ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.BÀI 1.

3/07/2011 |
ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI.BÀI 1.

Lời giới thiệu : Mới đây , dienbatn được một người bạn bên Hội Phúc Thiện ( Ngày trước cùng đi làm từ thiện trên Sơn La ) gửi tặng một cuốn sách nhan đề : " Huyền thoại Phật Mẫu giáng trần " và nhờ dienbatn cho ý kiến thẩm định. dienbatn xin trích nguyên văn bức thư đó như sau :
 "Anh Hùng thân mến!
Em là Nguyệt bạn chi Oanh trong nhóm Phúc Thiện ở Hà Nội,.Tết năm 2008 được đi từ thiện với anh ở Sơn la.  Lâu rồi không gặp anh, anh có khoẻ không a? Năm trước em gọi điện thì được biết anh đang bệnh cột sống phải điều trị bệnh viên. Rồi công việc, gia đinh, con nhỏ ốm triền miên, mọi việc hối hả trôi, em cũng không liên lạc được để thăm anh.
Em gửi mail cho anh có một chuyện xảy ra trong gia đinh sếp ở cơ quan em. Anh đọc file em đính kèm nhé.
Câu chuyển tóm tắt như sau: Năm 2008, vào những ngày 10, 20, 30 âm lịch hàng tháng Phật Địa Mẫu nhập vào con gái của Sếp giảng kinh. Sau đó thì trong gia đình xảy ra nhiều chuyện và hiện nay vẫn vào những ngày đó Phật nhập vào cô em gái của Sếp trong Cần Thơ giảng Kinh. Tất cả sự việc diễn ra trong 2 năm qua được mọi người trong đại gia đình chấp bút lại và in thành quyển " Huyền thoại Phật Địa Mẫu giáng trần" dày 108 trang.
Sếp nói với em muốn đưa lên mạng để mọi người biết đến. Em gửi anh đọc và xin anh ý kiến.
Chúc anh một ngày an lành!
Em Thanh Nguyệt "
 Đối với những vấn đề lớn và khá tế nhị như thế này , dienbatn không dám gọi những ý kiến mình là những ý kiến " thẩm định ". dienbatn chỉ mong muốn nhân câu chuyện này , chúng ta cùng nhau tìm hiểu về Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu { hay còn gọi là Phật Mẫu( vì là MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh và Chúng sanh). Diêu Trì Kim Mẫu ( vì Đức Phật Mẫu ngự tại DTC ). Kim Bàn Phật Mẫu ( vì Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung ). Cửu Thiên Huyền Nữ ( vì Đức Phật Mẫu rất huyền diệu, ngự tại từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên ). Đức MẸ thiêng liêng,Đại Từ Mẫu, Thiên Hậu, Địa Mẫu,MẸ sanh.}
Cúi đầu mừng đức Diêu Trì ,
Hóa sanh vạn vật MẪU NGHI THƯỢNG TÒA .
Động lòng thương cõi giới ba ,
Siêu nhiên mật pháp truyền ra tuyệt vời .
Cha lành con thảo trọn đời ,
Tâm nguyền giữ vẹn vạn lời Mẹ khuyên .
Các con vì bởi nghiệp duyên ,
" Hồng Ân Đại Xá Tam Niên " chuyển trần .
Nay con kỉnh lễ ân cần ,
Cầu xin VÔ CỰC hồng ân ban truyền .
Lạy THÀY điểm hóa diệu huyền ,
Xót thương trần tục là miền tao tân .
Xin cho Phật Thánh Tiên Thần ,
Ra tay tế độ hồng trần khổ đau .
Nghiệp con xin dứt trước sau ,
Cầu xin KIM MẪU vạch màu pháp duyên .
Cúi đầu Huỳnh Đạo Khai Nguyên ,
Chúng con hầu kỉnh Thượng Thiên hội này .
Thánh Thần Tiên Phật hiệp vầy ,
Chuyển lời khẩn vái đến Thày Cao Thiên .
Hóa hoằng chơn pháp Tam Niên ,
Từ Tôn Thượng Đẳng phước duyên ngàn đời .
Nguyện rằng lãnh pháp của Trời ,
Năng hành chẳng bỏ , chẳng lơi mặt bày .
Nam mô HUỲNH ĐẠO THIÊN KHAI ,
QUY NGUYÊN TAM GIÁO trần ai lập đời .

Theo từ điển Cao Đài :
Diêu Trì Kim Mẫu - Phật Mẫu Diêu Trì:
• 瑤池金母 - 佛母瑤池
• A: Buddha-Mother.
• P: Bouddha-Mère.
Kim Mẫu: là từ nói tắt của danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chơn thần cho vạn linh.
* Diêu Trì Kim Mẫu là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.
* Phật Mẫu Diêu Trì là Đức Phật Mẫu ở Diêu Trì Cung.
Đây là hai danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

I. Đức Phật Mẫu là ai?
Theo Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, khi chưa có Trời Đất, còn trong thời kỳ Hỗn Mang hay Hồng Mông, trong vũ trụ chỉ có một chất khí hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hợp, nhưng vô cùng huyền diệu, gọi là Khí Hư Vô (còn gọi là Tiên Thiên Hư Vô chi Khí).
Khí Hư Vô ấy lần lần ngưng kết rồi nổ ra một tiếng thật lớn, sanh ra một khối Đại Linh Quang, cũng gọi là Thái Cực, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng.
Vũ trụ từ đây bắt đầu có một ngôi Thái Cực duy nhứt, là Đại Hồn của một Đấng duy nhứt được gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà chúng ta thường gọi là Đức Chí Tôn.
Đức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương Quang và Âm Quang. Đức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương Quang, còn Khí Âm Quang chưa có ai chưởng quản, vì Càn khôn Vũ trụ lúc bấy giờ chỉ có một mình Đức Chí Tôn mà thôi. Đức Chí Tôn mới hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản Khí Âm Quang.
Vậy, nguồn gốc của Đức Phật Mẫu là một hóa thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ Khí Âm Quang, cầm phân nửa quyền lực của Đức Chí Tôn và luôn luôn tùng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn. (Khi Đức Chí Tôn tạo dựng ra Càn khôn Vũ trụ tới đâu thì Đức Chí Tôn tiếp tục hóa thân ra các Đấng khác để chưởng quản tới đó).
Vũ trụ tới đây đã có 2 khối chất khí vĩ đại là Dương Quang và Âm Quang, và có 2 Đấng đầu tiên cầm quyền Càn khôn Vũ trụ là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.
Sau đó, Đức Phật Mẫu vâng lịnh Đức Chí Tôn, thâu lằn sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Âm Quang phối hợp với Dương Quang để tạo hóa ra các từng Trời, các quả Tinh cầu và các Địa cầu, tạo thành Càn khôn Vũ trụ.
Tiếp theo, Đức Phật Mẫu tạo hóa ra Vạn linh nơi cõi Thiêng liêng vô hình. (Vạn linh gồm đủ Bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn).
Rồi Đức Phật Mẫu lại cho Vạn linh đầu kiếp xuống các Địa cầu tạo thành Vạn vật, tức là Chúng sanh. (Chúng sanh gồm: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại).
PMCK: Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.
* Mỗi một người nơi cõi thiêng liêng đều có 2 thể:
• Một Chơn linh, tức là Linh hồn, do Đức Chí Tôn ban cho. Chơn linh nầy chỉ là một điểm Linh quang do Đức Chí Tôn chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài, ban cho mỗi người để con người có được Tánh linh, có được sự sống và biết gìn giữ sự sống ấy.
• Một Chơn thần, tức là một Xác thân thiêng liêng hay Hình hài thiêng liêng, do Đức Phật Mẫu tạo ra và ban cho để làm hình thể vô vi, bao bọc Chơn linh.
Do đó, con người nơi cõi thiêng liêng gọi Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu. Ấy là 2 Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng vĩ đại nơi cõi Hư linh.
Khi con người ấy đầu kiếp xuống cõi phàm trần thì Chơn linh và Chơn thần của người ấy liền nhập vào thai nhi ngay lúc được sanh ra từ trong bụng bà mẹ phàm trần. Vậy:
* Một con người nơi cõi phàm trần có 3 thể:
• Chơn linh (đã giải ở trên) do Đức Chí Tôn ban cho.
• Chơn thần (đã giải ở trên) do Đức Phật Mẫu tạo ra.
• Xác thân phàm trần do cha mẹ phàm trần tạo ra.
Như thế, một con người nơi cõi phàm trần, ngoài hai Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa.
Tóm lại, toàn cả chúng sanh trong CKVT hay toàn cả Vạn linh, đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, dầu cho đó là những vị Phật cao siêu như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di-Lạc, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jésus, vv...Tất cả đều là con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.
Hiện nay, Đức Phật Mẫu ngự tại Cung Diêu Trì, ở từng Trời Tạo Hóa Thiên, là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.
Theo DLCK, Đức Phật Mẫu cùng các vị Phật: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, với Cửu vị Nữ Phật, và hằng hà sa số chư Phật khác, thường đi đến các cõi trần để dưỡng dục chúng sanh qui nguyên Phật vị.
Đức Phật Mẫu được nhơn loại tôn xưng bằng nhiều danh hiệu khác nhau, tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc và địa phương, kể ra như sau đây:
• Phật Mẫu, vì là MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh và Chúng sanh.
• Diêu Trì Kim Mẫu, vì Đức Phật Mẫu ngự tại DTC.
 • Kim Bàn Phật Mẫu, vì Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.
• Cửu Thiên Huyền Nữ, vì Đức Phật Mẫu rất huyền diệu, ngự tại từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.
• Đức MẸ thiêng liêng,
• Đại Từ Mẫu,
• Thiên Hậu,
• Địa Mẫu,
• MẸ sanh.
Đạo Cao Đài tôn thờ Đức Phật Mẫu là tôn thờ NGÔI ÂM, tức là Ngôi Thứ Nhì; còn NGÔI DƯƠNG là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức Ngôi Thứ Nhứt.
Đây là một Triết lý hết sức mới mẻ và đúng đắn mà từ trước tới nay các tôn giáo chưa từng có. Họ chỉ biết thờ Ngôi Dương mà thôi.
Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay của Đạo Cao Đài còn tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô TTTN, vì Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương chưa xây dựng. Chừng nào Hội Thánh xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương thì sẽ chánh thức thờ Đức Phật Mẫu tại đó và trả lại Báo Ân Từ làm đền thờ các bậc vĩ nhân có đại công với nhơn loại và các bậc tiền bối có đại công với Đạo, để hậu sanh tỏ lòng biết ơn theo đúng chức năng của nó như tên gọi Báo Ân Từ (nhà thờ báo ơn).

II. Quyền năng của Đức Phật Mẫu:
Quyền năng to lớn của Đức Phật Mẫu được cho biết trong hai bài kinh: Phật Mẫu Chơn Kinh và Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, và trong các bài Thánh Ngôn của Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho (Thánh Ngôn của Đức Diêu Trì Kim Mẫu có chép trong phần sau).
Một số quyền năng của Đức Phật Mẫu được biết kể ra:

■ 1. Chủ Âm Quang:Đức Chí Tôn làm chủ Dương Quang, Đức Phật Mẫu làm chủ Âm Quang, nghĩa là Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu làm chủ phần Âm trong toàn cả CKVT.
PMCK: Chủ Âm Quang thường tùng Thiên mạng.

■ 2. Chưởng quản Kim Bàn:Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu dùng chứa các nguyên chất để tạo Chơn thần (Xác thân thiêng liêng) cho con người nơi cõi thiêng liêng.
KĐ9C: Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất,
Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

■ 3. Chưởng quản Vườn Đào Tiên:Đức Phật Mẫu lập ra Vườn Đào Tiên và dùng các quả Đào Tiên ban thưởng cho các Chơn linh tu hành đắc đạo khi trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống.
PMCK: Chưởng Đào Tiên thủ giải trường tồn.
KĐ2C: Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,
Chơn thần khá đến hội hàng chư linh.
Hằng năm, đến kỳ Đào Tiên chín, Đức Phật Mẫu mở Hội Yến Bàn Đào nơi Diêu Trì Cung, dùng các quả Đào Tiên và Tiên tửu, đãi các Đấng Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

■ 4. Tận độ nhơn sanh:Toàn cả nhơn loại, nhứt là 92 ức nguyên nhân đang còn trầm luân nơi cõi trần, đều là con cái thương yêu của Đức Phật Mẫu. Đức Phật Mẫu tận dụng các hình thức giáo hóa để cứu độ tất cả con cái của Ngài, đem trở về cõi thiêng liêng, giao cho Đức Chí Tôn phán định phẩm tước và ngôi vị.
PMCK: Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên Cung.

■ 5. Chưởng quản Tạo Hóa Thiên:Tạo Hóa Thiên là từng Trời rất huyền diệu, cao nhứt trong Cửu Trùng Thiên.
Theo DLCK: "Tạo Hóa Huyền Thiên hữu: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, dữ Cửu vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh Kim Bàn Phật Mẫu, năng tạo năng hóa Vạn linh, năng du Ta-bà Thế giới, dưỡng dục quần sanh, qui nguyên Phật vị.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, thính Ngã dục tu phát nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu dưỡng dục quần linh; nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, huờn hư thi hình đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề xá lợi tử qui nguyên Phật vị, tất đắc giải thoát."
Nghĩa là: Từng Trời Tạo Hóa Thiên huyền diệu có: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, cùng với Chín vị Nữ Phật, như các cấp vô số Phật, tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, có khả năng tạo hóa tất cả Chơn linh, có khả năng đi đây đi đó đến các cõi trần, nuôi nấng chăm sóc chúng sanh, trở về nguồn cội là ngôi vị Phật.
Nếu như có người nam lành, người nữ lành, nghe theo lời Ta, muốn tu hành thì phát ra lời nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu nuôi nấng chăm sóc tất cả các Chơn linh ; nếu như có sanh ra, nếu như chưa sanh ra, nếu như có kiếp sống, nếu như không có kiếp sống, nếu như có tội, nếu như không tội, nếu như có lòng tưởng niệm, nếu như không có lòng tưởng niệm, trở lại cõi Hư Vô, thi hành đúng theo khuôn phép, được phẩm vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Chơn thần trở về nguồn cội là ngôi vị Phật, ắt được giải thoát.

■ 6. Quyền làm MẸ Vạn linh:Đức Phật Mẫu là bà MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh, mà Vạn linh thì gồm đủ Bát Hồn (tức là 8 phẩm Chơn linh) gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.
Nhưng tại sao quyền hành của Đức Phật Mẫu lại nhỏ hơn quyền hành của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hay Đức Di-Lạc Vương Phật?
Đức Hộ Pháp thuyết đạo Con đường TLHS giải như sau:
"Bần đạo đi ngang Cung Hỗn Nguơn Thượng Thiên , là nơi Đức Di-Lạc đã thâu pháp, đã định vị nơi ấy. Bần đạo có tả mà trong tâm còn mờ hồ, không biết tại sao, vì lẽ gì, Đức Phật Mẫu là MẸ mà phải chịu dưới quyền con là Đức Di-Lạc, trong bụng coi hơi bất mãn.
Liền khi ấy, Bần đạo ngó thấy cái tướng hình của Đức Phật Mẫu đứng đằng trước, còn Đức Di-Lạc ở đằng sau lưng, quì xuống, đưa hai bàn tay lên, đặng tỏ cho Bần đạo hiểu, dầu cho người con ấy mạnh mẽ, quyền hành thế nào, mà quyền MẸ vẫn là quyền MẸ, không thế gì qua được. Ngài chỉ tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu đặng trị thế mà thôi."
Cũng trong Con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thuật lại lúc Ngài vào Diêu Trì Cung bái kiến Đức Phật Mẫu, thấy cái huyền năng vô biên của Đức Phật Mẫu:
Bần đạo cùng các bạn kỳ trước đã ghé nơi Tạo Hóa Thiên, tức Tòa Thiên Cung Phật Mẫu là Diêu Trì Cung.
Bần đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: Huyền bí vô biên của Phật Mẫu.
"Bần đạo nói sơ lược huyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Đức Phật Mẫu, ta ngó trên mặt Ngài, ta thấy mặt bà mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về. Bần đạo tưởng ngó thấy bà mẹ sanh Bần đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người mẹ của họ vậy.
Nếu lấy theo cái trí học tưởng tượng không biết con mắt thiêng liêng có chiếu hình mẹ ta chiếu diệu ra không? hay là Huyền diệu vô biên của Phật Mẫu cho chúng ta thấy như vậy.
Bà mẹ hình hài chúng ta đây là nhơn viên của Đức Phật Mẫu bên phái nữ đó....
Có điều trọng hệ là dầu nam nữ cũng vậy, ráng giữ một điều nầy: Coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh Đức Phật Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền hậu vô cùng, hạnh phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại, nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."
Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. Trong Báo Ân Từ, Đức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu theo sự tích Hớn rước Diêu Trì, tức là vua Hớn Võ Đế cầu Đức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Điện:

Sự tích: Hớn rước Diêu Trì:
Vua Hớn Võ Đế hay Hán Vũ Đế (141-87 trước Tây lịch) là vị vua thứ 5 của nhà Hớn (Hán) bên Tàu, có hùng tài đại lược, nhưng cũng rất tín ngưỡng Trời Phật.
Khi Hớn Võ Đế mới lên ngôi, Ngài có phát nguyện lập một cảnh chùa thật tráng lệ gọi là HOA ĐIỆN để sùng bái Trời Phật. Gọi là Hoa Điện, vì chùa nầy được chạm khắc hình các thứ hoa trên các vật liệu xây dựng, nên mới trông vào thấy như là một Cung Điện toàn bằng hoa.
Ngôi chùa lớn lao cực kỳ xinh đẹp như thế, nhưng nhà vua chưa quyết định thờ Đấng nào, chỉ để trống, chủ tâm là chờ đợi đến chừng nào nhà vua thấy được sự huyền diệu hiện tượng ra thì nhà vua mới sùng bái.
Đến năm Hớn Võ Đế được 61 tuổi, nhà vua tổ chức một Lễ Khánh thọ Đáo tuế long trọng, Ngài có sở vọng cầu khẩn thế nào cho có Đức Phật Mẫu giáng xuống chứng lễ, nên nhà vua lập bàn hương án trước sân chùa cầu khẩn ngày đêm, mà không biết Đức Phật Mẫu ngự ở nơi nào và có thấu biết chăng?
Lúc bấy giờ có Ông Đông Phương Sóc, tu đắc đạo thành Tiên, mà trước kia Ông có làm quan trong triều đình của Hớn Võ Đế, sau về núi tu luyện, đang ngồi tịnh, chợt động tâm, liền đoán biết hiểu rõ mọi việc của Võ Đế nơi triều đình. Ông liền xuống núi, đi đến kinh đô, vào triều đình yết kiến Võ Đế.
Vua Hớn Võ Đế gặp Đông Phương Sóc thì rất mừng rỡ, thuật hết mọi việc cho Đông Phương Sóc nghe và nói rõ ước vọng của nhà vua nhân cuộc Lễ Khánh thọ Đáo tuế là sở cầu Đức Phật Mẫu đến chứng lễ, mà không biết Đức Phật Mẫu ở nơi nào, và nhờ ai đi thỉnh, may mắn có Đông Phương Sóc tới, vậy nhờ khanh giúp trẫm đi thỉnh Đức Phật Mẫu được chăng?
Ông Đông Phương Sóc tâu rằng:
- Bệ Hạ đã định thì hạ thần phục mạng, dầu khổ nhọc thế nào, hạ thần cũng đến Diêu Trì Cung thỉnh Đức Phật Mẫu, nhưng kết quả được cùng chăng là do lòng thành cầu nguyện của Bệ Hạ. Vậy xin Bệ Hạ ban chiếu cho Thần đi thỉnh.
Đoạn Đông Phương Sóc lãnh chiếu chỉ ra đi.
Ông dùng huyền diệu Tiên gia, chỉ trong chốc lát, Đông Phương Sóc đã đến được Diêu Trì Cung nơi cõi Tạo Hóa Thiên.
Đông Phương Sóc xin vào yết kiến Đức Phật Mẫu và tâu bày hết các việc của vua Hớn Võ Đế khẩn cầu.
Đức Phật Mẫu cảm động và phán:
- Phật Mẫu sẽ giáng phàm vào đêm Trung Thu chứng lễ Khánh thọ của Hớn Võ Đế theo sự khẩn cầu, sẽ đem theo 4 Tiên đồng nữ nhạc đờn ngâm bài chúc thọ, và tặng 4 quả Đào Tiên . Khi Phật Mẫu đến có Thanh loan báo tin trước.
Phương Sóc rất vui mừng, bái tạ Đức Phật Mẫu, rồi cấp tốc trở lại trần gian, tâu bày các việc cho vua Võ Đế biết.
Nhà vua rất vui mừng và hỏi: - Thanh loan là gì?
Đông Phương Sóc đáp: - Thanh loan là con chim loan màu xanh, đó là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu, dùng để chở Đức Phật Mẫu du hành khắp nơi.
Xin Bệ Hạ chỉnh trang cho long trọng, trang nghiêm, tinh khiết để nghinh tiếp Đức Phật Mẫu, phải lập bàn hương án bên trong và bên ngoài, xông hương khử trược.
Đêm rằm Trung Thu năm đó, trăng sáng vằng vặc, đầu giờ Tý, Hớn Võ Đế quì trước Hoa Điện, thành tâm cầu khẩn.
Xảy thấy một con chim Thanh loan đáp xuống sân Hoa Điện. Liền khi đó, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và bốn Tiên đồng nữ nhạc giáng lâm trước Hoa Điện.
Hớn Võ Đế cung nghinh Đức Phật Mẫu vào ngự nơi Chánh điện của Hoa Điện.
Đức Phật Mẫu dạy bốn Tiên đồng nữ nhạc trao tặng cho Hớn Võ Đế 4 quả Đào Tiên và ca ngâm bài chúc thọ. Ông Đông Phương Sóc quì, hai tay nâng cái dĩa lên để rước lộc (rước 4 quả Đào Tiên).
Bốn vị Tiên đồng nữ nhạc ấy có tên là: Hứa Phi Yến, An Phát Trinh, Đổng Song Thành và Vương Tử Phá.
Sau khi chứng lễ Đáo tuế của Vua Hớn Võ Đế xong, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng nữ nhạc cỡi chim Thanh loan trở về DTC nơi cõi Thiêng liêng.
Vua Hớn Võ Đế ghi nhớ hình ảnh của Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên, cho thợ khéo, tạc hình Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên nơi Hoa Điện để ghi nhớ sự tích và phụng thờ Đức Phật Mẫu.
Sự tích nầy được truyền tụng đến ngày nay.
Do đó, nơi thờ Đức Phật Mẫu được gọi là ĐIỆN chớ không gọi là ĐỀN.
Do theo sự tích nầy, Đức Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ như sau:
" 1. Trên hết là chơn dung Đức Phật Mẫu (ĐPM) cỡi thanh loan, tức là con chim loan màu xanh.
2. Kế đắp 9 pho tượng của Cửu vị Tiên Nương.
3. Đắp thêm 4 pho tượng của 4 Nữ nhạc theo hầu ĐPM.
4. Pho tượng ông Đông Phương Sóc quì bưng bằng hai tay một cái dĩa nâng lên khỏi đầu, trên dĩa có 4 quả đào Tiên do ĐPM ban tặng. Ông Đông Phương Sóc quì bên hữu ĐPM.
5. Pho tượng Đức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Điện.
Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ tự, kiểu xưa gọi là Hoa Điện.
Đáng lẽ tạo hình Hớn Võ Đế, nhưng vì đời Hớn Võ Đế đến nay quá xa thẳm, lại nữa, nguyên căn của Hớn Võ Đế là chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng phàm. Nay là thời Hạ nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, Bát Tiên lãnh lịnh giáng phàm làm tướng soái cho Đức Chí Tôn mở Đạo, Đức Cao Thượng Phẩm chính là chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Đế thì thuận hơn."
Thánh ngôn của Đức Phật Mẫu giáng dạy cũng khá nhiều, sau đây xin chép ra một bài tượng trưng:
Đàn cơ tại Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15-11-Tân Mùi (dl 23-12-1931)
Phò loan: Đức Hộ Pháp - Bảo Văn Pháp Quân.

DIÊU TRÌ KIM MẪU
Thiếp chào chư Hiền đồ Nam Nữ.
Có Từ Bi giá ngự, Thiếp nhượng cho Người, mà Người nhượng lại cho Thiếp giáng trước giáo hóa đôi điều. Thiếp phải tuân mạng. Chư Hiền đồ bình thân.
THI:
Từ Hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ,
Cho Thiếp quyền quản Khí Hư Vô,
Lấy Âm quang tạo phách tăng đồ,
Muôn vật cả lo cho sanh hóa.
Nuôi nấng lấy xác thân hòa hỏa,
Thuận Âm Dương căn quả hữu vi,
Chưa ai vào đến cõi trần nầy,
Chẳng thọ lấy Chơn Thần tay Thiếp.
Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp,
Rồi dắt dìu cho hiệp với CHA.
Kìa mớm cơm vú sữa cũng là,
Sanh một kiếp người ta đáng mấy!
Dầu hài cốt trăm năm cũng vậy,
Khối tình thương chẳng lấy chi nhiều.
Huống tạo Thiên đùm bọc chắt chiu,
Sanh một đứa liều ngàn thế kỷ.
Chịu mất trẻ cũng vì Tà mị,
Cướp con thương bỏ vị quên ngôi,
Ôi! Thương nhiều phen phải chịu ngậm ngùi,
Thấy thân trẻ nổi trôi biển khổ.
Trân trọng lấy hình hài dơ ố,
Còn thiêng liêng vô số tiếc thương,
Hằng trông mong con đặng phi thường,
Đem vào đặng con đường hằng sống.
Kể từ trước Thiếp là hình bóng,
Biết thương con chẳng mộng con thương,
Đạo dìu Đời bởi Thiếp lo lường,
Trên mới thuận khoáng trương phổ tế.
Kể từ trước Đạo còn bị bế,
MẸ thương con chẳng thế dắt dìu,
Nay cõi trần nghiệt chướng giảm tiêu,
Ngọc Hư định đã nhiều phép cứu.
Thiếp từ đặng Phái Vàng chí bửu,
Lịnh Chí Tôn khai mối Tam Kỳ,
Hằng ngày lo cho đám Nữ nhi,
Chẳng đủ trí sánh bì Nam tử.
Ơn nhờ có con là Long Nữ,
Đến thay thân Thiên sứ Từ Hàng,
Đùm bọc em, con ráng bước một đàng,
Đặng cho MẸ dễ dàng cứu rỗi.
Kìa Cực Lạc Niết Bàn đem đổi,
Lấy thân phàm làm mối giải oan,
MẸ trông con về cảnh an nhàn,
Ở trần thế muôn ngàn sầu thảm.
Cõi Thiên vị cho con còn dám,
Huống dạy khuyên mô phạm căn tu,
Chỉnh tiếc con chẳng rõ hiền ngu,
Đặng tự định công phu trọn phận.
Con thì đứa đường đời lẩn bẩn,
Con thì hay vay trở cơ mầu,
Mối huyền vi nào rõ cao sâu,
Cứ đeo đẳng mạch sầu nguồn thảm.
Con ví biết mình cao bực phẩm,
Thì phải toan cho dám phế đời,
Các em con chỉ để con ngươi,
Coi con bước mấy dời nối gót.
Lời cần yếu MẸ than cho trót,
Muốn dạy em, con khá xót xa chừng,
Phải hằng ngày ở dựa bên lưng,
Nhắc từ chuyện, khuyên răn từ việc.
Cửu Nương vốn nhọc nhằn chẳng tiếc,
Chỉ trách con chưa biết nhập trường,
Phải hiểu rằng lòng MẸ hằng thương...
                                         THĂNG 

ĐỊA MẪU CHƠN KINH.
"Nội dung và nguồn gốc
Nguồn gốc của sách này có lẽ xuất phát từ tiên đạo và được viết ra qua các buổi hầu bút và chịu ảnh hưởng bởi lưỡng cực âm dương của Đạo giáo.
Kinh được viết vào ngày mồng 9 tháng giêng năm 1829 tại tỉnh Thiểm Tây, phủ Hán Trung, thành Cố Huyện. miếu Địa Mẫu, người nhập đàn truyền (nói) "kinh" có tên là Phi Loan(飛鸞傳經 tạm dịch "Phi Loan truyền (nói) kinh).
Mặc dù một vài bản tiếng Việt của Địa Mẫu kinh được in trong thời gian gần đây có Tịnh tam nghiệp chân ngôn và tâm kinh bát nhã, chú vãng sanh v.v... của Phật giáo. Khiến người đọc có cảm tưởng như kinh do đức Thích Ca nói. Nhưng trong bản gốc tiếng Hán chỉ là bài trường thi thể song thất; Nội dung tính khuyến thiện, ca ngợi Phật mẫu - mẹ thiêng liêng của vạn linh và chúng sanh, lưỡng cực âm dương của tiên đạo và các cảnh giới siêu hình và hoàn toàn không có những bài kinh Phật giáo.
Người con bổn phận nguyện lành, trên khói hương này xin Mẫu ngự, cầu nguyện Ông bà Cha mẹ lục thân quyến thuộc, âm siêu dương thế. Gia đình hưng thịnh quyến thuộc tăng phước hoàn viên Phước Lộc thọ miên trường
 Sự tích
Vua Quang Tụ nhà Thanh lên ngôi trị vì ở nước Trung Hoa, vào năm thứ 9, nhằm tiết tháng giêng, ngày mồng chín, tại nơi tỉnh Thiễm Tây, phủ Hớn Trung, huyện Thành Cổ có Phật địa Mẫu ngự chim loan hiện xuống tận miếu Bà giáng cơ bút truyền ra kinh.
Phật địa Mẫu ngự trên cõi Thượng Tần tối cao đặt quyển Chân Kinh khuyên răn đời, dưỡng dục đời và bảo toàn tính mạng cho tất cả người đời.

Xưng tán địa Mẫu
- Địa Mẫu đấng tối cao giác ngộ
- Điển linh quang tế độ chúng sinh
- Hỡi ơi chớ có lạc lầm
- Lời vàng châu ngọc chỉ rành nẻo tu
- Cõi trần thế mịt mù tâm tối
- Phải nghe lời mẹ thuyết chân kinh
- Chớ ham vật chất lụy phiền
- Sớm mau thức tỉnh mẹ ban phước lành

 Sự hình thành
Tam cửu là 12, thập nhị Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo,Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Còn Nhị bát là 10 thập Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Can Chi là Âm Dương đó. Vì trong bát quái có phân chia làm 8 hướng, mỗi một hướng chia ra 8 quẻ, mỗi một quẻ chia ra 6 hào, cộng chung lại 64 quẻ, tẻ ra làm 384 hào. Đúng giờ mãn nguyện trúc cơ, thì trong thân của Mẫu xuất hiện ta sáu vị Thánh đế Minh quân. Kể dưới đây: Một là vua Thiên Hoàng, hai là vua Địa Hoàng, ba là vua Nhân Hoàng, bốn là vua Phục Hi, năm là vua Thần Nông, sáu là vua Hiên Viên. Qua đến đời vua Phục Hi thì ngài đã hiểu rõ máy biến hóa Trời Đất. Ngài bèn phân định hai khí Âm Dương và họa ra một cái bát quái Tiên Thiên rõ 8 hướng trong Kiền khôn Vũ Trụ. Đến đời vua Thần Nông thì ngài tiên đắc tìm kiếm ra được năm giống lúa và sáu thứ gạo. Đến đời vua Hiên Viên thì ngài kiếm ra đủ cách thế chế tạo ra y phục và các đồ vật dụng cho con người đời cần dùng chẳng sót món nào.
Lão Bà Địa Mẫu nầy tuy là vô hướng, chớ lão cầm quyền sữa trị và khảo sát cả nhân luân đạo lý. Vì bởi hồi mới mở mang ra một bầu khí mù mù mịt mịt thì đã có Lão Mẫu này hóa sinh ra trước. Mẫu là lớn hơn hết. Cái người mà tạo ra Thiên lập ra Địa là đây, thật là người căn gốc đó. Thưở đó có một mình Mẫu đứng ra làm thầy trước hết. Mẫu liền khai hóa mở mang ra có một mối Đạo và tuyên truyền phổ thông cũng có một phong tục cho tất cả nhân loại mà thôi. "
( Xin xem tiếp bài 2 )
Thân ái . dienbatn
Xem chi tiết…

MÙA XUÂN TA ĐI TA BÀ . BÀI 5.

3/03/2011 |
MÙA XUÂN TA ĐI TA BÀ.
CHÂU ĐỐC
                                                      
                                          
Nguyễn Thanh Liêm
 Châu Đốc là tỉnh địa đầu của Miền Tây Nam Việt, nằm bên biên giới Việt Miên. Phía Tây và phía Bắc của Châu Đốc là nước Kampuchia(Cao Miên) . Phía Đông và Đông Nam là hai tỉnh Kiến Phong và An Giang. Rạch Giá, tức tỉnh Kiên Giang là tỉnh giáp giới phía Nam của Châu Đốc. Diện tích của tỉnh Châu Đốc là 2,759 cây số vuông. Tỉnh lỵ ở cách Sài Gòn 245 cây số đường bộ, về hướng Tây. Châu Đốc là vùng đất sau cùng trong quá trình thành hình của Miền Nam nước Việt. Năm 1757 vua Miên là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long cho Chúa Nguyễn để trả ơn, trong đó có Châu Đốc. Thời này Châu Đốc chỉ là một địa điểm quân sự, một đồn binh của Việt Nam, một “đạo” theo chữ dùng thời Gia Long – Minh Mạng, chưa có dân chúng định cư sinh sống. Từ năm 1817 trở đi Châu Đốc mới bắt đầu trù phú nhờ chính sách mở rộng cương vực của Chúa Nguyễn. Triều đình đặt chức Quản Đạo, Cai Phủ để mộ dân đến khai khẩn đất đai mở mang nông nghiệp. Kinh Vĩnh Tế đào xong lại đem thêm cho Châu Đốc nguồn nhân lực và tài lực rất đáng kể. Xin mời bạn hãy cùng tôi đi một chuyến về miền biên tái xa xôi này.


Yếu tố địa lý núi non sông nước có giá trị văn hoá vô cùng quan trọng ở đây. Hai nhánh lớn của Cửu Long còn rất gần nhau là Tiền Giang và Hậu Giang đều chảy qua tỉnh này. Ở đây người xưa xem sông Cửu Long là con sông quý nên còn có tên Bửu Giang. Qua khỏi Châu Đốc hai nhánh sông này mới bắt đầu dang ra dần. Châu Đốc là con đường giao thông và giao lưu quan trọng giữa hai quốc gia và hai dân tộc Miên Việt. Kinh Vĩnh Tế quan trọng nổi tiếng của Miền Nam dọc theo biên giới Việt Miên, nằm trong tỉnh này. Núi Sam với miểu Bà Chúa Xứ hằng năm có cả trăm ngàn người về dự lễ Vía Bà, và Thất Sơn huyền bí – “Miền Năm Non Bảy Núi” – đều ở nơi đây. Thất Sơn, ngọn núi quý hay Bửu Sơn, là cái nôi của một tôn giáo quan trọng của Miền Tây Nam Phần là Bửu Sơn Kỳ Hương với sự nối tiếp của Phật Giáo Hoà Hảo. Châu Đốc cũng là nơi sinh sống của một bộ phận rất quan trọng của dân tộc Chăm (hay người Chàm) mà người miền Nam thường gọi là Chà Châu Giang. Chúng ta hãy duyệt qua những nét văn hoá đặc thù của tỉnh ven  biên này.


Trước Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất người dân Châu Đốc chưa biết trồng lúa sạ. Họ vẫn theo lối trồng lúa nước cổ truyền của dân Việt. Lối trồng lúa cổ truyền này thất bại hoàn toàn ở vùng này vì vào mùa mưa, “mùa nước nổi”, nước sông Cửu Long dâng cao từ 1.5 thước đến 4.5 thước làm cho lúa chết và mùa màng bị hư hại hết. Người nông dân rất khổ sở, họ phải đi mua lúa gạo từ những nơi khác đem về sinh sống. Phải đến khoảng cuối thập niên 1920 nhờ sự khám phá ra giống “lúa sạ” của ông Phan Văn Vàng người nông dân mới gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp với loại ruộng bị nước ngập mênh mông vào mùa nước nổi ở vùng này. Lúa sạ là loại lúa không cần phải cấy, chỉ cần rải hạt giống (sạ) xuống ruộng rồi tự nó sẽ mọc lên. Đặc biệt là nó cứ lên cao theo mực nước, mực nước sông Củu Long lên cao bao nhiêu thì lúa cũng cao theo bấy nhiêu. Người Pháp gọi nó là lúa nổi (riz flottant), loại lúa hoàn toàn thích hợp với vùng nước nổi ở Long Xuyên Châu Đốc. Giống lúa này đã có từ xưa ở Miên nhưng người Việt mình chưa biết đến. Ông Phan Văn Vàng sống về nghề mua bán cá sấu ở bên Miên. Trong khi qua lại mua bán bên đó ông thấy được cách trồng lúa sạ của người dân Miên. Ông bèn mua lúa giống này đem về phổ biến ở Châu Đốc. Lúa sạ phát triển nhanh từ đó, đem lại nguồn lợi lớn lao cho nông dân vùng Châu Đốc Long Xuyên. Người dân ở đây nhớ ơn ông Vàng, lấy tên ông đặt tên đường trong thành phố như ở Tân Châu chẳng hạn. Trong quận lỵ Tân Châu có con đường mang tên Đường Phan Văn Vàng là vậy.


Ngoài lúa sạ Châu Đốc còn nổi tiếng về tơ tằm, nhất là ở quận Tân Châu. Từ xưa Tân Châu đã nổi tiếng là “xứ tằm tang”. Các làng mạc ở đây đều có trồng dâu nuôi tằm, đặc biệt là ở các xã Vĩnh Hoà, Tân An, Vĩnh Xương, Long Phú. Một số xã lân cận, thuộc quận khác cũng trồng dâu nuôi tằm như Thường Phước, Long Khánh, Long Thuận (quận Hồng Ngự). Hàng danh tiếng ở Tân Châu là lãnh “Mỹ A” rất được dân Miền Nam ưa chuộng. Gần đây khi các lò nhuộm bắt đầu nhuộm bằng mặc nưa thì lãnh Mỹ A càng được người ta ưa thích hơn nữa vì hàng đen mướt và không phai màu. Trái mặc nưa xưa kia phải mua từ Kampuchia nhưng sau này người ta cũng bắt đầu trồng ở Việt Nam.
Có loài cá đặc biệt có rất nhiều ở vùng Châu Đốc, nhất là ở miệt Tân Châu, Hồng Ngự, nhiều đến độ người ta phải dùng làm phân bón vì ăn không hết, mà làm mắm hay làm nước mắm cũng không hết. Đó là con cá linh, một giống cá trắng có vảy nhỏ, xuất phát từ vựa cá thiên nhiên của biển Hồ bên Miên. Hằng năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch thì nước sông Cửu Long bắt đầu quay (nổi màu đục ngầu từng cụm từng cụm  quay quay), tức là từ đó nước mưa từ trên nguồn bắt đầu đổ nhiều vào sông Cửu Long khiến nước dâng lên dần thật cao. Khi nước quay thì cá linh bắt đầu nở con li ti bằng cọng chân nhan. Các con cá linh con li ti này bắt đầu rời nơi sinh ra đời, thả lênh đênh theo dòng nước Cửu Long, trôi giạt về miền Châu Đốc Long Xuyên, xuống tận miền Hậu Giang. Nước sông mênh mông tràn lên đầy ruộng đồng vườn tược, cá linh cũng tràn lan theo nước, chổ nào cũng có. Lúc này cá linh đã lớn bằng đầu chiếc đủa. Đợi lúc nước hạ (thượng tuần tháng 10 âm lịch), chúng lần lượt ngược giòng Cửu Long trở về quê hương biển Hồ. Người ta đánh cá linh bằng cách xây đáy, ven đăng, đặt rọ theo mương, theo mấy khúc doi, theo các ngọn rạch, hoặc “vồn” (tức là xúc cá linh bằng dụng cụ đặc biệt giống như cây vợt thật to gọi là vồn). Người ta đi vồn cá linh bằng ghe, gọi là ghe vồn. Những người chỉ đánh cá linh để ăn trong nhà thì dùng một thứ dụng cụ đươn bằng tre gọi là “bò”. Qua mùa cá linh “lên” (ra đầy sông rạch) thì dọc theo bờ sông Tiền Giang từ biên giới Miên xuống đến Vàm Nao (xã Hoà Hảo), bến nào cũng có người ta thả “bò”, đốt đuốc dài dài theo bờ sông, nhộn nhịp kéo “bò”gọi nhau ơi ới làm vang dội cả một góc trời. Trong một đêm, mỗi cái bò có thể được kéo lên đôi ba dác, và mỗi dác như vậy có thể có đôi ba giạ cá linh. Đó chỉ là người thường đánh để ăn trong nhà. Những ghe đáy chuyên môn đánh cá linh để làm mắm và làm nước mắm thì không biết bao nhiêu giạ mà kể. Cá linh có thể nướng, có thể nấu chua, có thể kho hầm. Làm gì ăn cũng béo, cũng bùi cũng rất là ngon miệng. Đầu cá linh ăn cũng rất ngon, nhất là đầu cá linh kho hầm ăn với cơm cháy thì ngon hơn bánh mì cá mòi nhiều lắm.
Nói đến Châu Đốc là phải nói đến Núi Sam. Núi Sam ở cách tỉnh lỵ Châu Đốc 5 cây số. Núi Sam nổi tiếng vì ở đây có Miểu Bà Chúa Xứ, có Chùa Tây An và có Lăng Thoại Ngọc Hầu. Trong các đền thờ ở Miền Nam hiện nay có lẽ Miểu Bà Chúa Xứ là nơi quy tụ khách thập phương về nhiếu nhất, hơn cả Miểu Bà Đen ở Tây Ninh. Đây là một ngôi miếu rộng, vách gạch lợp ngói, nơi chánh điện có pho tượng Bà rất to, sơn phết rực rỡ. Tượng này không biết do ai tạc nhưng theo các nhà cổ học thì đây là tượng kiến trúc theo các nhà tạc tượng đạo Bà La Môn có thể vào khoảng trước thời Đế Thiên Đế Thích. Tượng cao 1 thước 25, nặng trên một tấn. Trước kia tượng đặt ở lưng chừng núi. Thoại Ngọc Hầu phu nhơn xây dựng Miếu ở dưới chân núi rồi cho thỉnh tượng về đây. Tương truyền rằng lúc đầu phải dùng nhiều người đàn ông lực lưỡng để di chuyển nhưng đám đàn ông này không cách gì khiêng nổi bức tượng, sau cùng phải nhờ đến sức của hằng trăm trinh nữ mới xê dịch được pho tượng rất linh thiêng này. Hai bên bàn thờ Bà có hai câu đối nói lên sự linh ứng của Bà:
“Cầu tất ứng, thành tất linh, mộng trung chỉ thị,
  Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.”


Tín ngưởng Bà Chú Xứ là tín ngưởng chịu ảnh hưởng hay đã được vay mượn của người Chàm. Trong quá trình phát triển về phương Nam người Việt đã giao lưu, vay mượn một số nét (traits) văn hoá, nhất là về kỹ thuật và tín ngưởng, của những dân tộc khác như Chăm và Khmer. Ở Châu Đốc, hay nói rộng ra cho cả Miền Tây Nam Phần, chỉ có hai cuộc lễ qui tụ đông đảo quần chúng nhất, đó là ngày “Vía Bà” ở núi Sam và ngày kỷ niệm thành lập giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo tại Thánh Địa Hoà Hảo. Ngày Vía Bà là ngày 25 tháng 4 âm lịch, và ngày kỷ niệm thành lập Phật Giáo Hoà Hảo là ngày 18 tháng 5. Vào những ngày này đường lưu thông thường bị tắt nghẻn bởi những đợt người từ các nơi tựu về.
Cách Miểu Bà Chúa Xứ chừng vài trăm thước là Chùa Tây An. Chùa được xây cất vào năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) lúc đầu còn nhỏ, lợp tranh với một ít tượng Phật do Tổng đốc Doản Uẩn thiết lập. Dần dần khách thập phương đến chùa dâng cúng nhiều tượng Phật khiến sau này chùa phải mở rộng ra và chứa trên 140 cốt Phật. Ngoài tượng Phật chùa có thờ cả tượng Thần Nông, Huỳnh Đế, Ngọc Hoàng. Ở phía hậu đường, ngay căn giữa có đặt một bàn thờ lớn trên đó có một pho tượng có mang mắt kiếng, cằm có râu, mặc áo nâu sồng, vẻ mặt từ ái. Đó là tượng Đức Phật Thầy Tây An, người đã làm cho ngôi chùa này phát triển không ngừng từ mấy chục năm qua. Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên, sinh ngày rằm tháng mười năm Đinh Mão (1807) tại làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Déc. Đức Phật Thầy bỏ nhà ra đi từ lúc nhỏ, không biết đi đâu làm gì? Mãi đến năm Kỷ Dậu (1848) Ngài mới trở về quê cũ. Ngay lúc đó bệnh dịch tả đang hoành hành ở vùng này. Ngài ra tay cứu chửa làm cho bao nhiêu người thoát chết. Tên tuổi Ngài vang dội khắp nơi, bổn đạo theo Ngài càng lúc càng nhiều khiến chánh quyền đâm ra lo ngại, phải tìm cách quản thúc Ngài ở Châu Đốc. Để tiện việc kiểm soát, chánh quyền chỉ định cho Ngài đến ở tại Chùa Tây An. Tại đây Ngài đã cảm hoá được vị hoà thượng ở chùa này và thu hút hằng vạn tín đồ về với Ngài. Từ đó người ta xem Ngài như một vị Phật, và tôn xưng Ngài là Phật Thầy Tây An. Đạo của Ngài cũng là đạo Phật nhưng cách lập giáo của Ngài khác hơn cách lập giáo của các nhà sư đương thời. Ngài giản dị hoá thủ tục thờ cúng, không gỏ mõ tụng kinh, không cạo đầu mặc áo cà sa, không cần phải cất chùa xây tượng Phật. Tu ở đâu cũng được, miễn tránh điều ác, làm điều lành, rửa lòng trong sạch, thực hành bốn ơn lớn (Tứ Ân) là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào nhân loại. Giáo lý của Ngài có phần mâu thuẫn với khung cảnh của chùa Tây An với hằng trăm tượng Phật bên trong. Thật ra thì chùa đã được xây dựng từ lâu trước khi Ngài bị chánh quyền đưa tới. Việc dâng cúng tượng Phật đã có từ trước và Ngài không muốn chen vào, thay đổi chính sách sẵn có của chùa. Đạo của Ngài cũng được gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương là nguồn gốc của Phật Giáo Hoà Hảo sau này.


Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm ở chân núi Sam, bên trái con đường Châu Đốc – Tịnh Biên. Qua nhiều bậc đá người ta sẽ lên đến một sân rộng ở trên cao có bốn trụ đá khổng lồ đứng sừng sửng ở phía trước, và nhiều ngôi mộ cái cao cái thấp ở bên trong. Sau hàng chục ngôi mộ là một đền thờ xây dựng dưới những tàn cây u nhả. Đền xây bằng tường vôi, nền đá tựa lưng vào núi Sam. Thoại Ngọc Hầu có nhiều công đối với triều đình nhà Nguyễn và nhất là có nhiều công ơn đối với người dân Miền Nam. Gốc người Quảng Nam, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, theo Gia Long đánh Tây Sơn, đi công cán bên Xiêm, bên Miên và Lào, giử nhiều chức vụ quan trọng như Chưởng Cơ Bắc Thành, Trấn Thủ Lạng Sơn, Trấn Thủ Định Tường, Bảo Hộ Cao Miên, Trấn Thủ Vĩnh Thanh, Khâm Sai Thống Chế án thủ Châu Đốc, v v. . . Nhưng công tác được người đời nhớ nhiều nhất là công việc khẩn hoang và đào kinh. Ông bảo : “Thần thụ mệnh vua, siêng năng kính cẩn, nhóm dân lập ấp, tuỳ xem địa thế: một đường ngang song song ra đến trường giang, một đường thẳng lên Sốc Vinh, một đường ngay đến Lò Gò. Vổ về dân sự, mở mang thôn ấp, khai khẩn ruộng vườn, tuy trong muôn phần chưa thoả mãn được một, nhưng đem nay mà sánh xưa, thì đã khác lạ lắm.”  Ngoài những công việc quan trọng trên, ông còn đào hai con kinh rất có giá trị quân sự, kinh tế, chính trị và xã hội đối với Miền Nam. Con kinh thứ nhất ăn thông từ Long Xuyên qua Rạch Giá được triều đình nhà Nguyễn đặt tên là Thoại Hà và núi bên cạnh kinh là núi Thoại Sơn (lấy tên của Nguyễn Văn Thoại). Con kinh thứ nhì quan trọng hơn nữa, đó là con kinh chạy dài từ Châu Đốc đến Hà Tiên, dọc theo biên giới Miên Việt. Kinh này được vua Minh Mạng đặt tên là Vĩnh Tế Hà, và phần núi Sam bên cạnh kinh này được đặt tên là Vĩnh Tế Sơn (Vĩnh Tế là danh xưng của Nhất Phẩm phu nhân của Bảo Hộ Thoại).


Ngoài núi Sam, Châu Đốc còn có phần núi Thất Sơn, vùng núi đầy mầu nhiệm huyền bí của rất nhiều người dân Miền Nam cũng như dân Khmer trước đó. Danh xưng linh thiêng của vùng này của người Miền Nam là vùng “Năm Non Bảy Núi”. Bảy núi tức là Thất Sơn (thất là bảy, sơn là núi). Bảy núi này là : (1) Núi Két (Anh Vũ sơn), (2) núi Giày 5 giếng, gần núi Két (Ngũ Hồ sơn), (3) núi Gấm hay núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), (4) núi Tượng (Liên Hoa sơn), (5) núi Nước gần núi Tượng (Thuỷ Đài sơn), (6) núi Dài (Ngoạ Long sơn). và (7) núi Tô (Phụng Hoàng sơn). Còn Năm Non là năm cái chỏm cao (còn gọi là “Vồ”) của Núi Cấm. Năm cái vồ đó là : Vồ Bò Hong, Vồ Đầu, Vồ Bà, Vồ Ông Bướm, và Vồ Thiên Tuế. Thất Sơn nằm trong khu tam giác Tịnh Biên – Nhà Bàng – Tri Tôn, choán một khu vực dài 30 km, bề ngang độ 17 km (khoảng 1/7 diện tích tỉnh Châu Đốc). là một pháo đài thiên nhiên vô cùng kiên cố bên cạnh Kampuchia và Thái Lan, án ngữ cả vùng biển Hà Tiên, Rạch Giá. Thất Sơn là nơi trú ẩn, và là mật khu của những anh hùng chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX. Thất Sơn cũng là vùng linh địa là cái nôi của Phật giáo Miền Nam hay Bủu Sơn Kỳ Hương. Phật Thầy Tây An, Phật Trùm, Ông Đạo Khoai đều đã từng tu luyện nơi đây. Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hoà Hảo cũng đã từng vào đây học đạo. Đối với các nhà tu hành, các nhà tôn giáo, cũng như một số người hiểu biết thuở xưa thì Thất Sơn chứa nhiều huyền bí nhiều nhiệm mầu mà người thường không biết được. Người ta thường nói đến Thất Sơn hay vùng “Năm Non Bảy Núi” với lòng tôn kính sợ sệt từ xưa đến giờ. 
Trong toàn tỉnh Châu Đốc có bảy thôn ấp có người Chăm ở. Đó là các thôn ấp Koh Ta-boong (mà người Pháp âm là Kotampong), Hà Bao, Vĩnh Trường, Phum Soài, Khánh An, Khánh Bình và Châu Giang. Người Việt ở Miền Nam gọi họ là Chà Và hay Chà Châu Giang. Thật ra họ là người Chàm gốc ở Miền Trung. Vì trốn tránh chiến tranh một số đã sang sinh sống ở Kampuchia. Năm 1755 khi Nguyễn Cư Trinh bình định Cao Miên có chiêu dụ một số người Chăm về vùng Tây Ninh, Hồng Ngự và Châu Giang Châu Đốc khai khẩn ruộng vườn, góp phần ngăn chặn giặc Miên vùng biên tái xa xôi này. Hồi năm 1932 một số người Chăm ở vùng Phan Rang Phan Rí theo Lê Văn Khôi chóng lại triều đình Huế. Thất bại nhóm người này bị tàn sát rất nhiều. Một số phải bỏ xứ trốn đi qua Kampuchia, một số rút lên Miền Thượng, và một số đến nương ngụ với những đồng bào Chàm ở Châu Đốc. Người Việt ở đây thấy họ giao thiệp với Mả Lai, sang học đạo ở Pattani mới lầm tưởng họ là người Mả Lai và mới gọi họ là Chà Và hay Chà Châu Giang. Tiếng Chà Và do tiếng Java (ở Nam Dương) mà ra. Đối với người Chăm, danh xưng Chà Và là một danh xưng có tính cách khinh miệt cũng giống như danh xưng An Nam mà người Hán đã gán cho người Việt mình vậy. Người Chăm ở Châu Đốc theo Hồi giáo. Họ cử thịt heo, khi có người chết thì chôn chớ không thiêu như đạo Bà La Môn. Con trai khi lớn lên khoảng 13, 14 tuổi thì phải chịu lễ cắt quy đầu (circoncision), còn con gái thì khuê môn bất xuất. Theo tục lệ của người Hồi giáo, khi có khách đàn ông đến nhà thì đàn bà rút vào trong không được tiếp khách. Thỉnh thoảng cũng có người Chăm lấy vợ Việt Nam nhưng ngược lại người ta không thấy có người đàn ông Việt Nam nào lấy được vợ Chăm có lẽ vì những tập tục khắt khe đối với phụ nữ của người Hồi giáo. Mỗi ngày người Chăm phải hành lễ 5 lần, tiếng Mả Lai gọi là Sambahyăng, và mỗi năm phải chịu một tháng Ramadan (khoảng tháng 4 – 5 dương lịch) là tháng họ phải nhịn đói, không được hút thuốc và phải kiêng cử cả việc chung chạ với đàn bà. Nhịn đói, chịu khổ nhục là để thông cảm nổi khổ đau củng người nghèo khổ và nhân đó con người sẽ cảm thấy biết ơn Thượng Đế Allah. Người Chăm cử hành đại lễ Roya, đọc kinh Coran và đi chúc mừng nhau giống như ngày Tết của người Việt Nam vậy. Xin mượn lời Dohamide & Dorohiêm nói về Koh Ta-booong, một thôn ấp khép kín của người Chăm ở bên kia bờ Hậu Giang ngang tỉnh lỵ Châu Đốc, trong quyển “Bangsa Champa” của hai ông để kết thúc bài viết về tỉnh này:
“Từ bên này bờ sông nhìn sang bên kia, không xa lắm, chỉ vào khoảng 50 thước là cùng, tiếng trẻ em vui đùa vẫn vọng mồn một sang bên này bờ, nhưng thực tế là hai thế giới khác biệt. Thật vậy, nhà cửa bên kia sông, thường đắp nền cao rồi dựng cột và vách lên, bên trong nhà có bàn thờ tổ tiên, bày biện bàn ghế, giường ngủ có chân cao. Hầu như trước nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhỏ gọi là “bàn ông Thiên” buổi chiều khói hương nghi ngút. Bên này sông, trái lại, nhà nhà đều có sàn; cột thường bằng cây nguyên bào nhẵn, cao khỏi đầu người, mặt tiền nhà nào cũng có một cái thang rắn chắc bằng gỗ, và bên trong nhà hầu như không có bàn ghế, nên khi khách đến nhà thì chủ nhà trải chiếc chiếu hoặc tấm thảm, để chủ khách cùng ngồi xếp bằng trên sàn gỗ. Nhà cửa cất phần lớn sát vào nhau, cả làng hầu như không có nhà nào trồng rau quả, vườn tược, nhứt là vườn trầu xanh tươi như bên kia bờ.
Người dân bên này bờ thường vận chăn sà-rong vấn quanh mình, dài đến gót chân, bình thường gọi người dân bên đất liền là yuôn, và ngược lại, những người yuôn này lại gọi người dân bên cù lao là Chàm, có khi là Chà, và khi có chút gì không bằng lòng nhau thì gọi là . . . Chà và. Người dân bên cù lao sống bao quanh chúng tôi tự gọi mình là người Chăm, trong sanh hoạt hằng ngày, sử dụng một ngôn ngữ riêng không phải tiếng Việt mà là tiếng Chăm.
Vào thập niên 1940, thời Pháp thuộc, xã hội người Chăm ở Koh Taboong sống còn rất khép kín, nên chỉ một số ít người có giao dịch với bên ngoài mới nói và hiểu được chút ít tiếng Việt. Do thiếu giao lưu về văn hoá và xã hội, giữa người Chăm bên này bờ và người Yuôn bên kia bờ rạch, đều có một số thành kiến với nhau về một số mặt thực tế trong sanh hoạt hằng ngày. Cụ thể, người Yuôn dùng đủa ăn cơm thì bị người Chăm chê là Đáng Tạo Hoá (Allah) đã tạo ra bàn tay cho con người sử dụng, thì tại sao lại đi dùng hai chiếc đủa để gắp đồ ăn được xem là rizki, tức ăn phước của Đáng Tạo Hoá ban cho như vậy? Ngược lại người Yuôn lại tỏ ra gớm tục ăn bốc của người Chăm, có vẽ như không mấy hợp vệ sinh. Mãi về sau này, tôi mới được rõ, người Yuôn và người Chăm thuộc hai nền văn minh khác biệt, một bên là nền văn minh đôi đủa, và một bên là nền văn minh ăn bốc, mỗi nền văn minh bao trùm một số dân tộc sanh sống trên một vùng bao rộng của trái đất. Có đi sâu tìm hiểu thì mới biết tập tục ăn bốc là tập tục chung của người A Rap, người Thổ, người Ấn Độ, người Mả Lai, người Nam Dương, v v . . . đòi hỏi cả một kỷ thuật, tạo thành thói quen từ hồi còn bé thơ, trước và sau khi ăn, phải rửa tay, chỉ sử dụng ba ngón giữa và ngón cái của bàn tay mặt để đưa cơm vào miệng, trong khi bàn tay trái chỉ để cầm những gì dơ bẩn.” ( Dohamide & Dorohiêm, Bangsa Champa, tr. 26-28).
    
http://thatsonchaudoc.com/banviet2/NguyenThanhLiem/GopNhat/ChauDoc.htm
Xem chi tiết…

BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ĐẠO VĂN CỦA DIENBATN.

3/02/2011 |
BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ĐẠO VĂN CỦA DIENBATN.
Đã lâu lắm , dienbatn không đọc báo giấy. Bữa qua vô tình cầm một tờ báo của người khác bỏ lại trên ghế mới thấy một chuyện lạ như sau . Tờ báo ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ( Cơ quan Trung ương của Hội Luật gia Việt Nam ) số 24 ra ngày thứ năm 24/2/2011 có đăng bài " Hóa giải nỗi khiếp sợ mang tên Trùng tang " của tác giả Vương Hà.








 
Vấn đề Trùng tang liên táng đã được dienbatn nghiên cứu và công bố từ rất lâu trên các trang web và Blog của mình. các bạn có thể truy cập những bài viết đó tại đây :
Tại đây :
Tại đây :
Tại  đây :
Và còn rất nhiều trang web khác đăng tải lại.

Trùng tang liên táng là một hiện tượng có thật trong cuộc sống của chúng ta . Không có nhiều tư liệu viết về hiện tương này , nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng với nhau những trường hợp chết phạm vào Trùng tang liên táng hết sức đau thương , thậm chí có nhà nhân đinh đông đúc là thế mà chỉ vài ba năm phải chịu cảnh tuyệt tự . Tại miền Bắc Việt Nam có một trung tâm nhốt Trùng lớn nhất nước : Đó chính là chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh .Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ.   Nơi đây từ ngày xưa , các vị sư tăng đã có những phương pháp Trấn Trùng rất huyền bí mà hiệu quả . Hàng ngày , vào buổi chiều , các sư ở đây phải nấu một nồi cháo to , cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây, bữa nào quên là gà vịt của dân quanh vùng thay nhau chết la liệt .  Ngoài ra , tại miền Bắc Việt Nam , từ xưa đã  có các môn phái Pháp Sư theo Bắc Tông , Pháp sư các môn phái Phù thủy của đồng bằng bắc Bộ nhất là tại các tỉnh Bắc Ninh , Hải Phòng , Nam Định ... có khả năng hóa giải Trùng tang liên táng rất hay . Thông thường , các vị sư trong chùa chỉ học theo đạo Phật chứ ít khi học theo kiểu Pháp sư , Phù Thủy , thế nhưng đặc biệt ở chùa Hàm Long - Bắc Ninh , Liên Phái - Hà Nội và một vài chùa nữa lại có những bộ ván khắc in phù giải Trùng tang liên táng từ hàng trăm năm .
Trùng tang liên táng là một hiện tượng rất hay xảy ra trong cuộc sống , nó được cha ông ta nghiên cứu từ ngàn xưa . Biểu hiện của nó là sau khi trong nhà có một người bị chết vì bất cứ lý do nào , sau 49 ngày thì trong dòng họ trực hệ của người mất lần lượt có hiện tượng chết nhiều người thường là có nguyên nhân không xác đáng hay chết bất đắc kỳ tử . Nhiều trường hợp như dienbatn gặp tại Hà Tĩnh , sau khi người cha mất , lần lượt 9 người con trai của người đó chết vì những lý do không ngờ được : Chết đuối , chết cảm , chết tai nạn giao thông ....Cuối cùng chỉ còn duy nhất bà mẹ già 90 tuổi sống côi cút với mấy con bò. Khi gặp , dienbatn ngồi tính lại mới thấy rằng , ông cụ khi chết phạm cả 4 cái trùng tang : Năm , tháng , ngày , giờ . Ngồi nhìn bà cụ còm cõi theo mấy con bò , dienbatn ứa nước mắt . Nếu có hiểu biết sớm , chắc chắn sẽ cứu được rất nhiều người con của bà . Chỉ tiếc rằng - Đất Hà Tĩnh ngày xưa có nhiều Thày giỏi , nay đã quy tiên hết mất rồi .
Trùng tang liên táng hoàn toàn có thật , bản chất của sự việc này ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào khả dĩ có thể giải thích được . Trong quá trình nghiên cứu về hiện tượng này , dienbatn cho rằng đó tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng . Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng . Vì lý do " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu " hay hiện tượng cộng hưởng tần số . .  Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương :Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của Trùng ,nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào.Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống ,dòng họ.Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều,nên trong lý thuyết về Nhạc,loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia ).Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.  Chính điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang liên táng mới bị , còn những người khác và con Dâu , con Rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hường .
Trùng tang liên táng là một sự thực , dù cho người ta đến ngày hôm nay vẫn chưa tìm ra bản chất của nó . Từ xa xưa , người Việt chúng ta đã có quá trình theo dõi , điều trị có hiệu quả việc này . Thực ra sau khi tính toán và phát hiện ra người chết phạm vào Trùng tang liên táng , việc điều trị rất đơn giản và hiệu quả rất cao . Điều cần thiết là khi phát hiện ra phải điều trị càng sớm càng tốt . dienbatn xin giới thiệu một số phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng có kết quả mà dienbatn sưu tập được và một vài phương pháp dienbatn thường sử dụng đạt được kết quả khá tốt .  Một điều cần chú ý là có nhiều phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng , nhưng những phương pháp của Tiên Gia , Phù thủy , Đạo gia thường là những phương pháp bắt nhốt Trùng . Cách này tuy hiệu quả nhưng thực ra rất nguy hiểm vì khi công lực của Thày còn cao , Trùng còn phải chịu hãm trong vòng tù ngục , nhưng khi Thày chết , không còn ai cai quản nhà tù nữa , Trùng sẽ thoát ra gây ảnh hưởng rất nặng đến Gia đình Thày và Thân chủ . Phương pháp tốt nhất là dùng Mật Tông , trì chú cho Trùng được siêu thoát , sau đó hồi hướng công đức cho họ . Phương pháp này dùng những năng lực của Phật pháp , siêu độ cho Trùng rất tốt , khiến cho Trùng sớm siêu thăng tịnh độ , không còn làm ác được nữa .
Có nhiều cách hóa giải Trùng tang liên táng theo nhiều pháp môn . Mỗi pháp môn có cái hay và cái dở riêng . Trong Nam dienbatn chưa thấy có người nào hay môn phái nào chú ý đến hiện tượng này . Ngoài Bắc thì cách đây gần 1000 năm ( Thời Lý ) đã có những trung tâm trấn trùng nổi tiếng là Chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh . Chùa này còn lưu giữ bộ ván khắc Bùa Trấn trùng đầy đủ nhất . Sau này , không hiểu cơ duyên nào , chùa Liên Phái tại Hà Nội cũng có được bộ ván khắc này .
Qua một thời gian nghiên cứu khá lâu , từ một bài thuốc Trấn trùng tang liên táng bí truyền của dòng họ , dienbatn đã kết hợp sử dụng một số Sớ , Phù Bắc Tông được vẽ hai lớp bằng mực và Kỳ Nam ( Tinh chất của Trầm Hương ) và vận dụng Đàn pháp Mật Tông Tỳ Lô Giá Na , Dược Sư , Chuẩn Đề, tụng chú liên tục trong 3 ngày sẽ là một thứ thuốc dùng để xông mộ và người rất hiệu quả . Phương pháp này khi xông xong mộ và người sống , chúng ta vẫn được thờ cúng người mất như bình thường , không cần phải gửi lên chùa Hàm Long . Trải qua hàng trăm trường hợp đã thực hiện trong những năm vừa rồi , tỷ lệ thành công trấn Trùng là 100% . Nguyên lý của bài thuốc này là không bắt nhốt Trùng và Vong hồn người chết nhốt vào tháp , mà dùng hơi thuốc , kết hợp với Quang năng của chư Phật , cầu siêu , giải thoát cho Trùng , biến nó từ Âm Binh thành Thiên Binh . Sau khi vỡ cái Vô Minh vốn có , họ rất vui mừng , cảm tạ . Cách này làm cho Vong linh của người mất , nhờ các Đà La Ni của chư Phật cũng được giải thoát rất nhanh . Có những trường hợp do Trùng đã xâm nhập cơ thể , các phương pháp khác đành bó tay thì sau khi xông thuốc của dienbatn cũng đều được qua khỏi . Về bản chất của vấn đề theo cách hiểu của Khoa học thời nay thì do tác động của thuốc xông , của Phù , chú ...hiện tượng cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống sẽ không xảy ra nữa .
Trong sách kinh Phúc Âm có viết " Phúc cho ai không thấy mà tin " . dienbatn biết rằng vấn đề Trùng tang liên táng không khỏi có người nghi ngờ , diễu cợt . Tuy nhiên , mạng sống của con người là vô cùng quan trọng . Đừng để đến lúc xảy ra mất người rồi thì hối cũng không kịp . Mỗi khi trong nhà có người mất , các bạn nên giành 10 phút để kiểm tra theo hướng dẫn ở trên , 10 phút đó nhiều khi giá trị bằng nhiều mạng người đó các bạn .
 Các bài viết của dienbatn đăng tải trên mạng đều công bố các công trình nghiên cứu của mình Free để phục vụ cộng đồng, các bạn có thể đăng tải về sử dụng. Tuy nhiên khi đăng tải nhớ kèm theo đường dẫn nguồn trích dẫn. Việc báo ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT ( là cơ quan trung ương của hội Luật gia Việt Nam ) khi sử dụng tư liệu của dienbatn cũng nên chứng tỏ mình là những Luật gia đúng nghĩa.
Thân ái. dienbatn.
Xem chi tiết…

2/02/2011 |
CHÀO TẾT NĂM TÂN MÃO 2011.
dienbatn chúc tất cả các bạn hữu gần xa trong và ngoài nước một cái Tết an lành, hạnh phúc, vạn sự như ý.
Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *