THÀY BẢY SẬY - MỘT BÀN TAY VÀNG VÀ TẤM LÒNG KIM CƯƠNG.

1/22/2016 |

THÀY BẢY SẬY - MỘT BÀN TAY VÀNG VÀ TẤM LÒNG KIM CƯƠNG.


Thầy Nguyễn Văn Sậy tức Bảy Sậy, là một người có bàn tay vàng trong việc chữa trị các bệnh về Thần kinh, cột sống, thoát vị đĩa đệm, liệt, bán thân bất toại....Điều đặc biệt trong cách chữa của Thày là hầu như không sử dụng thuốc. Tất cả chỉ nhờ đôi bàn tay cứng như thép và ơn trên của Đức cha Trương Bửu Diệp mà chữa khỏi rất nhiều loại bệnh như phần trên đã trình bày. Riêng bản thân dienbatn ngày trước bị vỡ hai đĩa đệm L4 và L5 vô cùng khổ sở vì đau đớn, không thể đi đứng, nằm ngồi được. Sau khi MR tại bệnh viện Thống nhất - TP. HỒ CHÍ MINH, một người bạn là bác sĩ tại bệnh viện Chợ Rẫy đã nhất quyết bắt dienbatn phải mổ gấp. Chi phí cho ca mổ theo giá tiền hồi đó khoảng 50 triệu , chưa tính các khoản khác. Khi dienbatn hỏi người bạn bác sĩ đó về khả năng của ca mổ như thế nào , vị đó nói năm ăn - năm thua - Tức là tỷ lệ thành công 50/50 %. nếu thất bại sẽ bị liệt nữa người. Hoảng quá,vì kết quả như vậy , phần nữa lại không có đủ tiền cho ca mổ nên dienbatn chỉ còn biết thắp nhang khấn Tổ về cứu giúp. May nhờ ơn Tổ chỉ dẫn nên được biết Thày Bảy và được Thày chữa trị cho . Nhân đây, dienbatn cũng xin cảm ơn một người bạn vô danh nào đó trên diễn đàn Thegioivohinh.com đã chỉ điểm cho dienbatn biết được Thày Bảy.

Khi được người bạn vô danh đó chỉ điểm, dienbatn đã nhờ một người bạn lái xe, đưa dienbatn đến gặp Thày Bảy nhờ chữa trị. Từ TP.HỒ CHÍ MINH về nhà Thày Bảy tại Kiên Giang khoảng gần 300 km, dienbatn phải chịu đựng những cơn đau khủng khiếp mỗi khi xe vào ổ gà trên đường . Khi tới nhà Thày Bảy , là một ngôi nhà tranh tuềnh toàng , tường lợp bằng lá dừa nước trống hếch trống hoác, trong nhà không có vật dụng gì đáng giá ngoài 2 cái giường để người bệnh nằm khi chữa bệnh và cũng là nơi buổi tối Thày ngủ . Có một vài ban thờ Phât, thờ Thần và thờ cha Trương Bửu Diệp hết sức đơn sơ . Lúc dienbatn đến, hàng trăm từ khắp nơi đổ về người đứng người ngồi la liệt để chờ đến lươt. Thày Bảy lần lượt chữa cho từng người , không hề phân biệt kẻ giầu người nghèo và đặc biệt Thày không nhận của bất cứ ai một xu nào .
Đến lượt dienbatn , sau khi hỏi thăm tình hình bệnh và coi mấy tấm phi MR , Thày dùng đôi bàn tay của mình bấm vào một số Huyệt đạo của dienbatn, bàn tay Thày cứng như thép , bấm chính xác vào từng Huyệt đạo khiến cho các vị trí Huyệt đó tê dần . Qua cảm nhận của dienbatn , một luồng năng lượng vô cùng hùng hậu từ bàn tay của Thày ồ ạt truyền vào những Huyệt vị của dienbạtn . Sau khi bấm Huyệt xong, Thày dùng một mảnh dao cạo râu mới cắt lể và nặn máu bầm một số điểm ở chân và lưng của dienbatn . Không dùng đến một viên thuốc, sau 3 ngày điều trị, dienbatn đã tự mình lái xe về TP. HỒ CHÍ MINH được .
Từ đó bệnh của dienbatn hầu như khỏi hẳn , tự mình lái xe hàng mấy trăm ngàn km trên khắp mọi nẻo đường của Đất nước . Cứ khoảng 3 năm một lần, dienbatn lại về Kiên Giang một ngày để Thày Bảy bảo dưỡng lại cái lưng cho mình . Ngoài việc các đốt sống không còn bị đau nữa, nhờ Thày bấm huyệt mà đôi mắt đã bắt đầu mờ vì nhìn màn hình vi tính quá nhiều của dienbatn cũng đã sáng ra thấy rõ .
Hàng ngàn người mắc phải những căn bệnh hiểm nghèo về thần kinh, xương khớp, cột sống, đĩa đệm ...đã được Thày Bảy chữ khỏi mà không mất một xu nào tiền mua thuốc .
Rất nhiều những người bạn của dienbatn khi được dienbatn giới thiệu và nhờ Thày Bảy điều trị giúp mà đã thoát được bệnh tật hiểm nghèo không tốn một xu nào tiền thuốc.





Qua một số người, dienbatn biết được một số thông tin về Thày Bảy Sậy như sau : Từ nhỏ Thày đã theo Phật pháp và có một thời gian tu tại những ngôi chùa tại BÀ RỊA - VŨNG TÀU. Sau này về Kiên Giang lập gia đình và sống bằng nghề làm ruộng. Trong thời gian ở các chùa tu học, Thày đã được học căn bản về những kinh mạch, Huyệt đạo của con người. Nhưng nếu chỉ biết bấy nhiêu đó thì hàng ngàn vị Đông y sĩ còn giỏi hơn gấp bội . Sư nhiệm màu chỉ sảy ra khi trong một lần hành hương về thăm mộ cha Trương Bửu Diệp ở Cà Mau , Thày Bảy đã được phép màu của ơn trên gia hộ cho việc chữa bệnh. Đặc biệt tuy đức cha TRƯƠNG BỬU DIỆP là bên công giáo nhưng rất hay hiển linh phép lạ để giúp đỡ những người không thuộc công giáo. Thày Bảy sây là một trường hợp.
Thày Bảy ăn chay trường từ nhỏ, và sau nhiều năm làm việc quá vất vả, điều kiện sinh hoạt ăn uống hết sức khó khăn nên đến ngày hôm nay, Thày không ăn được các món nấu, xào bằng dầu thực vật , không ăn được nước tương, xì dầu mà chỉ ăn cơm với muối mè và lâu lâu có thêm rau hay đậu phụ luôc.
Cũng vì không nhận tiền của bá tánh nên Thày không thể lo cho cuộc sống của gia đình nên đã dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình . Trước đây , Thày có khoảng 7 sào ruộng chuyên để tự trồng lúa ăn, ban ngày chữa bệnh, tối đến lại ra ruộng làm lụa Có nhiều khi mệt quá Thày ngất xỉu ngoài ruông. Ngoài nuôi gia đình, Thày còn phải phụ nuôi mẹ già gần 90 tuổi ở căn bên cạnh. 
Năm nay , 7 sào ruộng của Thày đã chuyển cho con trai và Thày trở nên hoàn toàn vô sản .












Rất nhiều lần dienbatn ngồi nói chuyện với Thày, nói với Thày rằng : " Có ĐẠI HÙNG - ĐẠI LỰC mới có thể ĐẠI TỪ ĐẠI BI , có thực mới vực được Đạo . Thày nên có một cái thùng công đức , tùy tâm mà bệnh nhân tự bỏ vào đóng góp . Số tiền thu được chia làm 3 phần : một phần lo cuộc sống, một phần mua dụng cụ và hương hoa cúng Tổ, một phần dùng giúp đỡ những bệnh nhân nghèo đến chữa bệnh " . Rất nhiều lần như vậy mà đến giờ Thày vẫn không chịu làm . Hôm vừa rồi, dienbatn đến thăm Thày và nhờ Thày bảo dưỡng lại cái lưng , dienbatn thấy Thày phải đi mua từng lít gạo , đến cái chén uống nươc cũng không có . Đi nhiều nơi trên đất nước này , gặp rất nhiều vị Thày , nhưng chưa có ai làm cho dienbatn khâm phục và thượng cảm đến thế . Thày là người có đôi bàn tay vàng và một tấm lòng kim cương, luôn sống vì bá tánh . Các bạn đến chữa bệnh nên tìm cách tế nhị giúp đỡ Thày , mặc dù cho đến giờ dienbatn cũng chưa biết phải làm như thế nào .
Tuy nhiên khi đến chữa bệnh , các bạn cũng nên cảnh giác với những kẻ thường tụ tập quanh đó , nhất là mấy ông xe ôm hay những vị ở gần , chúng thường mượn danh nghĩa Thày Bảy để làm những việc không tốt, hay lợi dụng lòng tốt của khách . Thày Bẩy rất khổ tâm vì những chuyện này .
Theo đánh giá của dienbatn , khả năng chữa khỏi các bệnh của Thày Bảy Sậy đạt trên 70 - 80 %.
dienbatn xin cung cấp thông tin về Thày Bảy , hy vọng giúp được một phần nào vơi đi những khó khăn , đau khổ của những người mang bệnh .

THÀY : NGUYỄN VĂN SẬY - TỨC BẢY SẬY.
ĐỊA CHỈ : NHÀ SỐ 44 - ẤP PHƯỚC CHUNG - XÃ MÔNG THỌ B - HUYỆN CHÂU THÀNH - KIÊN GIANG.
TEL : 0942616399.

Từ TP.HỒ CHÍ MINH các bạn theo cao tốc Sài Gòn - Trung Lương - tới cầu Bắc Mỹ Thuận rẽ phải đi Phà Vàm Cống - Qua phà Vàm Cống đi KIÊN GIANG . Cách KIÊN GIANG khoảng hơn chục cây có chiếc cầu nhỏ tên là Cầu Mống thì rẽ vào chợ Cầu Mống . Nếu đi ô tô bỏ xe lại tại trạm biến điện và đi bộ vào qua một chiễc cầu sắt khoảng 800 m nữa theo dọc bờ sông là đến . Nếu lười đi bộ thì tại chợ Cầu Mống có rất nhiều xe ôm , giá chở vào khoảng 5-7 ngàn đồng 1 chuyến .



THÔNG TIN THÊM VỀ CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP.

"Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (thường được gọi là Cha Diệp, 1897 - 1946) là một Linh mục Công giáo tại Việt Nam. Ngài được biết đến nhiều bởi đã chịu chết thay cho giáo dân cùng bị bắt với mình.
Cha F.X Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 tháng 1 năm 1897 tại họ đạo Cồn Phước, thuộc làng Tấn Đức; nay thuộc ấp Mỹ Lợi, thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cha là ông Micae Trương Văn Đặng (1860 - 1935), mẹ là bà Lucia Lê Thị Thanh. Ông được Linh mục Giuse Sớm rửa tội ngày 2 tháng 2 năm 1897 tại họ đạo Cồn Phước và lấy tên Thánh là Phanxicô Xaviê
Năm 1904, lúc lên bảy tuổi thì mẹ mất, cậu bé Diệp theo cha đến Battambang (Campuchia) sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, người cha tục huyền với bà Maria Nguyễn Thị Phước (sinh năm 1890 ?, quê quán ở Mỹ Luông; nay thuộc Chợ Mới, An Giang).
Năm 1909, Linh mục Phêrô Lê Huỳnh Tiền đưa Trương Bửu Diệp vào học đạo tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng (nay thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang). Sau đó, thầy Diệp tiếp tục học đạo tại Đại chủng viện Nam Vang (Campuchia); vì thời ấy, các họ đạo trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long đều trực thuộc Giáo phận Nam Vang.
Năm 1924, sau thời gian học đạo, thầy Diệp được thụ phong linh mục tại Nam Vang, thời Giám mục Valentin Herrgott cai quản. Năm 1924-1925, Linh mục F.X Trương Bửu Diệp được bề trên bổ nhiệm làm linh mục phó của họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại Kandal (Campuchia). Năm 1927 - 1929, Linh mục Diệp trở về nước và làm Giáo sự tại Chủng Viện Cù Lao Giêng. Tháng 3 năm 1930, ông về nhận nhiệm sở tại Họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm nhiệm vụ tại đây, ông đã liên hệ, giúp đỡ để thành lập thêm nhiều họ đạo lân cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.
Năm 1945 - 1946, chiến tranh loạn lạc khiến nhiều giáo dân phải di tản. Linh mục bề trên là Trần Minh Ký ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng kêu gọi Linh mục Trương Bửu Diệp lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ông vẫn một mực từ chối và trả lời:
“Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”
— Phanxicô Trương Bửu Diệp
Theo tin tức lưu truyền trong dân gian và bổn đạo, thì ngày 12 tháng 3 năm 1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị bắt cùng với gần 100 giáo dân tại họ Tắc Sậy. Tất cả bị lùa đi và nhốt chung tại lẫm lúa (kho lúa) của ông giáo Châu Văn Sự ở Cây Gừa. Theo lời kể của ông Ba Lập thì họ chất rơm chung quanh tính đốt tất cả, nhưng Linh mục Diệp đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Từ xưa đến nay vẫn theo lời đồn miệng từ dân Cà mau thì ông đã bị Việt Minh giết vì ông đã hy sinh để cứu giáo dân của mình. Ông bị mời đi làm việc ba lần và lần thứ ba thì không thấy trở về nữa. Một kẻ canh giữ người đầy máu chạy về báo với đồng bọn Bổn đạo thấy cửa lẫm để mở ngỏ và họ đã trốn thoát.
Sau đó tối cùng ngày, bà hội đồng cùng vài tá điền và ông từ trong nhà thờ đã tìm thấy xác ông dưới một cái ao tại phần đất của ông giáo Sự (còn gọi là đìa ông Bảy), với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi, và họ đã đem chôn cất trong phòng Thánh của nhà thờ Khúc Tréo (nay thuộc xã An Trạch, huyện Ðông Hải, tỉnh Bạc Liêu).
Về vấn đề ai đã bắt và giết ông, theo bảng tóm tắt tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp hiện dựng tại nhà an nghỉ của ông thì ông bị bắt "vì sự tranh chấp giữa các giáo phái" (nhưng bảng này không ghi rõ người bắt thuộc giáo phái nào). Hiện tại có hai luồng ý kiến cho rằng: hoặc quân Việt Minh, hoặc quân Nhật đã làm điều đó.
Năm 1969, hài cốt Cha F.X Trương Bửu Diệp được cải táng về trong khuôn viên nhà thờ Tắc Sậy (ảnh 1 và 2), là nơi Ngài mục vụ trong 16 năm (Ngài là linh mục chánh sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy). Ngày 4 tháng 3 năm 2010, hài cốt của Ngài táng lại được cải táng lần nữa, nhưng chỉ cách chỗ cũ khoảng hơn chục mét, và cũng ở trong khuôn viên nhà thờ Tắc Sậy.
Hàng năm, nhất là ngày 11 và 12 tháng 3 dương lịch (ngày Cha Diệp thọ nạn), đông đảo người dân từ nhiều nơi đến hành hương và tham quan Thánh đường Tắc Sậy và phần mộ của Cha Diệp.
Từ năm 2012, cuộc điều tra phong Thánh cấp giáo phận cho Linh mục Trương Bửu Diệp bắt đầu được tiến hành
Nhà thờ Tắc Sậy nằm trên Quốc lộ 1A (tuyến Bạc Liêu - Cà Mau), thuộc Giáo phận Cần Thơ, và nằm trên địa bàn của xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Nhà thờ có từ lâu đời, nhưng trước đây chỉ là một ngôi thờ được xây dựng bán kiên cố, nhỏ hẹp và lợp tôn. Để nhà thờ và phần mộ Cha F.X Trương Bửu Diệp đang an nghỉ trong khuôn viên được tôn nghiêm và khanh trang hơn, ngày 24 tháng 2 năm 2004, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi nhà thờ mới đã được tổ chức. Sau đó, nhờ sự ủng hộ của giáo dân và khách thập phương, đến nay khu nhà thờ mới (nay có tên là Thánh đường Tắc Sậy) đã cơ bản hoàn thành trên diện tích rộng hàng ngàn m².
Ngày 31 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo lý Đức tin ra tuyên bố nihil obstat (không có gì ngăn trở) chấp thuận việc tiến hành hồ sơ tuyên thánh cho cha Diêp.
hời gian gần đây, nhiều người dân ở Nam Bộ (giáo dân và cả những người theo tín ngưỡng khác) thường đến phần mộ của Cha Diệp đến khấn xin, vì tin rằng Ngài có thể ban phước cho mình."
( https://vi.wikipedia.org/ ).
Thân ái . dienbatn.
Xem chi tiết…

KHẢO SÁT PHONG THỦY ĐƯỜNG LÂM - SƠN TÂY - HÀ NỘI. BÀI 12.

1/08/2016 |
KHẢO SÁT PHONG THỦY ĐƯỜNG LÂM - SƠN TÂY - HÀ NỘI. BÀI 12.

LỜI TỰA : Đường Lâm - Sơn Tây - HÀ NỘI là một vùng quê có địa hình còn khá hoang sơ , chưa bị nhiều những công trình xây dựng tàn phá. Đây là quê hương nhiều danh nhân như vua Ngô Quyền, Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, Giang Văn Minh, bà Man Thiện (mẹ của hai Bà Trưng), bà chúa Mía (người xây chùa Mía, vương phi của chúa Trịnh Tráng), Phan Kế Toại, Hà Kế Tấn, Kiều Mậu Hãn, Phan Kế An,... Đường Lâm còn được gọi là đất hai vua do là nơi sinh ra Ngô Quyền và Phùng Hưng. Là một vùng quê có nhiều người thành đạt như vậy nhưng trong khoảng 50 năm gần đây , nhân tài của Đường Lâm hầu như vắng bóng . Lý do nào đưa đến sự việc như vậy ? Chúng ta thử cùng nhau khảo sát về mặt Phong thủy để tìm nguyên nhân. Trong loạt bài này , dienbatn có sử dụng một số tư liệu trên Internet và những tư liệu của dienbatn sau nhiều năm điền dã. Những kết luận riêng của dienbatn còn thô thiển, rất mong được các cao nhân giúp đ. Thân ái. dienbatn.

3.13 KHẢO SÁT ĐẦM ĐƯỢNG - ĐƯỜNG LÂM - SƠN TÂY.



Đây là khu vực mà ngày xưa xảy ra trận chiến cuối cùng giữa Sơn Tinh ( Tản viên sơn Thánh ) và Thủy tinh. Một cái hồ rộng hơn 200 ha, là nơi tập trung và là rốn nước từ Ba Vì chảy về. Chín nguồn nước từ Ba Vì đổ vào đầm Đượng như 9 con rồng chầu vào mạch có huyệt Đế Vương. Nơi đây là một quần Long cực lớn, theo người xưa nói là thế đất " Cửu Long tranh châu  .
Tiến sĩ Ngô Kiều Oanh đã có một bài viết liên quan  như sau :

"PHẢNG PHẤT BÓNG DÁNG KINH THÀNH CỔ QUA CÁC HUYỀN THOẠI

Lịch sử dụng nước bốn nghìn năm ghi nhận sự tồn tại không biết bao nhiêu triều đại các vua chúa Việt Nam nhưng qua thăng trầm lịch sử có những kinh thành chỉ còn lại bóng dáng trong các huyền thoại, truyền thuyết. Nhất là thời Hùng Vương, cách hơn 3000 năm về trước - một thời kỳ đầy biến động cả về thiên nhiên (biển lùi dần để xuất hiện đồng bằng phù sa màu mỡ) và lịch sử. Đó là việc hình thành những kinh thành cổ đại đầu tiên, đánh dấu sự bắt đầu kết thúc của các bộ lạc sống rải rác trong các hang động miền núi cao tràn xuống chinh phục những vùng đất mới, bộ tộc Hùng Vương đã chiếm ưu thế. Thời Hùng Vương đã lùi vào quá khứ xa xăm, nhưng lần theo tên núi tên sông và các huyền thoại đẹp đẽ vẫn thấy phảng phất bóng dáng kinh thành của Hùng Vương với hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, để lại trong dân gian hai câu truyện về tình yêu nổi tiếng: Chử Đồng Tử-Tiên Dung và Sơn Tinh-Ngọc Hoa. Phải chăng đó là truyện có thật hay chỉ là sự nhân cách hoá tài tình về tình yêu mãnh liệt của dân tộc vào đất đai, niềm tin vĩ đại ngàn đời vào sức mạnh lao động của chính mình, đời này qua đời khác để gặt hái được những mùa lúa vàng trĩu hạt, gây dựng cả một nền văn minh sản xuất lúa nước có một không hai ở xứ sở ẩm thấp, bão lụt, gió mùa. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, tình yêu tha thiết trước một thiên nhiên kỳ vĩ có miền núi cao xen lẫn với trung du, những dòng sông gấm vóc để có thể bất cứ ai mang dòng máu Việt đều cảm thấy trong lòng mình sống mãi những huyền thoại đẹp như mơ và Vua Hùng như rất gần với thời đại chúng ta với câu ca dao:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ về giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
Còn Sơn Tinh - con rể vua Hùng chính là hiện thân có thật của hệ thống đê điều hàng ngàn kilômét ngày đêm bảo vệ hàng triệu hécta làng xóm và đồng ruộng chạy dọc theo những lưu vực sông. Sơn Tinh - Thuỷ Tinh cũng là bản trường ca bất tận về sự nghiệp lao động dẻo dai, bền bỉ, kiên trì của biết bao thế hệ người Việt để chống chọi và thích nghi với thiên nhiên vừa hiền hoà vừa rất khó tính. Kinh thành đầu tiên và xa xưa nhất theo quan niệm nằm trên vùng đất giữa hai dãy núi Ba Vì và Tam Đảo, do hệ thống những dòng sông như sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Thái Bình bồi tạo. Dấu vết còn lại là Đền Hùng ở Bạch Hạc. Thử đi theo dẫn dắt của truyền thuyết, ta sẽ thấy sự tiếp nối rất lôgíc và hiện thực. Ngọc Hoa - con gái út của vua Hùng và Sơn Tinh, đều lớn lên ở hai bờ sông Hồng. Sơn Tinh là một cậu bé mồ côi cha từ sớm, hàng ngày phải lên núi Ba Vì kiếm củi nuôi mẹ. Thấy Sơn Tinh hiếu thảo và thông minh, Thái Thượng Lão Quân là người do Ngọc Hoàng sai xuống để trông coi núi Ba Vì đã thử lòng và trao cây gậy đầu sinh đầu tử cho chàng để thay người cai trị muôn loài. Cây gậy thần đã giúp Sơn Tinh cải tử hoàn sinh cho Thuỷ Tinh - là con vua Thuỷ Tề do đi chơi đội lốt rắn và bị trẻ chăn trâu đập chết dọc bờ sông. Đền ơn cứu sống con trai, vua Thuỷ Tề đã tặng Sơn Tinh quyển sách ước, còn hai chàng trai tài giỏi đã kết bạn và đi đâu cũng có nhau. Bên kia sông, vua Hùng già yếu và cũng buồn vì mối nhân duyên không tương xứng giữa Chử Đồng Tử - một người đánh cá dặm với cô con gái đầu là Tiên Dung, quyết định kén rể cầu hiền cho cô con gái út. Nghe tin, Sơn Tinh rủ Thuỷ tinh cùng đến dự hội. Trong hội, còn có rất nhiều chàng trai từ các tộc khác đến, trong đó có cả An Dương Vương Thục Phán - tộc trưởng tộc Âu Việt, nhìn thấy nàng Ngọc Hoa vô cùng xinh đẹp, kiều diễm, hiền dịu, ai nấy đều quyết tâm trổ tài chiếm đoạt. Nhưng tất cả cuối cùng đều thua cuộc, chỉ còn hai chàng trai được mệnh danh là Thần Núi và Thần Nước thi nhau trổ tài trước vua Hùng. Sơn Tinh chỉ núi, núi lở; Thuỷ Tinh phun nước làm mưa lụt, sóng gầm. Vua Hùng thấy hai chàng đều tài giỏi phi thường đành phải ra lời thách đố hóc búa:
- Ngày mai, ai là người mang đến trước cho ta mâm lễ gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, ta sẽ gả con gái và nhường ngôi báu.
Nhờ có sách ước và gậy thần, Sơn Tinh đã thắng, đoạt được nàng công chúa, có lẽ vậy vì ghen nên Thuỷ Tinh đã giận dữ đổi bạn thành thù. Thuỷ Tinh dẫn đầu các đội quân thuỷ quái để làm một trận quyết đấu đất long, trời lở nhằm đánh bại Sơn Tinh hòng cướp lại Ngọc Hoa. Những nơi hai chàng đánh nhau dữ dội đã được ghi lại như hồ Đồng Mô - có nghĩa là đồng có nhiều mô đất, dấu tích mà Sơn Tinh đã gánh để ném chặn các dòng nước do Thuỷ Tinh dâng lên; đầm Đượng (đầm Long ?) 16 cửa, nơi Thuỷ Tinh bị thất trận rút lui; gò Mả Đống (Đường Lâm – Sơn Tây), vực Cầu Hang (Sơn Tây) địa danh những nơi ẩn náu của những loài thuỷ quái vốn là tướng lĩnh của Thuỷ Tinh không kịp rút ra biển khi ấy.

Thắng lợi hoàn toàn, Sơn Tinh xin vua Hùng được đón công chúa về núi Ba Vì với mình mà không nhận ngôi vua vì phải thực hiện lời hứa giữ gìn ngôi núi Tổ Ba Vì muôn đời cho non sông nước Việt. Có lẽ khi vua Hùng già yếu cũng về sống với con rể và con gái, thế nên chăng Ba đỉnh Ba Vì được truyền thuyết ghi nhận là đỉnh vua Hùng, đỉnh Sơn Tinh và đỉnh Ngọc Hoa công chúa.
Lại nói về An Dương Vương Thục Phán vì quá yêu công chúa, tuy thua nhưng vẫn thỉnh thoảng kéo quân đến đánh, thấy vậy, Sơn Tinh khuyên vua Hùng nhường ngôi cho An Dương Vương để cầu hoà và mở rộng bờ cõi, tăng thêm sức mạnh. Do vậy, sau này, khi vua Hùng băng hà, kinh thành đã được chuyển từ Bạch Hạc về Cổ Loa. Theo tương truyền có bốn đền được xây xung quanh vùng chân núi Ba Vì để kỷ niệm trận chiến thắng của Sơn Tinh. Đến nay chỉ còn Đền Và (Đông Cung) là còn lại. Đền Và tôn nghiêm thờ phượng vị thánh dẫn đầu trong 4 vị thánh bất tử (Tứ Bất tử) của Việt Nam, chỉ cách Hà Nội 42km và cách Trung tâm Tp. Sơn Tây 0.5 km.

Bước vào Đền Và, bạn có cảm giác như đâu đây bóng dáng của một kinh thành cổ. Đền giống như một cung điện nhỏ, có thành làm bằng những tảng phiến đá ong lớn bao quanh. Nằm giữa một khu rừng lim cổ đại nhỏ còn sót lại với những dãy nhà lớp lớp, có gác chuông gác trống hai bên sân. Phải qua hai thư ký và tứ trụ triều đình mới vào được cung chính. Trong cung có ba ngựa gỗ cao bằng ngựa thật, có hạc đứng trên rùa và cột đá biểu tượng cung điện. Tận cùng là hậu cung linh thiêng với ba ngai vàng lớn được chạm trổ hình chim Lạc Việt trên có bức khảm: Thượng đẳng tối linh. Đền được trùng tu lại nhiều lần, nhất là đời Hậu Lê, nhưng xuất xứ được ghi nhận là xây có thể cách đây hàng ngàn năm. Nhìn những tảng đá rêu phong cổ kính sẽ thấy rõ điều đó nơi đây, dấu tích của một thời vàng son. Đặc biệt Đền có một vị trí trang trọng và rất lớn so với các đền khác ở nước ta. Các đời vua minh chủ đã lên đây cầu nguyện cho ngai vàng được bền vững và giữ gìn được non sông gấm vóc. Xin Vua đồng thời là Thánh Sơn Tinh phù hộ và đáp ứng những ước vọng tốt đẹp nhất của dân tộc. Theo truyền thống, cứ 4 năm một lần là một lễ rước rất lớn vào rằm tháng Giêng âm lịch đón Sơn Tinh sang sông Hồng để thăm mảnh đất quê mẹ. Do lẽ vậy, trên cái nôi đầu tiên của sự hình thành kinh thành vua Việt Nam, các kinh đô dù có đi đâu rồi cũng về hội tụ gần gần đó. Đó là Hai Bà Trưng tôn mẹ là Mèn Thái Hậu lên ngôi ở Ba Vì năm 43-44 sau Công Nguyên. Lý Nam Đế gây dựng nhà nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI và Phùng Hưng thế kỷ thứ VIII đều gần Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay và nhà Lý cũng dời đô về Hà Nội dọc sông Hồng. Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu - một nhà văn hoá Á Đông vĩ đại đã từng chọn một vị trí nằm dựa lưng vào núi Ba Vì nhìn thẳng qua kinh thành vua Hùng làm nơi nghỉ ngơi và làm việc của mình. Điều này càng thấy rõ hơn tính hiện thực của các huyền thoại của dân tộc Việt Nam, nhất là về các kinh thành cổ.
Tháng 8 năm 1995
N.K.O".

Đầm Dượng có diện tích lòng đầm khoảng 200 ha , thuộc 2 huyện : Ba Vì và Thị xã Sơn Tây , thuộc địa phận ba xã : Thụy An, Xuân Sơn và Cam Thượng .Khu vực này là rốn nước của cả vùng núi Ba Vì đổ về . Ngày xưa theo truyền thuyết có tới 16 cửa nước vào ra Đầm Dượng, nay do người ta san lấp ngang dọc đầm nên không rò còn bao nhiêu cửa nước. Theo một số người dân trong khu vực khi dienbatn hỏi thăm , họ nói còn 9 cửa tượng trưng cho 9 con rồng . Tại giữa Đầm Dượng có một hòn đảo rất to , ngày xưa mang tên Gò Lá Tre . gần đó có một cái gò mang tên Gò Móng là nơi hàng năm các sới vật về đây tổ chức thi đấu . 



Một số hình ảnh của Đầm Đượng.







dienbatn cùng anh Quách Hữu Đức là chủ một trang trại 30 ha tại khu vực Đầm Đượng.










Ngay đầu đường vào khu trang trại của anh Quách Hữu Đức , gần đây người ta mới xây một ngôi chùa có tên là Chùa Tiên Kiều thuộc địa phận thôn Tam Sơn - Xã Xuân Sơn - Sơn Tây . Chùa này có hướng chính ban Tam bảo là 212 độ.

 



Ngay dưới chân đồi có chùa Tiên Kiều là một ngôi miều khá đẹp có tên Miếu Cô Đống. Tương truyền ngôi miều này làm ngay trên một ngôi mộ Thiên táng . Ngày xưa có một người đàn bà chết dọc đừng tại nơi này, chưa kịp chôn thì mối đã đùn lên một gò đất rất to . Người trong vùng gọi là mả Cô Đống và mỗi người đi qua có tục lệ là đặt thêm một viên đá vào ngôi mộ .














Qua phần khảo sát của dienbatn , khu vực này có Huyệt kết với vùng năng lượng khá mạnh . Phải chăng dụng ý của những người xây dựng Chùa Tiên Kiều là để bảo vệ khu vực Huyệt kết này ????
Xin theo dõi tiếp bài 13. dienbatn.
Xem chi tiết…

KHAI TRƯƠNG XUẤT HÀNH VÀ CÁC HUNG KỊ NĂM BÍNH THÂN - 2016.

12/21/2015 |
KHAI TRƯƠNG XUẤT HÀNH VÀ CÁC HUNG KỊ NĂM BÍNH THÂN - 2016.


Năm Bính Thân - 2016 bắt đầu vào ( 16g46p) giờ Dậu ngày Bính Thìn - 26/12/ Ất Mùi , tức là thứ Năm ngày 4/2/2016. năm nay Đông Chí vào lúc 17g44 ngày Đinh Sửu  23/11/Bính Thân tức là ngày 21/12/2016.
 Người sinh năm Bính Thân có mạng Sơn hạ Hỏa ( Lửa trong núi ), cung phi của nam là Khôn - Thuộc tây tứ cung, của nữ là Tốn - Thuộc Đông tứ cung. Thiên can Bính thuộc dương Hỏa . Địa chi Thân là dương Kim.Theo bảng Ngũ hành của 60 Hoa giáp, năm Bính Thân thuộc hành Hỏa. vận Khí của năm Thân là Thiếu Dương - Khí Tướng Hỏa . Thiên can Bính thì Khí Thái quá. Như vậy năm Bính Thân Khí Hỏa thái quá , chủ một năm nóng nực nhiều .Năm nay Thiên can Hỏa khắc địa chi Kim , lại cùng là Dương Khí nên có nhiều xung đột , mâu thuẫn, chiến tranh xảy ra nhất là ở các phương Đông Bắc ( có Ngũ Hoàng ) , phương Tây Nam ( có Thái Tuế ). Là một năm có nhiều thay đổi về kinh tế nhưng theo hướng xấu . Do đó năm nay cũng là một năm rất khó khăn cho các doanh nghiệp . Năm Bính Thân là năm xung khắc với các tuổi : Giáp dần ( Thủy ), Nhâm Dần ( Kim ) , Nhâm Tuất, Nhâm Thìn. năm Bính Thân cũng là năm tuổi Canh Thân ( 1980) gặp sao hạn : nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô, lại gặp Kim Lâu thân. năm nay 37 tuổi , gặp Thái Tuế, đại tiểu hạn trùng phùng. hạn năm 37 tuổi thường đánh vào công danh , sự nghiệp, tiền bạc , do vậy người tuổi Canh Thân cần dâng sao giải hạn và thật cẩn thận trong làm ăn, kinh doanh, không nên đầu tư công việc mới, củng cố và giữ gìn cẩn thận những công việc đang làm, hạn chế cho vay , hùn hạp.
1. CÁC PHƯƠNG CÁT HUNG :Xét trên phi tinh đồ ta thấy :
+Phương  BẮC : Bản cung Khảm  nơi sao Sao Thất Xích đóng là sao Thoái Khí toạ lạc tại bản cung Khảm nên bị Thủy khắc. Thất Xích đã thất vận , phương Bắc hội nhiều cát tinh nên được xem là phương có cát hung lẫn lộn , đề phòng tiểu nhân hại lén.
+ Phương ĐÔNG BẮC : Sao  Ngũ Hoàng chiếm đóng, Ngũ Hoàng là Đại Sát tinh đi đến đâu chủ tai hoạ đến đó nên phương này chủ bệnh tật tai hoạ. Hướng này năm nay cũng gặp Tuế Phá nên bất lợi .Không nên động thổ xây cất, dễ xảy việc bất ngờ, tật ách quan phi, gia đạo bất yên, ra ngoài phòng xe cộ làm bị thương 
+ Phương ĐÔNG : Sao Cửu Tử Hoả Tinh là sao vượng khí chiếm đóng, vì khí của sao này hưng vượng nên phương Đông phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Sao  Cửu tử hoả lại được hành Mộc của bản cung Chấn sinh nên như Rồng thêm chân , như hổ thêm cánh. Phương Đông là cung cát khánh đại lợi , có nhiều hỉ khí, tăng tài, thêm đinh , thăng quan , tiến chức, tậu sản nghiệp , văn chương hiển đạt , mọi việc như  ý. 
+ Phương ĐÔNG NAM : Sao Nhất Bạch – Sinh Khí chiếm đóng. Khí của sao này rất tốt lại được bản cung Tốn – Mộc tỷ hòa nên vượng đinh, vượng tài, phát triển thuận lợi. Phương này sẽ có nhiều nhân tài xuất hiện bởi Nhất Bạch còn gọi là Văn Xương tinh chủ về thông minh học thức, văn tài nổi danh lỗi lạc.Nhất Bạch năm nay đến Tốn vượng Văn xương, ra văn quí, lợi học hành, ra ngoài gặp quí,
được lên chức tăng lương,lợi hôn nhân, tài vận khả quan .
+ Phương NAM : Sao Lục Bạch – Sát Khí chiếm đóng : Lục Bạch chiếm tại bản cung Ly, là sao quyền quý nhưng đã thất vận lại gặp Tam sát nên dễ bị tiểu nhân hay chuyện trai gái mà bị hại , ra đường đề phòng xe cộ , tài vận , sự nghiệp bất lợi.
+ Phương TÂY NAM : Bản cung Khôn nơi sao Bát Bạch đang đương vận nên vượng khí . Bát bạch tài tinh năm nay đến phương Tây Nam chủ về vượng Tài, vương Đinh , lợi cho hôn nhân , hỉ sự đầy nhà , công danh, sự nghiệp phát triển , mọi việc đều tốt đẹp. Nên thờ cúng  Thái Tuế .
+ Phương TÂY : Sao Tứ Lục – Mộc  chiếm đóng tại bản cung Đoài – Kim . Tứ Lục thất vận , lại bị Đoài Kim khắc nên khí sát rất nặng là một hung khí. Dễ bị tiểu nhân hay chuyện trai gái mà bị hại , ra đường đề phòng xe cộ . Cung  Đoài, nơi  đó không nên động thổ xây cất  sẽ bị tai nạn vô cớ, dể bị việc gái , trai phá tài,  phòng tiểu nhân hại lén, mọi việc nhẩn nhịn chớ nên hung hăng.
+ Phương TÂY BẮC  : Sao Tam Bích chiếm đóng là sao Tử Khí. Khí xấu Tam Bích đại hung chủ thiên tai, cướp bóc, Tam Bích Mộc  bị Càn Kim khắc nên cũng được hóa giải phần nào. Tam Bích sao khẩu thiệt  phi đến Càn dể bị khẩu thiệt thị phi,  việc người  chớ có xen  vào, sẽ bị tù tội, tật bệnh trộm
 cắp phá tài ,  mọi việc nên nhẩn nhịn gia đạo không yên ,  dễ bị miệng tiếng thị phi vô cớ , ách giữa đàng mang quàng vào cổ, việc của người khác chớ xen vào sẽ bị tù tội, bệnh tật , trộm cắp , hao tài, gia đạo không yên.
+ TRUNG CUNG : Nhị Hắc bệnh phù đến cung Trung cung , chủ tật ách, vị bạn mà liên lụy phá tài quan phi vô  cớ ,tiểu nhân hại lén, ra ngoài  phòng xe cộ làm bị thương, chớ đi chơi xa, phòng tai ách nửa đường .
2.TAM SÁT.
Tam sát là 3 sao có sát khí là Tuế-sát, Kiếp-sát và Tai-sát. Tam-sát có 3 loại là Niên Tam-sát, Nguyệt Tam-sát và Nhật Tam-sát hay nói cách khác là Tam-sát của năm, tháng và ngày.
Tam-sát là sát ở các cung sau đây:
1. Năm Thân, Tý, Thìn (hay tháng 7, 11, 3 ta) sát ở 3 phương Tỵ, Ngọ và Mùi tức phương Nam.
2. Năm Dần, Ngọ, Tuất (hay tháng 1, 5, 9 ta) sát ở 3 phương Hợi, Tý, Sửu tức phương Bắc.
3. Năm Tỵ, Dậu, Sửu (hay tháng 4, 8, 12 ta) sát ở 3 phương Dần, Mão, Thìn tức phương Ðông.
4. Năm Hợi, Mão, Mùi (hay thánh 10, 2, 6 ta) sát ở 3 phương Thân, Dậu, Tuất tức phương Tây.
Năm Ất Mùi Tam sát nằm ở phương Tây.
Các nơi có Tam-sát đều kỵ động làm tăng năng lực sát. Vì vậy mà cấm động thổ, tu sửa… nhất là khi Tam-sát ở cung Tọa vì khi đó khí mạnh của hướng xung chiếu thẳng làm phạm xung sát nên tai họa đến liền.
3. NĂM  BÍNH THÂN NGUYÊN ĐÁN THẮP NHANG XUẤT HÀNH .
Nguyên Đán mồng 1 Tết năm Bính Thân  nhằm ngày  Canh Thân ( Tức ngày 8/2/2016 ), sao  Tất trực  Phá, Quí Thần Tây Nam, Tài Thần tại hướng Chánh Đông Thắp nhang nên dùng giờ  Sửu Mão Thìn Tị đại cát, xuất hành nên dùng giờ  Sửu, Mão, Thìn, Tị . Đi hướng Tây  Nam nghinh đón Quý thần,  Đi hướng chánh Đông nghinh đón  Tài thần đại cát,  giờ Dần phạm Tuế phá, Nhật phá, giờ Thân phạm  Nguyệt phá, giờ Tý, Tuất 5 bất ngộ hung, giờ Ngọ, Mùi  triệt lộ không vong bất nghi xuất hành, Ngạc thần tại Đông Nam,  Ngũ quỷ chánh Tây , Tử môn Tây Bắc chớ đi hướng này.
4.Bính Thân Tháng giêng Khai thị cát nhật ( Khai trương , mở hàng ).  
Mồng 8 Ngày Đinh Mão -Kị Tuổi : Tân Dậu, Quý Dậu
Ngày 15  Giáp Tuất - Kị Tuổi : Mậu Thìn,Canh Thìn.
Ngày 17 Bính Tý - Kị Tuổi :Canh Ngọ, Mậu Ngọ.
5.Bính Thân Tháng giêng Xuất hành cát nhật ( Xuất hành ).  
Mồng 8 Ngày Đinh Mão. Kị Tuổi Tân Dậu, Quý Dậu.
Mồng 11 Ngày  Canh Ngọ . Kị Tuổi Giáp Tý, Bính  Tý
Ngày 12  Tân Mùi .Kị Tuổi Ất  Sữu,  Đinh Sữu
6. Bính Thân Tháng giêng Kỳ phúc cát nhật ( Cúng tế ).  
Mồng  8 Ngày Đinh Mão .Kị Tuổi Tân Dậu, Quý Dậu.
Ngày 15  Giáp Tuất . Kị Tuổi Mậu Thìn,Canh Thìn.
Ngày 17 Bính Tý . Kị Tuổi Canh Ngọ, Mậu Ngọ.
Chú thích: Khi chọn ngày tốt nêu trên cần đảm bảo Can Chi ngày đó không xung sát với tuổi người chủ sự và không trùng cả Can Chi năm tuổi của chủ sự. Thí dụ người tuổi Nhâm Thân thì không chọn ngày Nhâm Thân để khai trương cửa hàng đầu năm.  
7.BÀI VỊ CÚNG THÁI TUẾ NĂM BÍNH THÂN.
*Theo phong tục truyền thông cổ đại của nhân gian .tin rằng mỗi năm đều có một vị thần minh coi sóc về mọi sự việc của trần gian. Vị thần cai trị một năm đó gọi là Thái Tuế. Có tát cả là 60 vị Thái Tuế tương ứng với 60 năm của một “hoa giáp” (chu kỳ 60 năm của âm lịch).
Thần Thái Tuế đại đa số là võ tướng xuất thân, nên trong Đạo giáo thần tiên gọi tất cả là “Đại Tướng Quân”. Nhưng mỗi vị Thái Tuế có một phong cách khác nhau, nên việc chấp pháp cũng khác nhau. Từ đó nảy sinh vận trình của mỗi năm sẽ khác nhau.Ví dụ như, Thái Tuế cầm bút thì năm đó có những biến động về chính trị; nếu là Thái Tuế cầm kiếm thì năm đó có nhiều loạn lạc , diễn biến về vũ lực.
Thái Tuế là tên gọi của thần theo Đạo giáo thần tiên , tương truyền là những hung thần của thiên giới. Tín ngưỡng nầy có xuất xứ từ sự sùng bái các sao của người đời xưa. Năm âm lịch thành hình do sự phối hợp giữa 10 can và 12 chi, bắt đầu từ “Giáp Tí” đến cuối 60 năm là “Quý Hợi”(một chu kỳ). Như vậy sẽ có 60 vị Thái Tuế, còn gọi là “Lục thập nguyên thần” hay “Lục thập đại tướng quân”.
*Năm 1190 là năm Canh Tuất, bà Hoàng Thái Hậu Thụy Thánh , mẹ của Kim Chương Tông bị bệnh lâu ngày không khỏi, nên tổ chức “cầu đảo” trị bệnh cho mẹ. Vua cho xây dựng “Đinh Mão Thụy Thánh Điện” (bà mẹ tuổi Đinh Mão) ở Đạo quán . Mục đích là cúng bái vị Thái Tuế năm Đinh Mão gọi là “Lễ Thuận Tinh”, nên Hoàng Thái Hậu được lành bệnh. Vì thế, sau đó cúng bái luôn 60 vị Thái Tuế, cầu cho những năm kế tiếp cũng được tốt lành . Mỗi năm vào ngày mùng tám tháng giêng, đều có tổ chức “ Thuận Tinh Tiết ” (lễ Tết cúng sao). Từ đó, trong dân gian lưu hành rộng rãi việc “cúng sao” mỗi năm.
*Về sau , đời Vĩnh Lạc nhà Minh cho xây dựng Điện Thụy Thánh Bạch Vân Quán ở Đạo quán . Đến đầu đời Thanh, vị Đại Tôn Sư thứ bảy của phái Toàn Chân Long Môn cải danh hiệu lại là “Nguyên Thần Điện”.
*Thái Tuế còn gọi là Thái Tuế Tinh Quân. Về khoa thiên văn, sao Thái Tuế chính là Mộc Tinh trên bầu trời. Chu kỳ của sao Mộc quay quanh Mặt Trời là mười hai năm. Cho nên người xưa gọi sao Mộc là Tuế Tinh hay Thái Tuế, sau phát triển thành Thái Tuế Tinh Quân hay Tuế Quân. Như vậy, tín ngưỡng thờ phụng Thái Tuế có nguồn gốc liên hệ đến các sao trên bầu trời.
*Từ đời Tần, Hán , Thái Tuế được xem là một “hung thần” mà mọi người kính sợ. Có câu :- “Để Thái Tuế hung, phụ Thái Tuế diệc hung” (mạo phạm đến Thái thì bị điều hung, mà nương tựa vào Thái Tuế cũng không hay). Do đó, dân gian tin rằng phương hướng của Thái Tuế là hung phương, cho nên không hướng về phương Thái Tuế, chỉ có thể quay lưng lại là tốt. Không nên động thổ vào phương hướng Thái Tuế của năm đó, nếu phạm sẽ gặp rất nhiều điều không hay. Từ sau đời Nguyên, Minh thì Thái Tuế được cho ghi vào danh sách thờ cúng của triều đình và dân gian để mong cầu “nước yên dân ổn”.
*Câu nói phổ biến : “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỉ khủng hữu họa” (Gặp Thái Tuế chận đầu, nếu không có hỉ sự, tất phải gặp họa). Người mà vận niên phạm Thái Tuế, thì trăm việc không thuận, sự nghiệp bị khó khăn, thân thể đau ốm hoặc bị tai nạn. Muốn cho “tâm an thuận lý” thì người ta đến các Miếu Thờ Thái Tuế để cúng bái, mong nhờ phước lực của Ngài hóa giải điều xấu. Nếu thờ cúng Thái Tuế tại nhà, thì cầu mong được bình an thuận sự, công thương).
*Đến đời Sau , Lưu Tú khởi nghĩa thành công, phong cho các chiến tướng công thần làm “Nhị thập bát tú Thái Tuế”.
*Về sau, có ngài Lục Tục của Đạo Gia xưng tặng những người có đức độ là “Thái Tuế”, được cả thảy là 60 vị.
*Động tác “Bái Thái Tuế” (an vị Thái Tuế) Lục thập thái tuế quản nguyên thần con người dưới nhân gian.
Thái tuế hóa giải nạn kiếp hàng năm bảo hộ nguyên thần cho con người.
1/Người bị phạm Xung Thái Tuế :( tuổi xung với năm) Có tính đối kháng, tấn công , đánh nhau, còn gọi là “phản ngâm” (theo phong thủy).
Đặc điểm của nó là : - trắc trở khó khăn triền miên, bôn ba vất vả đối phó, làm việc gì cũng không thuận lợi. Gặp trường hợp nầy phải hết sức cẩn thận và hạn chế phạm vi hoạt động, đừng mở mang thêm cái mới.
2/- Người bị phạm Trị Thái Tuế :Phong thủy gọi là “phục ngâm”, sức phá hoại kém hơn trên một chút. Gọi là “Trị Thái Tuế” khi tuổi mình trùng với địa chi của năm đó.
Tính chất: - phiền não kéo dài, ít có thuận lợi suông sẻ. Họa phúc mỗi thứ phân nửa, lúc được lúc mất. Phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt tìm cách vượt qua khó khăn mới được.
3/- Người bị phạm Hình Thái Tuế : - (tuổi nằm trong tứ xung) có ý nói về hình luật hoặc thương tật. Tuổi và năm rơi vào trường hợp “lục hình” với nhau (xem bảng lục hình).
Năm thái tuế: - thị phị khẩu thiệt, tai bay vạ gió, việc đến ngoài ý muốn. Kỵ việc bảo lãnh cho người, lưu ý các hợp đồng ký kết… dễ động đến cửa quan.
Thái Tuế thường cúng ở điện Đẩu Mẫu Nguyên Quân và sáu mươi nguyên thần. Cai quản bản mệnh sáu mươi năm của con người thì công đức, vô tại vô hạn hóa rủi thành may tài lộc hưng vượng.
Chọn ngày lành giờ tốt mà thờ lễ thái tuế nguyên thần:
Ngày 12 tháng giêng – La Thiên tuế .
Ngày 3 tháng 3 Ngô Thiên tuế .
Ngày 8 tháng 3 Triệu Thiên tuế .
Ngày 1 tháng 5 Phong Thiên tuế .
Ngày 5 tháng 5 Hầu Thiên tuế .
Ngày 6 tháng 5 Tiết Thiên tuế . 
Ngày 7 tháng 5 CảnhThiên tuế .
Ngày 12 tháng 5 Lư Thiên tuế .
Ngày 19 tháng 7 Trị niên Thiên tuế .
Ngày 3 tháng 8 Từ Thiên tuế .
Ngày 12 tháng 8 Hà Thiên tuế .
Ngày 9 tháng 9 Đẩu mẫu nguyên quân trị niên thái tuế
Ngày 1 tháng 12 Đàm Thiên tuế .
Ngoài việc “Bái Thái Tuế”, còn phải đeo một miếng cổ ngọc hoặc dán phù Thái Tuế để hóa giải xấu ác.
Thái Tuế ngoài việc thể hiện vận trình chung của lưu niên năm đó, còn ảnh hưởng đến mệnh vận của con người . Nếu sinh tiêu (tuổi) của người nào không hợp với lưu niên Thái Tuế, gọi là “phạm Thái Tuế”, thì vận trình năm của người đó không tốt, phải dùng phương pháp “Nhiếp Thái Tuế” để hóa giải.
*Trong nội điện của Điện Nguyên Thần ở Bạch Vân Quán Đạo quán , không những thờ 60 vị Thái Tuế mà còn thờ Đẩu Mẫu Nguyên Quân và Tả Phù , Hữu Bật. Căn cứ vào sách Đạo Tạng trong chương Nguyên Thần liệt kê 60 vị Thái Tuế, cùng với tả hữu tổng cộng thành một trăm tám mươi vị, do số 60 nhân 3 mà thành.
(1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), 
(2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), 
(3) Thái Tuế năm Bính Dần là Đam Chương Tổ Sư (耿章祖師), 
(4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Trầm Hưng Tổ Sư (沉興祖師), 
(5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), 
(6) Thái Tuế năm kỷ tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), 
(7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), 
(8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), 
(9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), 
(10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), 
(11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), 
(12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), 
(13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), 
(14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), 
(15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), 
(16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (龍仲祖師), 
(17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), 
(18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), 
(19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), 
(20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), 
(21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), 
(22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), 
(23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), 
(24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), 
(25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), 
(26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), 
(27) Thái Tuế năm canh dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), 
(28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), 
(29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), 
(30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), 
(31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), 
(32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), 
(33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), 
(34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), 
(35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), 
(36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), 
(37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), 
(38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), 
(39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), 
(40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), 
(41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), 
(42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), 
(43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), 
(44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), 
(45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), 
(46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), 
(47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), 
(48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), 
(49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), 
(50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), 
(51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), 
(52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), 
(53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), 
(54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), 
(55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), 
(56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), 
(57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), 
(58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), 
(59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và 
(60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).
Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師).
BÀI VỊ CÚNG THÁI TUẾ NĂM BÍNH THÂN.


dienbatn viết theo tài liệu của cụ TriTri và từ nguồn http://thantienvietnam.com/.
Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *