gợi tình dục, thậm chí phá được phép tu khổ hạnh của các tu sĩ đắc đạo và làm xiêu lòng biết bao thần thánh.  

Tượng Apsara dienbatn chụp tại tháp Chiên Đàn.
Qua vũ nữ Apsara trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ một cách sáng tạo những yếu tố truyền thống văn hóa dân tộc. Thông qua cải tiến những họa tiết vốn có và bổ sung thêm những yếu tố mới đã góp phần làm phong phú về mặt nghệ thuật văn hóa dân tộc. Tuy nhiên sự tiếp thu đó mang tính cách dung nạp rồi sau đó bản địa hóa, địa phương hóa trở thành cái riêng của mình. Vũ điệu  người Chăm ngày nay là sự kế thừa của của vũ điệu Yang Naitri Chămpa xưa mà họ đang sử dụng trong các lễ hội như Riya Nưgar, RiYa HaRay (lễ cầu mưa) hay lễ Ka Tê mà chúng ta đang chiêm ngưỡng trong các lễ hội ngày nay. Điều đáng lưu ý là Yang Naitri đã được nghệ nhân Chăm pa dung hòa được các yếu tố bên ngoài mang sác thái của cư dân Chăm, để rồi qua mỗi triều đại biến nó thành cái đẹp hoàn mỹ mà không ai nhầm lẫn được nghệ thuật điêu khắc Chămpa với nghệ thuật cổ các nước Đông Nam Á."  ( http://hcmufa.edu.vn/).
Apsara tại lào.
" Hình tượng Apsara trong điêu khắc Chăm
Một trong những kiệt tác điêu khắc mà người Champa sáng tạo ra là hình tượng vũ nữ Yang Naitri (Apsara) ở các bức phù điêu, tượng bằng sa thạch. Vũ nữ Apsara hiện diện hầu khắp di tích Champa như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu thuộc tỉnh Quảng Nam.
Apsara của người Champa được thể hiện trên các khối đá sa thạch với khuôn mặt đầy đặn, đầu đội mũ Mrần kiểu Kirata - Mukata có nhiều tầng, hai mắt mở to, sống mũi cao và nở rộng. Để làm đẹp và tô điểm thêm sự duyên dáng của các vũ nữ, nghệ nhân Champa đã khắc đôi bông tai bằng những tua sợi tinh tế và hài hòa. Ngoài ra, đôi môi mỏng đang mỉm cười đã làm cho vũ nữ tăng thêm phần sinh động.
 Tượng Apsara tại bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng .

 Hầu hết tượng Apsara luôn ở trong tư thế khỏa thân nửa phần trên của cơ thể, để lộ ra bộ ngực căng đầy sức sống. Tuy thân hình “bán khỏa thân” nhưng vẫn giữ được vẻ trinh nguyên, vượt lên trên cảm giác xác thịt trần tục. Eo lưng thon thả cùng với bắp tay, bắp đùi tròn và cả thân mình bắt nhịp như rung bật theo từng động tác múa điệu nghệ, khoe diễn những đường cong kiều diễm. Bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ đã khắc họa vũ nữ Champa tươi đẹp và sống động. Theo cảm nhận của nhiều người, tượng vũ nữ tạc ở bệ tượng Trà Kiệu, thế kỷ X cao 60cm, rộng 55cm, là một pho tượng thuộc loại đẹp nhất. Các nhà nghiên cứu gọi là bệ thờ Trà Kiệu hay bàn thờ vũ nữ. Các bức tượng ở bệ gần như khỏa thân, bầu vú căng tròn, cổ tay tròn lẳn. Động tác múa tạo nên một hình khối cân đối và chặt chẽ. Tư thế uốn lượn mềm mại của các vũ nữ như dấy lên một nỗi đam mê cuồng nhiệt.  Khi đứng trước đài thờ Trà Kiệu, nhà nghiên cứu Cao Xuân Phổ thốt lên: “Bao nhiêu mỹ từ đã gán cho người đẹp vẫn cảm thấy như chưa đủ”.
    Vũ điệu Apsara tại đền tháp Mỹ Sơn .

Apsara là hình tượng nghệ thuật luôn gây niềm cảm hứng mãnh liệt cho các nhà biên đạo múa. Apsara đã hóa thân từ đá thành những vũ điệu uyển chuyển, mượt mà, ca ngợi vẻ đẹp, những đường cong tuyệt mỹ mà tạo hóa đã ban tặng cho phái đẹp. Từ sân khấu chuyên nghiệp đến các hội diễn nghệ thuật quần chúng đều có điệu múa Apsara. Trong các sự kiện văn hóa ở xứ Quảng, Lễ hội Ka Tê của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận đều không thể thiếu màn múa Apsara. Vũ điệu ấy là biểu tượng của cái đẹp thuần khiết, đầy tính biểu cảm, như lời bài hát của nhạc sĩ Amư Nhân: “Ngủ quên trong kiếp đá Apsara, bàn tay người nghệ sĩ hóa thân ngà. Trăm năm làm một thuở nỗi mơ nung nấu ngàn đời, nung nấu ngàn đời mãi không nguôi. Ngàn năm trong kiếp đá Apsara, bàn tay người vũ nữ nét thiên thần, trên môi cười điệu nghệ, hồn mở ra vóc dáng hình hài, phiêu lãng đường trần mãi trông chờ...”.( Theo Quảng Nam online).
Hình tượng Vũ Nữ Apsara được chạm khắc trên bệ thờ của di tích Trà Kiệu bằng đá sa thạch. Bệ thờ này có niên đại từ thế kỷ thứ 10 hiện đang trưng bày tại bảo tàng "Chăm" Đà Nẵng.

Đọc thêm :  * " Huyền thoại Apsara.


Người ta gọi Apsara là nữ thần. Anh bạn tôi, một nhà thơ lại dịch là tiên nữ, là người đẹp siêu nhiên, theo một truyền thuyết Ấn Độ. Lại có người nói Apsara, những vũ công tuyệt mỹ mua vui cho thần thánh. Nhưng tôi lại thấm nỗi khát vọng yêu đương qua vũ nữ Apsara với bộ ngực trần, cặp vú săn chắc, thân hình mềm mại uyển chuyển. Đó là sự gợi tình, một cảm hứng tính dục hồn nhiên, bản năng và bất tử. 
Có thể nói, nếu trên mọi bệ thờ trong tháp Chăm, qua biểu tượng Linga-sinh thực khí nam với Yoni-sinh thực khí nữ, để nói lên sự hoà nhập âm dương, biểu hiện sự sinh sôi, thì Apsara chính là hình ảnh sinh động cho cái gọi là Yoni (theo tiếng Phạn là bầu vú). Vì thế câu chuyện bắt đầu từ đây, khi đoàn du khách đến Thánh địa Mỹ Sơn, ở Duy Xuyên, Quảng Nam, đều sửng sốt vì bầu vú tròn mọng, hồng thơm của người vũ nữ Apsara trẻ trung đang tạo dáng để chụp ảnh mẫu giữa thung lũng hoang vu này. 
Người đòi chôn mình ở Mỹ Sơn khi chết .
Có lẽ tôi bắt đầu hiểu ra, vì sao bao đời nay người đời đang cố gắng bằng mọi giá để giữ lấy cái hồn cốt đầy bí ẩn của những toà tháp Chăm rêu phong và đang đổ nát với thời gian. Người đầu tiên được nêu danh, đó là Kazic, một một kiến trúc sư Ba Lan nổi tiếng thế giới. Ông đã làm tất cả vì Mỹ Sơn, mặc cho bom đạn từ thời chiến tranh còn sót lại rắn rết và nước độc. Ông thực hiện đúng những điều xuất phát từ con tim nồng nhiệt của mình, suốt 16 năm, từ 1980 cho đến khi mất tại Huế năm1997. 

Điều kỳ lạ trong thời gian này, có một cô bé câm chăn bò, người Chăm đã trở nên thân quen với ông. Cô bé lên mười này đã học nói tiếng Việt với ông và sau đó gánh nước ăn cho đoàn khảo sát. Cô bé gày guộc luôn sống trong cảnh đói rét này dường như sinh ra trong câm lặng, cô đơn và xuất hiện như trên trời xuống đúng như câu chuyện cổ về nàng Apsara được ông trời cử xuống để dạy mọi người múa hát. 
Cô bé lọ lem này đã âm thầm múa theo những bức tượng Apsara cổ, với những đường cong cơ thể uyển chuyển, hoàn toàn theo trí tưởng tượng. Cô bé Chăm ấy hồn nhiên như cỏ cây hoa lá bên con suối của thung lũng này. Và ông Kazic đã vẽ cô bé ấy đang múa trong những buổi sáng nắng vàng như mật ngọt chảy từ ngọn tháp màu đỏ au làm bừng sáng cả khu rừng xanh. 
Đó là giây phút thăng hoa nhất trong những ngày gian khó khi ông còn ngủ trong lòng tháp và mơ thấy những vũ nữ Chăm ngực trần từ trong đá bước ra múa hát dưới trăng. Ông ước một ngày nào đó cô bé gày đen xấu xí kia sẽ trở thành một con thiên nga trắng với đôi cánh mở to bay bổng uyển chuyển trong điệu múa Apsara ký diệu bên chân tháp.
Ông đã treo bức tranh cô bé trên vách lán. Một cô bé với hình ảnh áo quần sờn rách múa cùng ngọn cỏ, có đôi mắt buồn và hơi lạnh đúng như gương mặt chăm của Apsara, hoang dại. Rồi nhiều hôm cô bé Chăm cũng đến ngắm bức tranh rồi im lặng bỏ đi. Mỗi lần như thế, cô bé lại ra bãi cỏ múa, mỗi động tác ngày một khác, liên tục kết nối nhưng đầy hoang dại. Có một buổi chiều cuối cùng cô bé múa rồi mỉm cười bỏ vào rừng mất hút. 
Và sau này có người đã nhận ra cô bé ấy nay đã trở thành một vũ nữ thật sự, một Apsara về múa cho quê mình. Đúng như Kazic đã hình dung trong giấc mơ, cô bé câm ấy giờ đây đã hát và múa tại nơi đây, với bộ ngực trần và bầu vú tròn căng làm ngẩn ngơ bao người, trong tiếng trống pa-ra-nưng rộn ràng. Nhưng chi có khác, Kazic không còn nữa, một khát vọng về Mỹ Sơn đã ra đi. Hồn ông vẫn quanh quất đâu đây. Người ta đã làm bia khắc cho ông ở Mỹ Sơn với cái tên Việt thân quen là “Duy tháp Chăm”.

Nghe kể, tôi thấy câu chuyện có thật mà như huyền thoại vậy. Đẹp. Buồn. Kazic là một nghệ sĩ, ông đã không đợi được cái ngày con thiên nga trong giấc mơ của ông trưởng thành. Trong tâm trí tôi câu thơ của Chế bỗng hiện về đúng như sự trông ngóng của Kazic ngày nào:
“Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ
Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng
Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở 
Một đôi cành tơ liễu nhúng trong trăng!
Nàng không lại, và nàng không lại nữa!
Cả thân ta dần tan trong hơi thở
Ôi đêm nay, lòng hỡi, biết bao sầu!...” 
( Đợi người Chiêm nữ - Chế Lan Viên)
Người trọn đời làm tượng Apsara .
Đó cũng là một người câm như cô bé hoang dại người Chăm thuở nào. Anh là Phạm Ngọc Xuân, ở thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Từ bé anh cũng là người chăn bò và hay chơi tha thẩn ở quanh cụm tháp Mỹ Sơn. Không diễn tả được bằng lời và cũng không học hỏi được ai về tượng vũ nữ Apsara và bệ thờ Linga-Yoni. Nhiều lần cậu bé Xuân dã khóc vì một mẩu gạch trên hình vũ nữ bị vỡ ra vì mưa gió, bão táp. Cậu bé bao ngày đã trò chuyện thầm trong lòng với các cô gái bằng đá khắc trên tháp. Cậu đã chui vào trong tháp ngủ mỗi khi mưa gió không trở về nhà được. Người ta đã tìm cậu và lôi về cùng với những làn roi giận dữ của người cha vì ai cũng sợ cậu giẫm phải bom hay mìn còn sót lại trong thời kỳ chiến tranh. 
May sao, cậu còn mẹ để chia sẻ và cũng là người có thể trò chuyện với cậu bằng ngôn ngữ riêng biệt, bằng bàn tay. Cậu đã “nghe” mẹ kể lại những câu chuyện cổ về dân tộc Chăm, gốc gác dòng máu đang chảy trong trái tim cậu. Rồi bà còn kể vì sao và từ đâu có thánh đường Mỹ Sơn ngày nay, cùng với vẻ đẹp quyến rũ của vũ nữ Chăm. Bà kể sơ lược vắn tắt vì chính bà cũng không thể biết nhiều về quá khứ của dân tộc mình. Nhưng về tôn giáo và tín ngưỡng của người Chăm nơi thánh địa này thì bà biết phần nào để kể những câu chuyện thần tiên thường xảy ra trong những đêm Mỹ Sơn dầy đặc sương mù. Xuân lớn lên trong những câu chuyện yêu đương thần bí và thường mơ một ngày nào đó mình sẽ tạc được những bức tượng vũ nữ Apsara bằng đá.
Thế rồi, chính bố anh đã đi gánh đá về, rồi còn dựng một cái quán nhỏ bên đường để cho con trai bán tượng. Ban đầu ông tưởng chỉ để cho con trai tật nguyền của mình vui, không sinh hư vì rảnh rỗi. Nhưng không ngờ khách đến mua nhiều vì thấy tượng vũ nữ của anh chàng người Chăm kia đẹp đến mê hồn và đầy ẩn ức với đôi mắt buồn như sương khói. Anh im lặng, thỉnh thoảng mỉm cười, không hề quan tâm đến khách lạ, và như chỉ nói chuyện với tác phẩm của mình. Khách không hề mặc cả, chỉ xuýt xoa khen đẹp, rồi trả tiền cho anh. 

Đúng thế một nét đẹp lặng câm của tượng đá nhưng lại đầy biểu cảm nét kiêu sa dịu dàng của những vũ nữ Apsara, xinh đẹp, với bộ ngực căng tròn, gợi cảm. Đặc biệt bố anh đã tìm được loại đá mà chỉ ở Mỹ Sơn mới có. Chúng được làm và khắc trên tháp của người cổ xưa. Nay những tảng đá nhỏ ấy được hiện lên trên bàn tay anh, một người khiếm thính, và đã biến thành các vũ công đầy quyến rũ, với đôi mắt nhìn vào cõi xa, làn môi hé nở nụ cười, tạo nên cái động trong cái tĩnh và ngược lại thật kỳ thú. Dường như anh đã tìm ra cái bí quyết của nghệ thuật múa cùng những cặp Linga và Yoni biểu tượng cho thần thánh ngàn năm của lịch sử người Chăm. 
Múa trong “Mưa bay tháp cổ”
Rồi cái đêm các nàng Apsara xuất hiện đã đến trong buổi trình diễn ca múa nhạc, sau khi tôi mải miết suốt ngày trong thung lũng. Nghe giọng của một nam ca sĩ người Chăm, hát bài “Mưa bay tháp cổ” của Trần Tiến ở chính nơi đây, mới thấy cái hơi hoang dại và ám ảnh lòng người. Hình ảnh người vũ nữ hiện lên qua giai điệu da diết:
“Cong cong năm ngón ngũ hành
Trăm năm vũ điệu
Nam mô nam mô nam mô Shiva
Một vòng thôi miên, thôi miên Apsara”
Và quả thật tôi giật mình đúng lúc những cô gái với bộ ngực căng tròn bước ra từ hai bên cánh gà cùng cánh tay nõn nà đưa lên cao. Những ngón tay búp măng cong mềm lấp lánh trong ánh đèn mầu lan toả. Tiếng kèn saranai rung lên như muốn miêu tả nỗi khát vọng của tình yêu trong nhịp trống dồn dập. Người xem có cảm tưởng như hồn đá Apsara từ nghìn năm đang rung chuyển, lay động và nhập vào hồn người, làm nên vũ điệu đầy mê hoặc. 
Tôi ngờ rằng trong bốn vũ nữ đang múa kia, ắt hẳn có cô bé lọ lem của Kazic ngày nào. Đó có thể là cô bé Trà SaNi, và có thể là Thuý Vân tươi trẻ, những con thiên nga biến hoá trong vũ điệu thần bí, mà Kazic mơ trong tháp cổ vào những đêm giá buốt. Gặp lão nghệ nhân Trượng Tốn, linh hồn của đội nhạc múa Chăm thuộc xã Mỹ Sơn, tôi thấy ông tỏ ra buồn vì nghệ thuật dân gian Chăm rất phong phú, dễ đi vào lòng người nhưng các nghệ sĩ vẫn chưa làm được bao nhiêu. Sau khi thổi kèn Saranai, ông hát riêng cho tôi nghe, bài “Vũ nữ Apsara”, bằng một giọng trầm mặc, nồng nàn. Lời ca có đoạn: “Ngủ quên trong ký ức Apsara, ngàn năm người vũ nữ hoá thiên thần, trăm năm làm một cõi, nghìn năm mang bóng hình hài…”
Ông còn giải thích điệu múa Apsara thường do 4 vũ nữ thể hiện làm sao cho người xem tưởng như từ những bức phù điêu bước ra. Điệu múa chậm uyển chuyển, với động tác tay và chân thể hiện qua được cong duyên dáng nhưng lấp lánh nét buồn man mác. Khi kết thúc các vũ nữ lại trở nên bất động như những bức tượng, với ý nghĩa trở về với đá. Đó là những nhịp động của đá. Vũ nữ Trà SaNi đã có lý khi nói, Apsara được sinh ra từ đá và khi hoá kiếp lại trở về với đá. Chính vì lẽ này chăng mà nhà thơ người Chăm Inasara đã từng viết trong bài “Vũ nữ Chàm”: “Rung vòm ngực căng phồng ban mai
Vỡ đường cong cuộn trào suy tưởng”
Apsara và những trái bom câm .
Có thể nói những trái bom câm, nằm sâu trong lòng đất, còn sót lại từ những cuộc rải bom của máy bay Mỹ cách đây gần 40 năm cho đến nay vẫn còn đe doạ Thánh địa Mỹ Sơn. Theo con số thống kê của tỉnh Quảng Nam, tính đến nay ước chừng còn trữ lượng hàng tấn bom, nằm sâu dưới đất đá, ở thung lũng tháp này.
Ngay từ những ngày đầu tiên đến với Mỹ Sơn, chính kiến trúc sư Kazic cùng các đồng nghiệp đã gặp bom nổ. Sáu người hy sinh tại chỗ và 11 người bị thương nặng, đã báo hiệu những trái bom còn lại có thể nổ bất kỳ lúc nào, nếu không biết gìn giữ. Cũng chỉ cách đây mấy năm, bộ đội công binh của ta đã phát hiện và tháo gỡ kịp thời một trái bom ước chừng nửa tấn thuốc nổ. Quả bom này có sức công phá rất lớn với đường kính tàn phá hơn 500m. Vậy nếu nổ nó có thể san phẳng quần thể tháp Mỹ Sơn. Thật đáng báo động.
Theo chương trình rà phá bom mìn, bảo vệ di tích Mỹ Sơn, được tiến hành song song với việc trùng tu tôn tạo các tháp, từ nay đến 2012, quả là chuyện không hề đơn giản và gặp không ít khó khăn. Bom có thể nổ nếu không kiểm soát được những sinh hoạt, lao động của chính những người dân bản địa như đào đất trồng cây, dọn đốt cỏ, hoặc để ô nhiễm môi trường bởi ngay chính du khách đến với Mỹ Sơn. Thật đáng lo ngại cho Thánh địa có một không hai này. Đúng như kiến trúc sư Kazic đã từng đánh giá: “-Người Chăm cổ đã biết thổi hồn vào đất đá; biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ, thâm nghiêm và hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà chúng ta còn lâu mới hiểu hết”. 
Mọi chuyện đối với các thiên thần Apsara, giờ đây không chỉ là khắc chạm, tìm ra những điều bí ẩn của viên gạch xây tháp, chất kết dính của chúng, ngay từ khi được công nhận là di sản văn hoá thế giới năm 1999, mà còn là bom và mìn. Vậy đó, nghe đâu đây có tiếng thở dài của các nàng vũ công khi hoa đá trở về với hình tượng Apsara với những bầu vú Chăm quanh bệ thờ Linga. Tôi thẫn thờ." - Vương Tâm.
* VŨ NỮ APSARA.
Bệ Tháp đá tạc hồn xưa vỡ lặng
Thấm phong sương bờ vú lấm nghìn năm
Từng ngón sử phơi điệu tình mặn đắng
Apsara…
vũ trống động đèo Chăm!

NGUYỄN NGỌC THƠ.
* Vũ điệu Apsara
Ngược với cái nắng gay gắt, với luồng gió hanh khô là sự mềm mại uyển chuyển, sự khéo léo tinh tế cũng như cái nhựa sống căng tràn trong từng động tác của vũ điệu Apsara. Vâng, đó là một vũ điệu của người dân Campuchia mà đối với người con gái nơi đây ai không biết đến nó thì không phải là người Campuchia.
Tương truyền rằng apsara là các nàng tiên mây và nước. Khi các nàng đùa giỡn, ca múa, cỏ cây, muông thú sinh sôi, nảy nở, vì vậy người dân Campuchia đã tôn apsara là Nữ thần Thịnh vượng. Ngày trước, apsara chỉ dành cho các vị thần, cho giới quý tộc, vua chúa rồi dần dà nó phát triển và lan rộng trong khắp dân chúng trở thành điệu múa quen thuộc không thể thiếu của mỗi thiếu nữ Campuchia.

Để múa Apsara, người vũ nữ phải có cơ thể cân đối, không béo quá. Bàn tay dài, thon gọn. Đặc biệt là lưng phải thẳng và mông phải cong. Bởi vũ điệu này được ví như những tiên nữ đang bay lượn, uyển chuyển, nhịp nhàng. Lưng không thẳng, không có eo thon, không đẩy được độ cong của mông lên cao thì sẽ làm vũ điệu apsara không đựơc đẹp.

Các tư thế, đường cong của cánh tay, thân thể vũ nữ, cũng như vũ phục bằng vàng, bạc, châu ngọc, hoa lá trong điệu múa đều được phát sinh từ các hình vẽ trong những ngôi đền cổ ở Campuchia.


Trong điệu múa apsara, mỗi động tác múa đều mang một ý nghĩa hay một biểu tượng về một hiện tượng, nhân vật nào đó. Ví dụ, một ngón tay cong hướng lên trời có nghĩa là “hôm nay”, nếu đặt cánh tay lên ngang ngực thì nó thể hiện ý nghĩa “hạnh phúc”, khi tay trái hướng ra phía sau và tay phải nắm lại trước ngực với 3 ngón tay hướng lên, ngón trỏ chạm vào ngón cái thì đó là biểu tượng miêu tả hình ảnh rắn Naga, một con vật cưỡi của thần Vishnu, một tay hướng lên là biểu hiện cho “cái chết”, tay hướng xuống là “sự sống”, nếu hai bàn tay chuyển đổi lên xuống theo nhịp nhiệu nhanh thì nhằm nói đến 2 trong 4 giai đoạn của vòng đời con người là sinh – trưởng thành – bệnh tật và chết.


Apsara là điệu múa cổ điển, êm ái nổi tiếng về sự thanh nhã, cao quý, với các tư thế, cử chỉ hiền dịu. Năm 2003, vũ điệu apsara được Unessco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Nó cũng chính là đứa con tinh thần không thể thiếu, là biểu tượng và linh hồn của mỗi người dân Campuchia. ( http://dulichthailand.com/ ).





Xin theo dõi tiếp bài 12 - dienbatn giới thiệu .
Xem chi tiết…

CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO. BÀI 10.

5/01/2015 |
CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.
Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên  dienbatn đăng tiếp loạt bài  CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
7/Thánh nữ Sông Hằng Ganga. 
Hiện thân của thần Ganga - tranh vẽ của Raja Ravi Varma .
Đối với Hinđu Giáo, sông Hằng- với tên là Gaṅgā (tiếng Phạn và tiếng Hindi: गंगा Gaṅgā, tiếng Miến Điện: ဂင်္ဂါ, IPA: [ɡɪ́ɴɡà] Ginga; tiếng Tamil: gangkai, tiếng Thái: Khongkha) được miêu tả trong các văn bản Hindu và Ấn Độ là dòng sông thần thánh. Dòng sông được nhân cách hóa như một nữ thần, được người theo Hinđu Giáo thờ phụng; họ tin rằng ai tắm trên sông Hằng sẽ có thể giảm nhẹ tội lỗi của mình và đạt tới sự giải thoát khỏi vòng luân hồi của sự sống và cái chết. Những người hành hương đi từ xa tới đây để rải tro cốt của người thân xuống dòng nước sông Hằng, những mong linh hồn những người thân yêu của họ có thể sớm được siêu thoát. Nếu họ không đến sông Hằng, mọi người tin rằng, linh hồn sẽ khó được lên thiên đàng.
Nhiều thánh địa của đạo Hindu nằm dọc bờ sông Hằng, gồm có Gangotri, Haridwar, Allahabad và Varanasi. Suốt kỳ lễ Loy Krathong ở Thái Lan, các hoa đăng được thả xuống dòng nước để tỏ lòng tôn kính đức Phật Thích Ca Mâu Ni và nữ thần sông Hằng Ganga (พระแม่คงคา, คงคาเทวี) vì đã mang đến may mắn và rửa trôi mọi tội lỗi.

Nhiều câu chuyện Hindu đưa ra các phiên bản khác nhau về sự ra đời của thần Ganga. Theo một phiên bản, dòng nước thánh từ cái bầu đựng nước của đấng Sáng Tạo Brahma đã biến hình thành một thiếu nữ tên là Ganga. Theo một truyền thuyết khác tên là Vaishnavite, đấng Sáng Tạo Brahma đã rửa chân của thần bảo tồn Vishnu bằng một thái độ rất cung kính và rồi thu hết tất cả các giọt nước rửa chân này vào bầu nước thần Kamandalu. Phiên bản thứ ba kể rằng, nữ thần Ganga là con gái thần Himavan, vua của các ngọn núi, người mà có người phối ngẫu là thần Mena; do đó, thần Ganga là chị em với nữ thần Parvati. Mọi phiên bản đều cho rằng thần Ganga được nuôi nấng trên Thiên đàng, chịu sự nuôi dạy trực tiếp từ Brahma.

Vài năm trôi qua, một vị vua tên là Sagara đã dùng phép màu thu phục 6000 con trai. Một ngày, vua Sagara tiến hành nghi thức cầu phúc lành cho vương quốc. Một phần không thể thiếu trong biểu lễ là một con ngựa, nhưng đã bị đánh cắp do sự ghen tức của thần Mặt Trời Indra. Sagara ra lệnh cho tất cả các con trai đi khắp nơi trên Trái Đất để tìm kiếm con ngựa. Họ đã tìm ra con ngựa ở cõi dưới, ngay gần chỗ tu sĩ Kapila đang ngồi thiền. Tin rằng tu sĩ đã đánh cắp con ngựa, họ ném những lời xúc phạm vị tu sĩ, khiến cho việc tu tập hành xác bị gián đoạn. Lần đầu tiên sau nhiều năm, vị tu sĩ mở mắt và nhìn vào các con trai của Sagara. Với chỉ một ánh nhìn đó, tất cả 6000 chàng trai bỗng bị bốc cháy cho đến khi chết hết.
Linh hồn của các hoàng tử vua Sagara trôi dạt vì chưa được làm lễ tiễn đưa. Khi Bhagiratha, một trong những hậu duệ của vua Sagara, con trai của Dilip, biết được kiếp nạn này, ông thề sẽ mang thần Ganga hạ giới để lấy nước của thần thanh lọc các linh hồn và siêu thoát cho họ về Trời.
Bhagiratha cầu Brahma cho Ganga được hạ giới. Brahma đồng ý; Ngài ra lệnh cho Ganga hạ giới và sau đó xuống cõi dưới để các linh hồn là tổ tiên của Bhagiratha có thể lên được thiên đàng. Ganga cảm thấy rằng đây thực sự là một sự xúc phạm, nàng quyết định rằng khi hạ giới sẽ quét sạch cả Trái Đất. Được thông báo về điều này, Bhagiratha cầu xin thần phá hủy Shiva ngăn chặn việc hạ giới của Ganga.

Ganga kiêu ngạo hạ ngay xuống đầu thần Shiva. Nhưng thần Shiva đã rất điềm tĩnh bẫy nàng trong sợi tóc của thần và để cho nàng thoát ra bằng một dòng suối nhỏ. Cuộc chạm trán với thần Shiva làm cho Ganga trở nên kiêu ngạo hơn. Khi Ganga xuống cõi dưới, nàng đã tạo ra một dòng suối khác để vẫn được ở trên mặt đất mà giúp đỡ làm thanh sạch các linh hồn kém may mắn ở đây. Nàng là dòng sông duy nhất chảy qua ba thế giới: Swarga (thiên đường), Prithvi (hạ giới) and, Patala (cõi dưới hay địa ngục). Do đó, thần được gọi là "Tripathagā" (người đi qua ba thế giới) trong tiếng Phạn.
Vì những nỗ lực của Bhagiratha nên Ganga nên dòng sông còn được gọi là Bhagirathi, và từ "Bhagirath prayatna" được sử dụng để miêu tả những nỗ lực quả cảm hay những thành công đạt được qua khó khăn.
Một tên khác mà Ganga được đặt cho là Jahnavi. Chuyện kể rằng, một lần khi thần Ganga hạ giới, trên đường tới Bhagiratha, dòng nước cuộn mà thần tạo ra đã tạo nên sự bất an và phá hủy các cánh đồng, cũng như là của một vị tu sĩ tên là Jahnu. Vị tu sĩ giận dữ, ông đã uống cạn dòng nước Ganga. Lúc này, các vị thần cùng cầu xin cho Ganga để nữ thần có thể tiếp tục thực hiện sứ mạng. Cảm thấy hài lòng với những lời cầu xin, vị tu sĩ thả Ganga (và dòng nước của thần) từ lỗ tai ra. Do đó mà có cái tên "Jahnavi" (con của Jahnu) đặt cho Ganga.
Santanu ngăn Ganga dìm chết đứa con thứ 8 của họ, đứa trẻ sau này lớn lên và trở thành Bhishma.
Thỉnh thoảng, người ta tin rằng, dòng sông chắc chắn sẽ cạn vào cuối kỷ Kali Yuga (kỷ bóng tối- chính là kỷ nguyên hiện tại của loài người), giống như là dòng sông Sarasvati; sau khi sông Hằng cạn thì kỷ này cũng chấm dứt. Theo vòng tuần hoàn, thì kỷ tiếp theo sẽ là Satya Yuga- kỷ nguyên của Sự Thật.
Thần Ganga được miêu tả trong "Độc Tụng Vệ Đà" Rigveda, cuốn kinh sớm nhất và theo tương tuyền là thần thánh nhất của đạo Hindu. Thần Ganga được đề cập đến ở phần ca ngợi dòng sông nadistuti (Rigveda 10.75), gồm có danh sách các sông từ Đông sang Tây. Trong RV 6.45.31, từ Ganga cũng được nói tới nhưng không rõ là từ này dùng để chỉ dòng sông. RV 3.58.6 viết rằng "ngôi nhà xưa của Người, người bạn quý của Người, anh hùng ạ, của cải của Người đều nằm hai bên bờ Jahnavi (JahnAvyAm) cả". Dòng thơ này cũng có thể đang đề cập đến sông Hằng. Trong RV 1.116.18-19, sông Jahnavi và cá heo sông Hằng xuất hiện trong hai dòng thơ cạnh nhau.
Theo các cuốn kinh của đạo Hindu như Skanda Purana, nữ thần sông Hằng là mẹ nuôi của Karttikeya (Murugan)- con trai của thần Shiva và Parvati.
Parvati người đã tạo nên hình hài của thần voi Ganesha (con trai của Shiva và Parvati) từ những phần nhơ nhuốc của cơ thể bà; sau này thần Ganesha đã được ban cho sự sống nhờ nước thánh của thần Ganga. Do đó, Ganesha được xem như có hai bà mẹ—Pārvati và Gangā, và cũng vì thế nên được gọi là Dvaimātura và Gāngeya (con trai của Ganga).
Theo truyện Devi Bhagavata Purana, thần bảo tồn Vishnu có ba vợ; họ liên tục cãi nhau; do đó, cuối cùng Vishnu chỉ giữ lại bà vợ Lakshmi, tặng Ganga cho Shiva và Saraswati cho Brahma.
Kỷ nguyên Gupta, điêu khắc gốm sứ về thần Ganga được tìm thấy tại Ahichchhatra, UP, hiện đang được giữ tại bảo tàng Quốc gia tại New Delhi.
Theo kể lại của sử thi Hindu Mahabharata thì các vị thần Vasu, do bị Vashishta nguyền rủa nên đã xin Ganga hãy làm mẹ của họ. Ganga tái sinh và trở thành vợ vua Santanu với một điều kiện rằng không được vì bất kỳ điều gì mà Ngài có thể chất vấn các hành động của thần, bằng không thần sẽ rời bỏ Ngài. Bảy vị thần Vasu đã lần lượt được sinh ra dưới lốt những đứa con họ; thần Ganga dìm chúng xuống dòng nước của nàng để giải thoát chúng khỏi các loại hình phạt, còn vị vua thì không hề phản đối. Chỉ khi đứa trẻ thứ tám được sinh ra, nhà vua cuối cùng cũng chống lại hoàng hậu; do đó, thần Ganga đã bỏ đi. Vì thế, đứa trẻ thứ 8, tái sinh của thần Dyaus, vẫn còn sống, bị cầm tù trong vòng luân hồi, và sau này được biết tới với tái sinh của thần là Bhishma (Devavrata), người sẽ trở thành một trong những nhân vật đáng kính nhất trong sử thi Mahābhārata.....
Sông Hằng (tiếng Hindi: गंगा, tiếng Bengal: গঙ্গা, tiếng Phạn: गङ्गा / Ganga, Hán-Việt: 恒河 / Hằng hà) là con sông quan trọng nhất của tiểu lục địa Ấn Độ. Sông Hằng dài 2.510 km bắt nguồn từ dãy Hymalaya của Bắc Trung Bộ Ấn Độ, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal. Tên của sông được đặt theo tên vị nữ thần Hindu Ganga.Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000 km², một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dân cao nhất thế giới.
Sông Hằng là sông linh thiêng nhất đối với Ấn Độ Giáo.Con sông là nguồn sống của hàng triệu người Ấn Độ sống dọc theo nó và phụ thuộc vào nó hàng ngày.Con sông có vai trò quan trọng về lịch sử với nhiều thủ đô, thủ phủ của các đế quốc trước đây (như Pataliputra, Kannauj,Kara, Kashi, Allahabad, Murshidabad, Munger, Baharampur, Kampilya, và Kolkata) nằm dọc theo bờ sông này.
Bản đồ cụ thể lưu vực sông Hằng (màu cam), sông Brahmaputra (màu tím) và sông Meghna (màu xanh)
Sông Hằng được xếp thứ 5 trên thế giới về mức độ ô nhiễm năm 2007. Sự ô nhiễm đe dọa không chỉ đối với con người mà còn hơn 140 loài cá, 90 loài lưỡng cư và cá heo sông Hằng.Chương trình Hành động sông Hằng với mục tiêu nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường của sông hầu như thất bại hoàn toàn, do thiếu chuyên môn kỹ thuật, thiếu quy hoạch môi trường tốt, và thiếu sự hỗ trợ của các chức sắc tôn giáo.
Những người dân tộc Hindu, dân tộc chiếm đa số trong dân số Ấn Độ, xem sông Hằng là một dòng sông thiêng: Ganga là con gái của thần núi Himavan hay Himalaya. Theo tín ngưỡng Hindu, tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành và nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu của họ rải lên dòng sông.
Những người hành hương Hindu hành hương đến các thành phố thánh Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành; Haridwar được tôn sùng vì nó là nơi sông Hằng rời dãy Himalaya; còn Allahabad, nơi dòng sông Saraswati huyền thoại được người ta tin là chảy vào sông Hằng. Mỗi 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri.http://vi.wikipedia.org/).
Shantanu là hậu duệ của Puru người con ngoại hôn nhưng có hiếu của Yayati, anh chàng ăn vụng bị đổ bể đã nói ở trên. Buổi chiều nọ, Pratipa, thân phụ của Shantanu ngồi cầu nguyện bên bờ sông Hằng. Một vị nữ Thần hiện lên từ bọt nước, y hệt như nữ thần Aphrodite (Venus – Vệ Nữ) trong huyền thoại Hy Lạp-La Mã. Nàng đến ngồi trên đùi phải của nhà Vua và yêu cầu nhà Vua lấy nàng. Ông từ chối viện cớ đùi phải là chỗ ngồi của một nàng dâu chứ không phải của một người tình. Và ông chấp nhận để người con  trai sẽ sanh ra của ông (là Shantanu), lấy nàng.
Nữ thần chính là Ganga, Thần sông Hằng, một phần của búi tóc của Shiva, như chúng ta đã được biết trong phần một của loạt bài. Thật ra, đầu mối của câu chuyện bắt đầu từ trước đó ít lâu, khi Ganga đến triều kiến Brahma. Một cơn gió nổi lên làm tung váy của Ganga. Chư Thần và chư Tiên đều ngoảnh mặt nhìn sang chỗ khác, ngoại trừ Mahabhisha, một vị Vua mới thoát vòng luân hồi lên được cửa Trời. Mahabisha bị phạt phải đầu thai trở lại, nhưng xin được đầu thai làm … chồng Ganga ! Một chủng tử dục vọng khởi lên là biển dục tràn dâng không gì ngăn nổi vậy. Mahabisha đầu thai làm con Pratika, tức Shantanu, vị hoàng tử đã được hứa hôn với Ganga. Đồng thời, sẵn dịp xuống dương trần, Ganga cũng hứa giúp cho 7 vị Thần bị tội phải đi đầu thai, sớm được siêu thoát. Phương thức được thỏa thuận là : Ganga sẽ cho các vị này mượn tử cung của mình để đầu thai, và sẽ giết họ đi ngay khi mới sanh. Một người con cuối cùng sẽ không bị giết để đánh dấu cuộc tình tương lai với Shantanu, nhưng người con ấy sẽ không có hậu duệ.  
Mọi chuyện được an bài ổn thỏa. Shantanu lớn lên, đi dạo bên bờ sông Hằng, thấy một Nữ Thần tuyệt đẹp hiện lên từ bọt nước (Venus !), yêu nàng như điếu đổ, v.v… Ganga đặt một điều kiện là Shantanu không được thắc mắc hay phản đối trước bất kỳ việc gì nàng làm. Như dự liệu, Ganga mang thai, sanh con và giết ngay đứa trẻ sơ sinh, rồi vứt nó xuống sông mà nói : « Đây, ta làm phúc cho ngươi ! ». Bảy lần như vậy. Shantanu không dám thắc mắc, phản đối. Đến lần thứ tám, ông không chịu đựng nổi nữa, và kêu lên : « đừng giết con của chúng ta ! » Ganga tuyên bố đứa trẻ sẽ sống nhưng Shantanu đã bội ước, nên nàng phải đem con quay về Trời. Đứa bé tên là Bhishma, một nhân vật toàn hảo, mang những đức tính tốt nhất của bảy vị Thần đã được Ganga giúp. Bhishma ở với mẹ một thời gian rồi quay về sống với cha. Bhishma sẽ là vị Tướng Tổng Tư Lệnh của quân đội Kaurava sau này.
Shantanu ở lại dương trần một mình, và ít lâu sau, mê Satyavati, cô công chúa hôi mùi cá nay đã trở thành thơm như … mít ( !) nhờ ăn nằm với vị Đạo Sĩ. Tuy nhiên, cha nuôi của Satyavati, tức người thủ lãnh ngư phủ, không chịu gả cô nàng cho Shantanu. Lý do, Shantanu đã có người thừa kế. Ông  ngư phủ nọ muốn  con của Satyavati sau này sẽ trở thành Vua, chứ không mãi mãi là loại thứ dân « trên răng dưới dế » như ông. Shantanu giao cho Bhishma đi thương lượng xem có thể thỏa hiệp được cách nào hay không ? Ở đây chúng ta thấy một trường hợp thường dân làm khó dễ Vua Chúa ... Bhishma là bậc đại hiếu. Ông chấp nhận từ bỏ quyền thừa kế để con của Satyavati được làm Vua kế ngôi cha mình. Ngư phủ vẫn không chịu, và đòi Bhishma phải thề sẽ không có con để chắc chắn sau này không có vấn đề tranh dành với hậu duệ của Satyavati. Bhishma thương cha, nên cũng nhận lời. Thế là một cách vô tình, ông đã thực thi lời giao ước của Ganga, mẹ ông, với bảy vị Thần bị phạt đi đầu thai đã như đã nói ở trên : đứa con thứ tám, là ông, sẽ không bị giết, nhưng không được có con. Bhishma được chư Thần tán dương, cho muôn ngàn cánh hoa rơi xuống quanh ông, và cho ông được đặc quyền muốn chết lúc nào cũng được, đồng thời có thể chọn kẻ sẽ giết mình. Chúng ta cũng nhận ra mưu trí của Shantanu, đẩy Bhishma đi thương lượng việc hôn nhân của mình để Bhishma « tự giác » hy sinh mà không cần mình phải đòi hỏi ! " ( http://nguyen.hoai.van.pagesperso-orange.fr/ ).
Lễ hội tắm Sông Hằng ở Ấn Độ.

Do trận chiến kéo dài 12 ngày đêm liên tục trên trời, tương đương với 12 năm dưới mặt đất. Trong tâm thức người Ấn Độ thì những giọt trường sinh đã mang lại điều linh thiêng cho bốn vùng đất trên và người Hindu giáo đã kỉ niệm ngày lễ này 12 năm một lần, luân phiên tại bốn địa điểm. Nếu tính như vậy thì cứ 3 năm tại Ấn Độ lại diễn ra lễ Kumbh Mela. Theo tính toán chiêm tinh của người Ấn thì lễ hội Kumbh Mela được tổ chức 12 năm một lần và bắt đầu từ ngày Makar Sankranti. Thời điểm mà mặt trăng, mặt trời và sao mộc Capricorn nhập vào cung thứ nhất của hoàng đạo. Các cấu hình trên Makar Sankranti chiêm tinh gọi là “ Kumbha Snana yoga” và được coi là đặc biệt tốt lành. Người Hindu tin rằng việc thông quan từ trái đất đến các hành tinh cao hơn mở cửa vào lúc đó, do đó cho phép các linh hồn dễ dàng có thể đạt được các thiên thể thế giới. Đó cũng là lý do tại sao lễ hội Kumbh Mela lại phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân. Năm 2010 Makar Sankranti rơi vào ngày 14 tháng 1 ở Haridwar, một thành phố nhỏ tràn ngập các thánh đường nằm ở chân dặng núi  Himalaya, nơi con sông Hằng bắt nguồn và lễ hội sẽ kết thúc vào 28-4. Nhiệt độ hạ xuống đến 35 độ F vào tối 13, nhưng người tắm là không nản lòng. Qua nửa đêm, hàng ngàn bắt đầu bước vào nơi hợp lưu của ba con sông, ngâm mình trong nước lạnh như đá. Lớn tiếng hô vang "Bolo Mai Ganga ki jai (tất cả các vinh quang về cho Mẹ Ganga)" . Tràn ngập không khí đêm là những người hành hương đang rửa sạch nghiệp xấu của họ. Họ đến từ khu vực tắm quấn trong chăn và run rẩy vì lạnh. Tuy nhiên khi họ đi ra khỏi nước, hàng ngàn người khác  liên tục hô "Bolo Mai Ganga ki jai" và bước xuống sông.

Lúc bình minh, bầu trời đỏ và mặt trời lên  một đám đông gồm 5.000.000 người đang từ từ tiến về phía Sangam. Từ trung tâm hàng đoàn người thực hiện một cuộc diễu hành tuyệt vời công bố bắt đầu chính thức của Mela Kumbha. Ban nhạc chơi, mọi người nhảy múa trong hân hoan, và lá cờ và biểu ngữ đầy màu sắc bay trên đám đông.
Người đứng đầu rước long thần. Những người đàn ông thánh tham gia vào lễ hội  như một việc tìm kiếm sự cân bằng. Họ hy vọng thoát khỏi đau khổ và thực hành khổ hạnh như đời sống độc thân hoàn toàn và không tích lũy của cải vật chất. Vì vậy, họ được gọi là liberationists. Cơ thể của họ được bao bọc trong đống tro tàn rồi họ xuống khu vực tắm. Bước vào nước trong sự hỗn loạn, thổi conchshells và hát "Shiva ki jai, Ganga ki jai", họ khoát nước lên và chơi giống như trẻ em, các trẻ em của sông Hằng.
Tiếp đến vairagis Vaisnava, hành khất lang thang, những vị thánh sống một cuộc đời khổ hạnh. Sau đó, đến các giáo phái khác, vô số các vị tu sĩ mặc áo vải màu nghệ tây cùng diễu hành. Mỗi lần một lượt tắm trong Sangam.
Mỗi sáng trên các bậc làm từ đá cẩm thạch trắng( Gát), các tu sĩ tiến hành ngi lễ cúng tế dòng sông. Thấp hơn một chút các tín đồ đặt những chiếc cốc nhỏ làm bằng lá đa chất đầy hoa và nến, có người thì đổ sữa xuống dòng sông…
Những người đầu tiên thực hiện nghi thức tắm sông Hằng là hàng trăm tu sĩ khổ hạnh ở trần ( còn gọi là các Naga sadhus), sống đơn độc và thiền trong các vùng rừng núi. Họ được người Hindu tôn vinh là đại diện cho các thánh thần trên mặt đất vì sự hy sinh bản thân và chối bỏ sống trần tục vật chất. Họ chị xuất hiện vào ngày Kumbh Mela, vào ngày này thì họ sẽ ở trần, bôi tro lên mình và sau đó đứng ngập trong nước đọc những câu thần chú, những câu kinh hay luyện Yoga. Ngoài ra, có hàng chục người nước ngoài tham gia nghi thức tại sông Hằng.
Ở những nơi khác những người Hindu sùng đạo cầu nguyện trên bờ sông Hằng cùng với những người thân của họ trong lễ hội Kumbh Mela ở Haridwar.
Các sự kiện chính của lễ hội là nghi thức tắm rửa tại các ngân hàng của các sông trong bất cứ thị trấn được tổ chức. Nasik đã đăng ký khách truy cập tối đa 75 triệu. Các hoạt động khác bao gồm các cuộc thảo luận tôn giáo, ca hát đạo đức, ăn uống  giữa mọi người với nhau,....  Hàng ngàn con người thánh thiện và phụ nữ tham dự, Một số người được gọi là naga sanyasis, có thể không mặc quần áo ngay cả trong mùa đông khắc nghiệt.
 2. Phần hội

Các tín đồ đạo Hindu rất coi trọng lễ hội hành hương tắm gội để “rửa sạch tội lỗi” của mình trong dòng sông Ganga. Quy định về thời gian, địa điểm tiến hành lễ hội này cũng phức tạp. Lễ hội này được chia thành nhiều loại gồm Puma Kumb Mela, Ardh và Maha.
            Puma Kumb Mela - tạm gọi là lễ hội hoàn chỉnh được tiến hành ba năm/lần, lần lượt tại bốn địa điểm như Allahabad ở bang Uttar Pradesh, Haridwwar và Uijain ở bang Madhya Pradesh; và Nashik ở bang Maharasshtra, tùy thuộc vào sự tính toán của các nhà chiêm tinh về vị trí của hành tinh và Mặt Trời. Lễ hội Puma được tiến hành tại Haridwar kéo dài suốt ba tháng, từ lễ hội Makan Sankranti được tổ chức vào ngày 14/1 và sẽ kết thúc với lễ hội Shak Purnima Snan vào ngày 28/4 tới.
            Mahamaham là Mela Hindu Kumb lễ hội kỷ niệm 12 năm trong bể Mahamaham nằm ở thị trấn miền Nam Ấn Độ Kumbakonam trong Tamil Nadu , Ấn Độ . Ấn giáo xem xét tham gia một nhúng thánh tại bể Mahamaham trên ngày của Mahamaham là thiêng liêng. Mahamaham cuối cùng được tổ chức vào ngày 06 tháng ba năm 2004, với những người từ các nơi thánh nhúng trong bể Mahamaham. Kumbh Mahamaham tiếp theo sẽ được tổ chức vào năm 2016. Mặc dù Ardh Kumbh Mela nhỏ hơn lễ hội Kumbh Mela, việc chuẩn bị hậu cần cũng đòi hỏi quy mô rất lớn. Việc đảm bảo đồ ăn, nước uống và nơi ở cho những người hành hương là mối lo chính của giới chức địa phương.
Khoảng 50.000 lều và 25.000 toilet được dựng lên trên khu vực 80 km2 trên bờ sông Hằng. Để đề phòng các sự cố tai nạn và tấn công khủng bố có thể xảy ra, hơn 50 đại đội cảnh sát dự bị trung ương và cảnh sát địa phương được triển khai để bảo đảm an ninh trong thời gian diễn ra lễ hội.
            Những người hành hương bất chấp cái lạnh giá buổi sớm đổ về nơi giao của sông Hằng, Yamuna và con sông huyền thoại Saraswati để gột rửa tội lỗi.
Giai đoạn tắm sông chính kéo dài 6 ngày, tùy thuộc vào vị trí của các vì sao . Trong ngày đầu tiên (3/1), gần 10 triệu người, dẫn đầu là những nhân vật linh thiêng bôi tro và không mặc quần áo, ngâm mình trên sông. Tín đồ Hindu tin rắng tắm sông còn là sự kết thúc của một quá trình chuyển kiếp.
Trong thời gian diễn ra lễ hội Maha vào năm 2001 tại Allahabad có tới 60 triệu người hành hương tham gia - đạt kỷ lục thế giới về số lượng người dự một lễ hội trong lịch sử thế giới. Lễ hội Kumbh thu hút đông đảo người đến tham dự. Từ trung tuần tháng Giêng khi lễ hội bắt đầu, có tới 40 triệu người đã đổ về Haridwar, một thị trấn có rất nhiều đền thờ và lễ hội sẽ kết thúc vào cuối tháng Tư. Để thực hiện lễ hội này một  ban tổ chức lớn đã được thành lập  để cung cấp nơi ăn chốn ở cho khách hành hương để hoạch định và thi hành các kế hoạch phục vụ cho lễ hội. Đây là một công tác quy mô có sự tham gia của các lực lượng an ninh để lo liệu các vấn đề như an ninh, vệ sinh, các trạm y tế, dịch vụ cung cấp nước, điện vân vân …
Lễ hội được coi như cuộc tụ họp tôn giáo lớn nhất thế giới, thu hút hơn 40 triệu người hành hương kể từ khi khởi sự vào trung tuần tháng Giêng. Nghi thức tắm sông Hằng đánh dấu cao điểm của lễ hội Kumbh Mela của Ấn Độ Giáo kéo dài đến ba tháng. Ban tổ chức ước tính có hơn tám triệu người thực hiện nghi thức tắm ở Sông Hằng hôm Thứ Tư trên một khúc sông dài 15 kilomet. Một số khách hành hương thích đến Mela Kumbha vào ban ngày tại các phòng tắm thiêng liêng lớn như Makar Sankranti và sau đó trở về nhà, trong khi những người khác dựng trại và ở lại cho đến hết lễ hội như một kỳ nghỉ gia đình. Lễ hội Kumbh Mela vẫn được mô tả là một cơ hội thể hiện lòng mộ đạo độc nhất vô nhị trên thế giới về tầm mức cũng như về mầu sắc. Những người theo đạo Hindu tin rằng tắm trên sông Hằng dài 2.510km được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng.  Cứ 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri. 
Tại thị trấn Haridwar ở Bắc Ấn Độ, hằng triệu tín đồ Ấn Độ Giáo đã thực hiện nghi thức tắm trên Sông Hằng vào ngày chót trong 4 ngày được coi là lành nhất trong lễ hội kéo dài ba tháng qua. Thứ Tư là ngày chót trong bốn ngày lành tháng tốt cho nghi thức nhúng mình dưới nước dòng sông được các tín đồ Hin-đu coi là linh thiêng này.
Những người dân tộc Hindu, dân tộc chiếm đa số trong dân số Ấn Độ, xem sông Hằng là một dòng sông thiêng: Ganga là con gái của thần núi Himavan hay Himalaya. Theo tín ngưỡng Hindu, tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành và nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu của họ rải lên dòng sông. Người theo Ấn Độ Giáo tin rằng tắm tại Sông Hằng sẽ rửa sạch tội lỗi của họ và giải phóng họ khỏi vòng luân hồi.
Sau khi trầm mình trong dòng nước được cho là linh thiêng của sông Hằng, nhiều người hành hương đạo Hindu sẽ lấy nước cho vào bình hoặc chai lọ để mang về cho người thân hoặc bạn bè, những người vì lí do gì đó không thể tham gia sự kiện tôn giáo này. Một số người còn tưới nước trên quần áo. Khoảng 1 triệu người đã tham dự lễ tắm sông Hằng trong hai ngày đầu tiên của lễ hội Kumbh Mela. Ước tính đến khi kết thúc lễ hội sẽ có đến hàng chục triệu người tham gia sự kiện này.Điểm nổi bật chính cho hầu hết các khách hành hương trong một Mela Kumbha là việc chấp hành tắm thiêng liêng tại Sangam. Người ta nói rằng tắm một trong những con sông thiêng liêng đã thanh lọc thì hiệu ứng được tăng lên 100 lần. Hơn nữa, người ta nói rằng khi một người tắm ở Sangam trong Mela Kumbha thì sẽ tăng tới 1000 lần
Có đến hàng triệu người. Một số đến trên các chuyến tàu đông đúc thực hiện công suất gấp năm lần ngày bình thường. Một số đến bằng xe buýt, bằng xe hơi, một số xe bò, và những người khác cưỡi trên ngựa, lạc đà, và thậm chí cả voi. Các máy bay điều lệ tư nhân giàu có, nổi tiếng và máy bay trực thăng mang theo các thiết bị cắm trại. Sau khi tới họ dựng trại dọc trên bờ sông Hằng ở Allahabad để chào mừng lễ hội tâm linh lớn nhất từng được tổ chức trong lịch sử của thế giới, Kumbha Mela. Kumbha Mela đã đạt được danh tiếng quốc tế là "hành động lớn nhất thế giới của đức tin." Khách hành hương đến thánh sự kiện này với niềm tin to lớn và với số lượng áp đảo. Đức tin là điều quan trọng nhất cho những người hành hương tại Kumbha Mela, họ có một niềm tin nào đó rất cao siêu. Để hiểu ý nghĩa của Mela Kumbha và các vai trò quan trọng là nó đóng vai trò trong tâm linh của Ấn Độ, thì chúng ta phải hiểu biết điều gì đó về sông Hằng thiêng liêng. Người mộ đạo tin rằng chỉ đơn giản bằng cách tắm ở sông Hằng là một trong những giải thoát khỏi tội lỗi quá khứ của họ (karma), và do đó hội đủ điều kiện để được giải thoát khỏi vòng sanh tử. Tất nhiên người ta nói rằng một lối sống tinh khiết cũng được yêu cầu sau khi tắm rửa, nếu không một lần nữa sẽ bị gánh nặng bởi nghiệp ứng. Các khách hành hương đến từ tất cả các tầng lớp xã hội, đi du lịch xa và chịu đựng nhiều khó chịu về thể chất, chẳng hạn như ngủ trong trong thời tiết gần như đóng băng. Họ trải qua những khó khăn này chỉ để nhận được lợi ích của tắm trong dòng sông thiêng liêng tại Kumbha Mela..
Lễ hội Kumbha Mela đã được tổ chức từ rất lâu và càng ngày số người tham dự lễ hội ngày càng đông. Năm 1977, số lượng khách hành hương tham dự Kumbha Mela lên đến 15 triệu.  Đến năm 1989, sự tham gia trong phạm vi của 29 triệu người, gần gấp đôi kỷ lục trước đó... Năm 2001, Kumbh Mela được tổ chức ở Prayag, aka Allahabad. Chính phủ Ấn Độ ước tính rằng khoảng 70 triệu người đến lễ hội này ở phía bắc Ấn Độ để tắm trong sông Hằng linh thiêng, nơi nó đáp ứng với cũng thánh sông Yamuna. Tắm ở vùng nước thánh tại thời điểm này tốt lành để rửa sạch nghiệp của bạn nợ. Vì vậy, nó có nghĩa là một phím tắt cho tinh thần giải phóng (moksha), giải thoát khỏi vòng sanh tử.. Tín đồ đã tụ tập trên bờ của sông Godavari snaan maha hoặc tắm thánh. Hơn 30.000 khách hành hương đã được tổ chức lại bởi các rào chắn trong một đường phố hẹp dẫn đến Ramkund , một điểm thánh, vì vậy các sadhus có thể tắm đầu tiên nghi lễ. Năm 2007 hơn 30 triệu người truy cập Ardh ​​Kumbh Mela ở Prayag . Năm 2010 Haridwar tổ chức Purna Kumbha mela từ Makar Sankranti (14 tháng 1 năm 2010) Shakh Purnima SNaN (28 Tháng 4, 2010). Hàng triệu người hành hương Hindu dự mela. Ngày 14 tháng 4 năm 2010, khoảng 10 triệu người tắm trong sông Hằng. Theo các quan chức vào giữa tháng Tư, khoảng 40 triệu người đã tắm kể từ 14 Tháng Một 2010. Hàng trăm người nước ngoài tham gia hành hương Ấn Độ trong lễ hội được cho là tập hợp tôn giáo lớn nhất trên thế giới.
Như một thành phố mọc lên dọc theo bờ sông trong Mela Kumbha được hoàn thành với thị trường, bệnh viện, và thậm chí cả một trại du lịch phục vụ du khách đến từ nước ngoài. Trại du lịch đã che chở hơn 1.000 du khách từ nước ngoài trong các lễ hội, nhất là từ châu Âu và Nam Mỹ. Một số các du khách đến từ nước ngoài chưa bao giờ đến Ấn Độ. Những người khác dường như cũng quen thuộc với những gì đã xảy ra ở Ấn Độ. Tất cả các nhu cầu cho sinh hoạt của các du khách nước ngoài cũng như người bản địa đều được chính quyền chu cấp khá đầy đủ để phục vụ cho lễ hội. Năm 2010 chính phủ Ấn Độ đã dành hơn 8 triệu đô la về tổ chức sơ bộ cho Mela Kumbha. Theo báo cáo của tờ báo quốc gia, các thỏa thuận cung cấp 5.000 lít nước tinh khiết uống mỗi phút, 8.000 xe buýt đưa đón khách hành hương trong và ngoài của khu vực lễ hội, có tới 16.000 cửa hàng và 6.000 cực cung cấp thiết bị điện; 6.000 xe quét và vệ sinh nhân viên làm việc trên để duy trì các tiêu chuẩn về sức khỏe, 9 cây cầu phao kéo dài sông Hằng khoảng 20.000 cảnh sát, lính cứu hỏa, và Lực lượng Cảnh sát Ấn Độ quốc gia, người giữ một buổi cầu nguyện liên tục tại các điểm kiểm tra và đóng mạch TV bảo vệ chống lại tắc nghẽn giao thông và khác có thể bùng phát hoặc rối loạn, và 100 bác sĩ và y tá gọi tất cả các lần tại các trạm hỗ trợ y tế.
Về vấn đề giải trí cho mọi người thì trong một số lều trại lớn chiếu  phim Ấn Độ và các nhóm múa cổ điển có trang phục kỳ lạ biểu diễn thu hút khán giả lớn. Trong một số lều trại  khác có màn hình xây dựng minh họa những câu chuyện từ sử thi Ấn Độ cổ đại như Ramayana và Mahabharata. Có rất nhiều hoạt động thú vị mà khách hành hương có thể tham dự.

Về các dụng cụ sinh hoạt cho khách hành hương thì tại các khu vực thị trường tất cả những nhu cầu cần thiết và xa xỉ của Kumbha Mela để bán. Trong một nơi trái cây và rau quả tươi đã có sẵn. Ở một nơi khác, chăn len, bán rất chạy, được chất đống trong stacks lớn dễ dàng lựa chọn. Dọc theo các đường phố chính Gypsies lây lan sản phẩm của họ bao gồm cả hình dạng và kích cỡ khác nhau của nồi đồng, bát, hạt cho thiền định, nước hoa kỳ lạ hương như kastori  và Chandan  và thậm chí cả con hổ có móng vuốt bằng vàng.
Về thực phẩm trong mùa lễ thì có một điều cũng khá thú vị là tất cả thực phẩm trong suốt lễ hội ăn chay. Không có một dấu vết nào là đồ mặn như cá hoặc trứng được tìm thấy trong trại nào hoặc bất kỳ nơi ăn uống công cộng nào.
Nhiều thầy bói thần bí thiết lập cửa hàng dọc theo sông Hằng cung cấp cho người qua đường một cái nhìn vào tương lai. Chiêm tinh học và thuật xem tay là khoa học truyền thống ở Ấn Độ, nhưng nhiều người lợi dụng sự cả tin của công chúng để kiếm tiền nhất là nhân dịp lễ hội lớn như thế này.

Về phương tiện vận chuyển trong suốt lễ hội thì lạc đà được sử nhiều nhất vì trong cát mềm, xe hơi, xe tải, và thậm chí cả xe ngựa cũng dễ bị mắc kẹt vì vậy lạc đà, một con thú khỏe mạnh của gánh nặng, được sử dụng ở Ấn Độ nhiều thế kỷ để vận chuyển hàng hóa khoảng cách dài và thông qua các địa hình khó khăn, là người anh hùng thầm lặng của Kumbha Mela  vì tất cả các đồ vật, củi, lều bạt, thực phẩm đều phải sử dụng đến lạc đà. ( http://nguyenhuepy.blogspot.com/ ).
Xin theo dõi tiếp bài 11. dienbatn giới thiệu.

Xem chi tiết…

CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO. BÀI 9.

4/29/2015 |
CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.
Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên  dienbatn đăng tiếp loạt bài  CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
6/Thần Indra. 

  Thủ lĩnh các vị thần trong hệ thống Hindu là Indra –Thần Mưa, Hán gọi là Đế Thích. Cần nhớ rõ Indra chỉ là thủ lĩnh của các Deva (bán thần) chỉ cai trị cung Trời (Svargaloka- heaven); thấp hơn God (Thần), và ba vị thần tối cao Trinity là các God cai trị cả vũ trụ: Shiva, Vishnu và Brahman.
Thần Indra là một vị thần sấm sét.Là một trong nhưng vị thần tối cao của đạo Hindu (Ấn Độ).Theo truyền thuyết thần này là con của thần Trời và thần Đất.Sau khi được sinh ra nhờ uống được thứ rượu thần là Soma thần bổng dưng cao lớn và có sức mạnh khủng khiếp làm cho cha mẹ mình quá sợ nên bỏ chạy mãi chạy mãi nhưng lại chạy theo 2 hướng khác nhau nên Trơi và Đất mới cách xa nhau như ngày hôm nay.Còn khoảng không gian to lớn thì lại thuộc quyền cai quản của thần Indra.Thần Inrdra ngoài ra còn được xem như là một vị thần chiến tranh.Những người chiến binh thời xưa rất tôn thờ vị thần này. Theo mô tả đây là một vị thần được xem là Vua các vi thần.Thần có một ngàn con mắt(do bị trúng lời nguyền của đạo sĩ Gotama).Thần xuất hiện với con vật cuõi là bạch tượng (1 con voi trắng),binh khì của thần là Kim cương chữ. (Indra), thần Mặt Trời trong tôn giáo Vêđa (Ph. Védisme) nguyên thuỷ của Ấn Độ. Trong Kinh Rigvêda (Rigveda), Inđra đã được coi là "vị thần của các thần", tượng trưng cho thần Sấm sét, thần Chiến tranh. Trong thần thoại, Inđra có sức khoẻ phi thường, đã lập được nhiều chiến công, nổi tiếng nhất là việc giết con rồng hạn hán Vitra, đem lại nguồn nước cho hạ giới. Biểu tượng hình người của Inđra trong mĩ thuật là vị thần có nước da đỏ rực, nhiều cánh tay dài, mang lưỡi tầm sét, cưỡi voi trắng, trấn ở phương Đông. Khi đạo Hinđu (Hindu) ra đời, vai trò của Inđra đã dần dần bị lu mờ, nhường chỗ cho tam vị Brahma (Brahmã), Visnu (Vishnu) và Siva (Shiva).

" Trong sử thi Ấn độ Ramayana viết về chuyện nàng Ahalia như sau :
Có một lần, đức Brahma đã tạo ra một người đàn bà và đặt tên cho nàng là Ahalia (có nghĩa là đẹp tuyệt vời). Thần Indra vốn là vị thần cao cả nhất trong các thần, say mê vẻ đẹp của nàng và chỉ đinh ninh rằng chỉ có mình là người xứng đáng được lấy nàng làm vợ mà thôi. Ðức Brahma biết được tham vọng và thói kiêu căng của Indra, đã bỏ qua không nhắc đến ông ta, mà tìm đạo sĩ Gôtama, giao phó cô gái cho Người. Cô lớn lên trong sự chăm sóc của Người và khi đã đến lúc thì đạo sĩ đem trả cô ta cho đức Brahma và xin đức sáng thế cho phép cưới nàng luôn.
Ðức Brahma đánh giá cao tấm lòng tinh khiết và tư tưởng trong sáng của vị đạo sĩ (đầu óc của người chưa một lần gợn những ý nghĩ tầm thường về xác thịt) và phán : “Con hãy lấy nó đi vì nó xứng đáng là vợ của con …. ”
Họ đã sống hạnh phúc bên nhau!
Thần Indra vẫn không chịu từ bỏ ảo vọng xấu xa đối với Ahalia và đã thường tới gần lều cỏ của đạo sĩ Gôtama dưới nhiều lốt hóa thân khác nhau, đợi có dịp là ngắm nhìn và thưởng thức vẻ đẹp của khuôn mặt và dáng hình Ahalia; thần cũng theo dõi thói quen của đạo sĩ và biết hàng ngày đạo sĩ thường rời lều vào lúc bình minh đi ra sông để tắm và để cầu kinh khoảng hai tiếng đồng hồ. Không thể chịu nỗi một mối tình hờ hững như thế này nữa, Indra quyết định dùng mưu mô lừa bịp để chiếm trái tim nàng.
Một hôm, khó lòng đợi cho đến giờ đạo sĩ ra đi theo thường lệ, thần đã giả tiếng gáy của con gà trống đánh thức đạo sĩ dậy. Vị đạo sĩ tưởng trời đã sáng nên đi ra sông. Bấy giờ, Indra mới đội lốt đạo sĩ chui vào lều và làm tình với Ahalia. Nàng thuận tình, nhưng chẳng mấy chốc đã nhận ra kẻ đang hưởng thụ với mình là một tên lừa bịp, nhưng nàng không thể làm gì được nữa rồi. Ngay lúc đó, đạo sĩ quay về, trong lòng tự nhiên cảm thấy có điều gì đó không hay và bắt gặp cả hai trên giường. Ahalia đứng sang một bên, vừa xấu hổ vừa hối hận. Indra vội biến thành con mèo (là con vật dễ nhập vào và dễ thoát ra nhất), tìm cách chuồn đi. Ðạo sĩ hết nhìn con mèo đến nhìn người đàn bà và không hề thất vọng.
Ông chận con mèo lại và nói :“Này mèo, ta biết ngươi rồi, tính đam mê đến ám ảnh đối với giống cái là tai họa của ngươi. Như vậy sẽ có hằng nghìn dấu vết của giống cái phủ lên thân thể ngươi để cho mọi người trên khắp cõi trần có thể hiểu được đầu óc ngươi luôn luôn có gì đang thực sự diễn ra trong đó”.
Những lời này vừa thoát ra khỏi môi đạo sĩ thì lập tức hàng nghìn bộ phận sinh dục của người phụ nữ hiện lên trên khắp thân thể của Indra. Thật không có gì xấu hổ nhục nhã hơn nữa đối với tên Indra kiêu căng và hay làm dáng này.

Sau khi Indra rút lui, trở về thế giới của hắn, đạo sĩ nhìn vợ và nói : “Thân thể của nàng đã phạm vào tội lỗi. Hãy để cho cái thân thể đó cứng lại thành một tảng đá không có hình thù rõ ràng, ngay ở nơi nàng…”.
Tình cảnh của Indra lúc đầu đã trở thành một trò chơi trong cõi trần này, nhưng về sau thì thấy rõ là bi thảm quá. Hắn luôn ở trong bóng tối và chui rúc trong các xó xỉnh, không bao giờ dám ra trước mặt người khác cả đàn ông lẫn đàn bà. Ðiều đó đã làm động lòng các vị thần, hơn nữa, những nhiệm vụ trăm hình nghìn vẻ trong thế giới khác nhau đều phải ngưng lại, nên họ đã kéo một đoàn đến gặp đức Brahma, xin  Người can thiệp giúp với Gôtama.

Bấy giờ, nỗi bực dọc trong lòng đạo sĩ cũng đã nguôi rồi và đạo sĩ đã đáp lại lời kêu gọi của đức Brahma: “Cho một nghìn thứ cộng thêm vào dáng dấp của Indra đều trở thành mắt cả”. Về sau do đó mà Indra đã trở thành “vị thần nghìn mắt”.
" Một trong hai sử thi vĩ đại nhất của Ấn là Ramayana, trong sử thi này nhân vật phản diện chính là Quỷ Vương Ravana. Đây là con quỷ có mười đầu, không việc ác nào mà không làm kể cả hãm hiếp cả con dâu của hắn là Rambha. Rambha, sau khi bị làm nhục, đã rủa Ravana rằng: “Nếu ông còn xâm phạm tới bất kỳ một phụ nữ nào mà không được cô ta ưng thuận, toàn bộ mười cái đầu của ông sẽ nổ tung ngay lập tức.
Thần Indra vốn là vị thần cao cả nhất trong các thần, một nhân vật khôn ngoan chỉ sau đức Brahma chỉ vì nỗi đam mệ nhục dục mà thân bại danh liệt."

Cái triết lý lời nguyền của đạo sĩ Gôtama rằng "…. sẽ có hằng nghìn dấu vết của giống cái phủ lên thân thể ngươi để cho mọi người trên khắp cõi trần có thể hiểu được đầu óc ngươi luôn luôn nghĩ đến …. " và sau đó là "…cho một nghìn thứ cộng thêm vào dáng dấp của Indra đều trở thành mắt cả " cũng cho chúng ta thấy có sự bàn bạc đan kết nhau giữa nỗi đam mê nhục dục và khôn ngoan sáng tạo, đó là bản chất thực của con người, vấn đề ở đây là kiềm chế được cái bản năng đó hay không mà thôi.
Quan hệ tình dục là một nhu cầu bình thướng ở trong một tình trạng bình thường và có sự ưng thuận của người nam nữ như Gôtama và Ahalia.
Bản năng tính dục tự nó không phải là một đòi hỏi bắt con người phải thực hiện cho bằng được. Nó không phải là một nhu cầu khẩn cấp, đó là một vấn đề tâm lý mà cảm xúc và chúng ta có thể chế ngự được bằng sức mạnh tinh thần.
Giao hợp là cách duy nhất để biểu hiện những cảm xúc và khả năng tình dục, nó chỉ trọn vẹn hoàn hảo, đầy dủ và hạnh phúc nếu được thực hiện trong một tình trạng chín muồi vềphương diện cá nhân và xã hội và là sự ưng thuận của cả hai phía. Nàng Ahalia là nạn nhân của việc cưỡng dâm.
Giao hợp chưa chắc là cách chứng tỏ tình yêu, có thể biểu lộ tình cảm bằng cách khác.
Sự kiềm chế giúp con người có cơ hội thăm dò những phương thức sáng tạo trong việc bày tỏ tình cảm và khả năng tình dục của mình.
Sự kiềm chế còn có nghĩa là đợi để chọn một người thời gian và nơi chốn thích hợp cho quan hệ tình dục, sư lựa chọn có thể thực hiện bất cứ lúc nào, nó có thể là sự lựa chọn lâu dài cả một đời người hoc cho đến một thời điểm thích hơp cho việc quan hệ tình dục.
Sự kiềm chế không có nghĩa là mình không còn là người đam mê nhục dục hoặc gợi dục.
Sự kiềm chế không chỉ là đơn giản từ chối hay đợi đến khi kết hôn hay còn quá trẻ để quan hệ tình dục.
Tuổi mới lớn, thời gian trưởng thành thời kỳ mà sự tăng trưởng thân xác về mặt sinh dục đã hoàn chỉnh đó là thời kỳ mà những đòi hỏi tình dục rất mạnh, cho nên sự kiềm chế bản năng tình dục cần phải được giáo dục, lưu ý, tránh những quan hệ bừa bãi, tật thủ dâm ….
Những cảm xúc và khát vọng tình dục trong chúng ta ai cũng có, nhưng việc Indra làm đã đưa lại những hậu quả khó lường và thảm khốc một ô nhục suốt đời chỉ vì vị Thần thông minh một ngàn mắt này chưa học được cách kiềm chế bản năng tình dục." -BS HỒ ÐẮC DUY.
" Đế Thích Thiên là vị thần đứng đầu chư thiên của một trong các tầng trời, gọi là trời Đế Thiên (hay Đao Lợi/Tavatimsa/S:Traiyastrimsas). Kinh thành Amaravati tráng lệ của Đế Thích thuộc tầng trời này, tọa lạc trên núi Meru -  ngọn núi trung tâm theo vũ trụ luận Hindu Ấn Độ. Đế Thích Thiên gốc là thần Sakra thời Vệ Đà và là thần Indra trong Ấn giáo .
Sau đó, theo sự lan tỏa của văn hóa Hindu và Phật giáo, Indra được thờ tự ở nhiều cộng đồng thuộc các quốc gia châu Á với những tôn danh khác nhau: Thagyanin (Miến Điện), Phra In (Thái Lan), Preah Intraa (Tamil), Đế Thích Thiên (Trung Quốc), Taishakuten (Nhật Bản)… Ở xứ ta, Đế Thích Thiên - thường gọi tắt là Đế Thích - được thờ tự ở một số tự quán ở miền Bắc và xuất hiện trong truyện cổ tích như một kỳ thủ vô địch…
Đế Thích Thiên Indra trong tín niệm Hindu.
Indra, Ấn Độ.
Indra là người chỉ huy/thủ lĩnh của các chư thiên (Devas) hay các á thần. Thần ngự ở kinh thành Amaravati lộng lẫy và vị chúa tể của cõi trời Svargaloka, thiên đường của Hindu giáo. Indra là vị thần của mưa bão và sấm sét. Là một người chiến binh vĩ đại, một biểu tượng của sự can đảm và sức mạnh, thần dẫn dắt các Deva (chư thiên) và các nhiên thần như Agni (lửa), Varuna (nước) và Surya (mặt trời); đồng thời thần luôn lãnh đạo các cuộc chiến chống lại những kẻ đối lập với các thần, những yêu ma như asura. Bên cạnh việc là một vị thần chiến tranh, thần cũng được đề cập như là người bảo hộ phương hướng, biểu trưng cho phương đông. 
Trong Rig-Veda, thần được gọi là Sakra, chiếm vị trí thứ nhất trong hàng ngũ 33 vị thần. Indra là một vị thần “quốc gia” của người dân Ấn Độ thời Veda và có đến 250 bài tụng ca dành riêng cho thần được ghi chép trong Rigveda .
1- Mối liên hệ với những vị thần khác.
Thần Indra là vị thần tối cao, người anh em sinh đôi của thần Agni. Và thần cũng được đề cập như là một Aditya, người con trai của Aditi. Thần cư ngụ trên núi Meru nơi cõi trời. Dữ liệu khác lại cho rằng thần Indra là người anh em với Surya.
Thần được tôn vinh như là đấng tạo hóa, người nâng bầu trời, như một vị thần của khí quyển, chi phối thời tiết và phân phối mưa. Một truyện thần thoại cho rằng thần đã tìm kiếm và giải thoát cho những con bò cái (được nhận biết với Ushas-bình minh/rạng đông), chúng đã bị trộm bởi một Asura có tên là Pani/Panis, bằng cách phá tan hang động Vala, bị chắn bởi một hòn đá. Asura Pani/Panis đã bị chính thần giết chết, do đó mà thần còn có tên gọi khác là Vala-bhid . 
Và Indra cũng đã giết chết Vritra hay Ahi để giải thoát cho những dòng sông, thần tung ra những tia chớp, sấm sét, và liên tiếp chiến đấu với nó, con quỷ của hạn hán và thời tiết khắc nghiệt, để buộc nó phải trút mưa xuống. Nhưng khi thần giết chết con quỷ Vritra - một Bà La Môn, Indra đã cố che đậy điều này và tiến hành các cuộc cúng tế cho đến khi tội lỗi được gột sạch. Bhagavata Purana biểu thị thần như kẻ đã phạm tội giết một vị Bà-la-môn, bị ám ảnh bởi tội ác đó, nhân cách hóa là Chandali.
Câu chuyện này được kể chi tiết trong thần thoại tiền Veda như sau: Vritra, một asura, đã đánh cắp nước trên toàn thế giới và Indra đã uống rất nhiều rượu Soma để “lấy sức” chuẩn bị chiến đấu với con rắn khổng lồ này. Thần đã vượt qua 99 pháo đài của Vritra, … vặn con rắn yêu quái và mang nước trở lại trái đất. Trong một dị bản khác, Vritra được Tvastar tạo nên để trả thù thần Indra vì tội đã giết chết người con trai của mình là Trisiras, một người Bà La Môn sùng đạo và càng ngày càng sở đắc được nhiều quyền năng khiến cho thần Indra rất lo lắng. Vritra đã chiến thắng và nuốt lấy Indra, nhưng những vị thần khác đã buộc nó phải nôn thần Indra ra. 
Indra (vua của các vị thần) cưỡi 3 đầu voi Airavata của mình .
Cuộc chiến tiếp diễn và thần Indra đã biến đi mất. Thần Vishnu và các Rishis đã thỏa thuận tạm ngừng chiến, và Indra đã thề rằng thần sẽ không tấn công Vritra với bất cứ cái gì được làm bằng kim loại, gỗ, đá, cũng như bất cứ cái gì khô hay ướt, cả ban ngày lẫn ban đêm. Cuối cùng, Indra đã sử dụng bọt từ sóng nước đại dương để giết Vritra vào lúc chạng vạng.
Dị bản khác, được thuật lại trong Mahabharata thì Vritra là một người Bà-la-môn nắm giữ quyền năng siêu nhiên, trở nên đểu giả và là mối nguy hiểm cho các vị thần. Indra can thiệp và đã xoay/vặn hắn sau một cuộc chiến đầy cam go. Một nữ thần yêu ma xấu xa tên là Brahmannahatya (hiện thân tội lỗi của kẻ giết người Bà La Môn) lưu xuất từ xác chết của Vritra, đã truy kích Indra, khiến thần phải lẩn trốn trong một hoa sen. Indra đã đến cầu xin thần Brahma tha thứ cho tội lỗi giết người Bà La Môn.
Thần cũng thường được biểu trưng như là sự hủy diệt “những pháo đài đá bảo vệ thành đô” của các Asura hay những yêu ma của khí quyển và của Dasyus hoặc những người Ấn bản địa. Trong chiến tranh, thần đôi khi được những đội quân Maruts hộ tống, cùng sự tham dự của người bạn - thần Vishnu. Thần được chăm sóc và phục vụ bởi các Maruts (và Vasus), những đứa con của Diti (người mẹ của những yêu ma). 
Thần Indra đã giết chết những đứa con độc ác của Diti trước, vì vậy Diti luôn ước mong các con trai của mình sẽ hùng mạnh hơn Indra, do đó Diti đã mang thai trong một thế kỷ, thực hành ma thuật để hỗ trợ cho những đứa con đang được hình thành trong bào thai. Khi thần Indra phát hiện ra điều này, thần đã ném lưỡi tầm sét vào Diti và làm bào thai vỡ ra làm 7 hay 49 phần; mỗi phần tái sinh thành một cá thể hoàn chỉnh, và phát triển thành những Maruts, một nhóm các vị thần giông tố, kẻ có sức mạnh thua kém hơn Indra. Câu chuyện này và câu chuyện thần đã cắt đứt đôi cánh của những ngọn núi bằng tia sét của mình do tội bất trị và gây rối của chúng được ghi lại trong các tập cổ tích thần kỳ Puranas.
Ngoài ra, thần đã hứng chịu sự phẫn nộ của nhà hiền triết nóng tính Dur-vasas bởi thần đã khinh thường chiếc vòng hoa mà nhà hiền triết trao tặng và bị nguyền rủa là toàn bộ quyền lực thống trị của thần sẽ bị chế ngự và tiêu tan. Thần đã bị những Daityas đánh bại hoàn toàn. Đúng hơn là thần bị những liên minh giữa người con trai của Ayus và cháu trai của Pururavas đánh bại: thần bị yếu đi trong một tình cảnh đáng thương khi bị buộc phải khẩn cầu ít bơ hiến tế trong một trăm cuộc tế lễ của các vị thần. Vui mừng bởi sự chiến thắng, những kẻ chinh phục đã xao lãng nhiệm vụ của mình và vì vậy họ dễ dàng trở thành con mồi cho thần Indra khi thần đã lấy lại quyền lực của mình .
Indra
Rig-Veda thường ám chỉ thần là Sakra: một người hùng mạnh. Trong thời kỳ Veda, số lượng các vị thần được xác định là 33 và thần Indra là vị chúa tể của họ. (Một vài văn bản sớm tiền Rigveda như Khilas và Veda và sau đó là Brihad-Aranyaka Upanishad liệt kê các vị thần là 8 Vasus, 11 Rudras, 12 Adityas, Indra và Prajapaty). Do là vị chúa tể của Vasus, Indra cũng được gọi là Vasava.
Trong thời Vedanta, Indra trở thành nguyên mẫu của tất cả các chúa tể và là một vị vua được gọi là Manavendra (Indra hay chúa tể của loài người) và Rama, người anh hùng của sử thi Ramayana, được biểu thị như là Raghavendra (Indra của thị tộc Raghu). Do đó nguồn gốc của Indra cũng được thể hiện như Devendra (Indra của chư thiên/Devas). Tuy nhiên, Sakra và Vasava cũng được dùng riêng cho nguồn gốc Indra. Dù cho những văn bản ngày nay thường tán thành tên gọi Indra, các văn bản truyền thống Hindu (Veda, sử thi và chuyện cổ tích thần kỳ Ấn Độ) sử dụng Indra, Sakra và Vasava thay thế cho nhau và thường coi các tôn danh ấy là một.
Số lượng các bài tụng ca đã đề cập đến thần Indra nhiều hơn hẳn những vị thần khác của Veda, ngoại trừ thần Agni. Thần được sùng kính bởi đặc tính ban phúc như làm mưa, nguyên do của sự phì nhiêu, và thần được kính sợ vì là người tạo ra những trận bão khủng khiếp và chi phối sấm sét. 
Nhiều đoạn của Rig-veda cho thấy chức năng và thuộc tính thần thánh cao nhất được gán cho thần. Bộ ba các vị thần - Agni, Vayu và Surya - giữ địa vị cao trong các vị thần và thần Indra thường nắm giữ vị trí của thần Gió Vayu. Trong các tập cổ tích thần kỳ Ấn Độ (Purana) và một vài phần của Veda, như những nhận xét của Dr. Muir, ý niệm về thần Indra được thể hiện là rất vĩ đại và cao quý - thần Indra được ban cho tính chất anh hùng, phần lớn thường có đặc điểm ngang tàng, đa tình; tại một vài lần khác, thần cư xử suồng sã, và các chi tiết dông dài kể về việc Indra nghiện rượu soma đã không chỉ hạ thấp địa vị vốn có của thần mà còn gây ra những khoái lạc nhục dục rất dung tục. 
Thậm chí danh tiếng và vai trò của thần không được thừa nhận trong Hindu giáo vào thời kỳ sau với sự nổi lên của tam vị nhất thể (Trimurti).Trong những thần thoại sau này, thần Indra rơi xuống hàng thứ hai. Thần là thuộc cấp của bộ ba tam vị nhất thể, nhưng lại là thủ lãnh của tất cả các thần.
2- Mối quan hệ gia đình .
Thần Indra có một người vợ tên là Indrani được viện dẫn trong số các nữ thần. Trong Satapatha Brahmana, Indrani được coi là người vợ yêu quý của thần Indra và cũng là mẹ của Jayanta và Jayanti. Cô còn được gọi là Sachi/Shachi. Indrani được đề cập một vài lần trong Rig-veda, và được cho rằng là người phụ nữ may mắn nhất “vì người chồng sẽ không bao giờ chết vì tuổi già”. Trong Taittiriya Brahmana kể rằng thần Indra đã chọn người vợ cho mình từ cuộc cạnh tranh giữa các nữ thần, và Indrani đã vượt lên trên tất cả nhờ sự khiêu gợi của mình. Trong sử thi Ramayana và tập truyện cổ tích thần kỳ Puranas, Indrani là con gái của Daitya Puloman và cô được đặt tên theo cha mình là Paulomi/Pulomaja. Indrani bị thần Indra cưỡng đoạt, thần đã giết cha cô để giải thoát khỏi lời nguyền. Theo sử thi Mahabharata, nhà vua Nahusha đã trở nên phải lòng Indrani, và cô đã rất khó khăn để thoát khỏi hắn. Indrani không bao giờ nhận được sự tôn kính như một nữ thần.
Ngoài ra thần Indra còn là cha của Arjuna (với Kunti), Jayanta, Midhusa, Nilambara, Khamla, Ribhus, Rsabha. Thần cũng được cho là cha của Devasena (vợ của thần chiến tranh Skanda/Kartikeya; sau Skanda trở thành Hộ pháp Vi Đà của Phật giáo).
3- Trú xứ
Thần sống ở cõi trời Svarga/Swarga trong những đám mây xung quanh núi Meru, thủ phủ là Amaravati: cung điện của thần “Vaijayanta” và các khu vườn của thần là Nandana, Kandasara hay Parushya. Những chiến binh thường được ngự ở cung điện của thần sau khi chết, nơi đó họ sống cuộc đời hoan lạc, không hề mảy may gặp phải việc buồn bã, đau đớn hay sợ hãi. Họ có thể nhìn ngắm những vũ nữ Apsara và nhạc công thiên đình Gandharva nhảy múa và vui đùa. Các nhiên thần, những nhà hiền triết cõi trời, những vị vua vĩ đại và các chiến binh đều trú ngụ nơi cung điện của thần.
4- Hình tướng
Thần thường được miêu tả với một màu hung đỏ hay vàng kim và có cánh tay dài khổng lồ; “nhưng hình thức là bất tận, và thần có thể mang rất nhiều hình dáng”. Một thể thơ trong Atharva Vedic cho thấy “Indra có thể thay đổi nhanh chóng trong tất cả các hình thức của sắc vàng kim” . Thần cưỡi trên cỗ xe bằng vàng sáng chói được kéo bởi đôi ngựa hung hay hung đỏ với chiếc bờm và lông đuôi mềm mượt. Trong RV 1.65, “Sakra, người thanh lọc (của tín đồ), và có tài sử dụng ngựa, là một người phi thường và có thân thể sắc vàng kim”. Rigveda cũng cho rằng Indra “nhảy múa cùng các vị thần, mặc quần áo thơm, má vàng kim cưỡi trên cỗ xe bằng vàng” . Một đoạn văn nói rằng thần mang màu nâu và vàng . “Thần với mớ tóc xù, sạch tinh tươm, có sắc nâu và vàng kim, được yêu quý bởi tất thảy, người đặc biệt thích rượu soma hơn tất cả các thần linh”. 
Taishakuten, Nhật Bản .
Đế Thích Thiên, chùa Vua hay Đế Thích Quán, Hà Nội.
Vào thời kỳ tiền Veda, thần cưỡi trên con voi trắng, lớn, có 4 ngà được gọi là Airavata (con voi trắng có bốn ngà, bảy vòi). Thần có 4 tay, hai tay cầm giáo/thương và hai tay cầm móc nhọn để thúc voi. Cũng có lúc thần cưỡi ngựa Uchchaihsravas/ Uchchaih-shravas (con ngựa bay bảy đầu, lông trắng) và cỗ xe của thần Vimana, người đánh xe Matali.
Vũ khí của thần là lưỡi tầm sét/vajra mang nơi tay phải, lưỡi tầm sét “Vajrayudha” được tin rằng được làm từ xương sống của nhà hiền triết Dadhichi để giết những asuras. Thần còn sử dụng tên, một chiếc móc lớn, và một cái lưới, nó được cho rằng sẽ mắc vào chân của kẻ thù. Trong thần thoại Hindu, cầu vồng Sakra-dhanus/Indradhanus được gọi là cây cung của thần Indra, và thanh gươm Paran-ja."
5- Soma
Soma là loại rượu thiêng, thức uống mà thần đặc biệt ưa thích; uống một hơi soma, bị kích thích bởi sự phấn khích, thần tiến về phía trước chiến đấu với kẻ thù và hoàn thành sứ mạng.
Việc yêu thích soma được thể hiện trong sử thi Maha-bharata. Truyện kể rằng thần bị nhà hiền triết Chyavana buộc phải chia sẻ rượu lễ soma cho Aswins và niềm khoái lạc của thần được phát triển thành tính cực kỳ dâm đãng.
Thần Indra đã dụ dỗ Ahalya, người vợ của Gautama Maharishi. Hiền triết Gautama đã thốt ra lời nguyền rủa trừng phạt Indra. Lời nguyền này đã khiến cho thần Indra mất đi sự mạnh mẽ của mình, còn vợ nhà hiền triết Ahalya cũng trở nên vô hình trong mắt mọi người. Còn theo Maha-bharata thì thần đã quyến rũ Ahalya và nhà hiền triết Gautama đã nguyền rủa bằng cách đóng dấu một ngàn bộ phận sinh dục của nữ giới trên người thần, vì vậy thần được gọi là Sa-yoni; nhưng về sau những con dấu này biến thành những con mắt, và do đó thần có tên gọi là Netra-yoni và Sahasraksha “một ngàn con mắt”.
Trong sử thi Ramayana, nó lại liên quan đến Ravana, vị vua của đám La sát Rakshasa ở Lanka (Sri Lanka), đã gây chiến chống lại thần Indra nơi cõi trời của thần. Thần Indra đã bị đánh bại và người con trai của Ravana là Megha-nada đã chiếm lại xứ Lanka. Nhờ hành động dũng cảm này mà Megha-nada có được danh hiệu Indra-jit, có nghĩa: “người đánh bại Indra”. Thần Brahma và các vị thần đã hòa giải nhằm giải thoát cho thần Indra bằng cách ban đặc ân bất diệt cho kẻ chiến thắng. Thần Brahma sau đó nói với thần Indra rằng thất bại này là sự trừng phạt tội đã quyến rũ Ahalya.
Đền thờ Indra.
Đặc tính phóng đãng của thần cũng được thể hiện bởi việc thần thường gửi những tiên nữ cõi trời đến quyến rũ các nam thần để làm họ xao lãng việc thiền định sám hối - một công phu tu tập khiến họ có thêm được những đặc ân to lớn có thể thách thức đối với quyền năng của thần .  ( Huỳnh Thanh Bình .).
Xin theo dõi tiếp bài 10. dienbatn giới thiệu.
Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *