CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.
Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên dienbatn đăng tiếp loạt bài CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
3. Các vị thần khác .
2/Thần Sarasvati, nữ thần của học vấn và là thần đỡ đầu của nghệ thuật, khoa học và ngôn từ - Vợ của Brahma .
Saraswati (Sanskrit: सरस्वती, Sarasvatī ?) là một vị thần trong đạo Hindu (Nữ thần Devi), thần của tri thức, âm nhạc, nghệ thuật và thiên nhiên. Bà là một trong ba vị thần bao gồm Saraswati, Lakshmi and Parvati. Ba nữ thần cùng nhau hỗ trợ các nam thần là Brahma, Vishnu và Shiva trong sự sáng tạo, duy trì sự sống và sự hủy diệt của vũ trụ.
Tên vị thần trong Tiếng Miến Điện là Thurathadi (သူရဿတီ, phát âm [θùja̰ðədì] hay [θùɹa̰ðədì]) hay Tipitaka Medaw (တိပိဋကမယ်တော်, phát âm [tḭpḭtəka̰ mɛ̀dɔ̀]), trong Tiếng Hoa là Biàncáitiān (辯才天), trong Tiếng Nhật là Benzaiten (弁才天/弁財天) và trong Tiếng Thái là Surasawadee (สุรัสวดี).
Sarasvati là người phối ngẫu của Thần Sáng Tạo Brahman – một trong ba vị thần chúa tể của Hindu giáo. Nữ thần được mô tả trong nghệ thuật Ấn với một cung cách uy nghi sang trọng, mặc sari trắng, ngự trên tòa sen trắng, có bốn tay cầm các thứ như: kinh sách-xâu chuỗi hoặc hoa sen trắng–đàn sita. Bốn tay này còn tượng trưng cho bốn khía cạnh của con người trong chuyện học tập: trí nhớ-thông minh-sự nhanh trí và bản sắc cá nhân. Vật cưỡi của Nữ Thần là con ngỗng trắng.
Lễ cúng Nữ Thần được gọi là Sarasvati Puja
Có một phong tục Hindu là: nếu ai nuốt được bảy hạt gạo (tượng trưng cho các bộ môn văn học nghệ thuật) dâng cúng cho Nữ Thần Kiến thức, người đó sẽ trở nên thông thái học một biết mười. Thế là học trò chen lấn nhau giành giật từng hạt gạo rơi ra từ các bàn thờ trong đền thờ Sarasvati.
Các đồ cúng trong ngày Vasant Panchami: quan trọng nhất là đèn bơ, gạo , bột vàng và phấn (để viết tên lên các bề mặt quanh đền).
Saraswati được xem là một nữ thần cực kì xinh đẹp, mặc bộ sari trắng, có 4 cánh tay. Thần thường cầm đàn Mala tượng trưng cho âm nhạc và cành cọ, tượng trưng cho trí tuệ, thần cưỡi trên lưng con Thiên Nga tay cầm một cuốn sách. Thần còn là nữ thần của Lời nói (Trí tuệ được diễn đạt qua lời nói).Theo Veda, trước kia Sarawasti là một con sông thiêng, đã bị lời nguyền của nhà hiền triết Utathya làm cạn khô.Trong lễ thờ nữ thần Saraswati, người ta thường đặt một cây bút, giá để bút và một quyển sách trước tượng thần."Trong thần thoại Ấn Độ,Nàng là nữ thần của các con sông và vị thần bảo hộ của ngôn luận,sự lắng nghe và ghi nhận,nghệ thuật và khoa học.Chồng của nàng là Brahma." Trong Ấn Độ giáo Saraswati (tiếng Phạn: सरस्वती sarasvatī) là nữ thần của kiến thức, âm nhạc và nghệ thuật. Cô là vợ của Brahma.Saraswati được coi là "mẹ của các Vedas". Saraswati được biết đến như một vị thần hộ mệnh của Phật giáo,Nàng đã duy trì những lời dạy của Phật bằng cách bảo vệ và trợ giúp cho các tín đồ. Cô được biết đến ở Miến Điện là Thurathadi hay Tam Tạng Kinh Medaw. Trung Quốc như là Biàncáitiān (辩才 天),ở Thái Lan như Surasawadee (สุรัสวดี) và tại Nhật Bản như Benzaiten (弁 才 天 / 弁 财 天).
Trong các tiểu bang Bihar, Ấn Độ Đông, Tây Bengal, Orissa Saraswati được coi là một con gái của Durga cùng với chị gái là Lakshmi và anh trai là: Ganesha và Karthikeya. Trong Rigveda, Saraswati là một con sông cũng là một nữ thần. Trong thời đại Vệ Đà sau, cô bắt đầu để mất tước vị như một nữ thần sông và ngày càng trở nên gắn liền với văn học, nghệ thuật, âm nhạc,v.v... Trong Ấn Độ giáo, Saraswati hiện thân của sự thông minh, ý thức, kiến thức về vũ trụ, sáng tạo, giáo dục, giác ngộ, âm nhạc, nghệ thuật, tài hùng biện và quyền lực.
Sarasvati vẫn còn tồn tại trong thế giới Ấn giáo ngày nay, và có tầm quan trọng còn hơn chính cả Brahma. Trong sự sùng bái thông thường, Sarasvati là biểu tượng của Thần Nữ Tri Thức và Học Vấn. Có thể nguồn gốc của Sarasvati liên hệ đến truyền tích làm khô cạn dòng sông Sarasvati ở Rajasthan, nhưng không như Brahma, thần nữ Sarasvati vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong sự sùng bái của người Ấn giáo mãi cho đến ngày nay. Hình ảnh Sarasvati thường thấy là màu trắng, cỡi trên lưng con thiên nga, tay cầm một cuốn sách. Sarasvati có thể được thấy với nhiều đầu và nhiều tay, biểu tượng cho sự gia hộ tất cả các môn học về khoa học và nghệ thuật. Sarasvati được tôn sùng nhiều nhất ở các trường và đại học.
Nghĩa đen của tên Sarasvati là một trong những người cung cấp cho các kiến thức cần thiết (Sara) . Nữ thần Sarasvati cũng được coi là giáo dục, trí thông minh, hàng thủ công, nghệ thuật, và kỹ năng. Cô là vợ của Brahma, người được coi là nguồn gốc của tất cả các kiến thức, Sarasvati là kiến thức bản thân. Vì vậy, nhiều sinh viên hoặc thậm chí các học giả có thể tôn thờ nàng cho phước lành của cô. Cô được miêu tả là trắng da, và khá xinh đẹp và duyên dáng. Cô thường được miêu tả ngồi trên tòa sen, tượng trưng cho những kinh nghiệm của các chân lý tuyệt đối. Vì vậy, cô không chỉ có kiến thức mà còn là kinh nghiệm của thực tế cao nhất. Cô giữ trong bốn tay cô một một akshamala ( chuỗi hạt cầu nguyện) ở trong tay phải, và một Pustaka (cuốn sách) ở bên trái, đại diện cho kiến thức của tất cả các ngành khoa học. Cầm cuốn sách hay kinh điển trong một tay cũng chỉ ra rằng kiến thức này có thể đưa chúng ta đến sự thật. Các hình tượng cho thấy vẻ đẹp của mỹ thuật, và trí tuệ với kiến thức của mình, và do đó người tôn thờ cô có thể hòa hợp với vũ trụ. Các hạt cầu nguyện đại diện cho tất cả các ngành khoa học tâm linh, như thiền định và japa (chanting tên của Thần linh), và được nắm trong tay phải, nó là quan trọng hơn kiến thức thế tục chứa đựng trong cuốn sách trong tay trái của cô.Bốn tay này còn tượng trưng cho bốn khía cạnh của con người trong chuyện học tập: trí nhớ-thông minh-sự nhanh trí và bản sắc cá nhân. Bốn cánh tay cô đại diện cho quyền lực không giới hạn của mình trong bốn hướng. Cô cũng thể hiện sự sáng tạo, hoặc sự kết hợp của sức mạnh và trí thông minh, sự sáng tạo.
Tên của cô có nghĩa là một dòng chảy, có thể được áp dụng cho những suy nghĩ, lời nói, hoặc dòng chảy của một con sông. Cô là vị thần của một con sông trong Rig-Veda. Cô có các tên khác bao gồm Sarada , Brahmi (vợ của Brahma), Mahavidya (chủ kiến thức tối cao), Bharati (hùng biện), Maha-Vidya (kiến thức siêu việt), Arya (một quý tộc), Maha-vani (siêu việt ), Kamadhenu , Dhaneshvari (thiên tính của sự giàu có), và Vagishvari (lời nói yêu thương). Nó là kiến thức biểu hiện bằng hành động. Nó là thông qua ngôn ngữ mà cô và viết được tiết lộ. Cô cũng là đôi khi hiển thị với năm khuôn mặt và tám tay, đại diện cho quyền hạn của mình. Đôi khi cô cũng thấy cưỡi trên một con thiên nga, là phương tiện vận chuyển của người phối ngẫu , Brahma. Vào những lúc khác, cô được nhìn thấy lần cưỡi trên một con công . Con công đại diện cho vẻ đẹp của thế gian, mà có thể làm sao lãng sự mong mỏi tinh thần. Con thiên nga nghĩa việc mua lại của trí tuệ và kiến thức, vì nó có khả năng tách sữa từ nước khi ăn, và do đó nó thu được sữa. Sarasvati cũng là shakti hay quyền lực và vị phối ngẫu của Brahma, đấng sáng tạo của vũ trụ. Vì vậy, cô cũng được coi là một người mẹ của vũ trụ. Bằng cách này, cô cũng được tượng trưng cho khả năng sinh sản.
Phù điêu nữ thần Sarasvati, phát hiện tại tháp Chánh Lộ.
Người ta đi đến các đền miếu Sarasvati để lễ bái trong ngày Vasant Panchami. Ở Kathmandu, Ngôi đền linh thiêng nhất cho ngày này lại chính là đền Manjusri trên đồi Swayambu.
Thật ra không lạ vì Manjusri-Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong truyền thống Phật giáo chính là Bồ Tát chủ về Kiến Thức-Học Vấn. Người Hindu ở Kathmandu thì cho rằng ngôi đền này là đền Sarasvati còn Phật tử thì cả quyết đó là đền Manjusri, người sáng lập ra Kathmandu. Mọi chuyện tranh cãi bắt nguồn từ lịch sử thành lập Kathmandu trong huyền sử .
Đền Majusri-Sarasvati trên đồi Swayambhu.
Thần Sarasvati - niên đại TK XII.
Brahma là vị Thần sáng tạo, đem sự vật từ trạng thái hỗn nguyên vô định sang trạng thái cá thể phân biệt. Brahma sanh ra từ một quả trứng vàng kết tinh trong lòng biển « Vô Xứ », hay, theo một truyền thống khác, nảy sanh trong một đóa sen nở ra từ cái rốn của Vishnu, trong khi Vị này nằm ngủ trên mặt biển. Phải chăng cuộc sống cũng như vũ trụ phân biệt trong bản chất chỉ là một giấc mơ (Vishnu ngủ mơ thấy vũ trụ), nảy sanh từ tính chấp ngã, từ sự chiêm ngưỡng cái rốn của mình (hoa sen nở từ rốn của Vishnu cho ra Brahma ). Mơ ngủ cũng là VÔ MINH, nên sự vật trong căn bản không có thực tánh, mà chỉ là hệ quả của vô minh, một quan niệm sau này được lập lại trong Phật Giáo.
Từ trán của Brahma, sanh ra một nữ thần, Sarasvati, con gái của ngài. Huyền thoại Hy Lạp cũng có chuyện tương tự với Athena sanh ra từ đỉnh đầu của Zeus. Địa vị của Zeus và Brahma có thể được coi như tương đương.
Sarasvati nhảy múa quanh Brahma. Và Brahma động lòng thèm muốn con gái mình. Sarasvati uốn éo trước mặt Brahma, rồi sang bên trái, sang phía sau, sang bên phải của Ngài. Mỗi lần như vậy Brahma lại mọc thêm một cái đầu. Tổng cộng bốn cái, mỗi cái nhìn về một hướng. Phải chăng vị Thần sáng thế cũng đã sáng tạo ra cái quy luật luân lý lên án sự loạn luân, khiến Ngài không thể tự cho phép mình quay đầu nhìn theo người đẹp như mỗi người chúng ta ? Chưa hết, Brahma ý thức sự ham muốn loạn luân của mình, nên mọc thêm một cái đầu thứ năm, lần này không nhìn Sarasvati nữa mà nhìn lên trời, như tìm một sự thăng hoa, giải thoát. Cái đầu thứ năm này mang búi tóc, biểu tượng của sự tu hành, của người Đạo Sĩ. Vấn đề loạn luân đặt ra ở đây phù hợp với quan điểm của Claude Lévi Strauss, cho rằng ranh giới giữa thuần phác tự nhiên (nature) và văn hóa văn minh (culture), tức cái ranh giới gữa con người và súc vật, nằm ở những quy luật về loạn luân. Cũng cần nói Sarasvati là Nữ Thần của nghệ thuật, của hiểu biết, văn hóa, văn minh. Chữ Sanskrit, một biểu tượng văn hóa, được coi như một phát minh của Bà. Tựu trung, trong tiến trình sáng tạo thế giới, và đồng thời tự tạo, Brahma thoát khỏi trạng thái « thiên nhiên » và bước vào « văn hóa », « văn minh » với ý thức … loạn luân ! Có thể nói là chính vào lúc ấy, Brahma đã trở thành « người » …( http://nguyen.hoai.van.pagesperso-orange.fr/).
Dòng sông Sarasvati là một trong các sông nữ thần ở Rigveda. Tên Sanskrit nghĩa là "có nhiều hồ bơi".
Một dòng sông huyền thoại Saraswati . Được mô tả trong Saraswati có Annwati và Udkwati. Con sông được luôn đầy nước và phong phú các hạt phù sa . Nói nó đến từ các sông ở Punjab, Ambala và Kurukshetra Sirmur vùng núi của Ấn Độ đã được nhập vào sông Sirsa Karnal ở bang Patiala Drisdwati (Kangar) . Trong thời cổ đại, nước sông tưới cho nhiều địa điểm trong Rajputana. Theo thời gian, nó đã biến mất khỏi tất cả những nơi này, nhưng người ta vẫn luôn tâm tưởng trong ý niệm rằng Prayag: salila đi. Mnusnhita rõ ràng là đất giữa Brahmavarta gọi là Muse và Drisdwati.
Những người Hindu hành hương đến các thành phố thánh của Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành; Haridwar được tôn sùng vì nó là nơi sông Hằng rời dãy Himalaya; còn Allahabad, nơi dòng sông Saraswati huyền thoại được người ta tin là chảy vào sông Hằng. Cứ 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri. Chính vì những điều đó, nên tâm nguyện lớn nhất của người Ấn là trong đời người ít nhất được một lần đến tắm tại sông Hằng và khi chết được mang xác về Varanasi, thành phố bên bờ sông Hằng để làm lễ hỏa thiêu rồi thả tro xuống dòng sông ngay tại nơi này. Varanasi mà ngày xưa người Trung Quốc và người Việt Nam gọi là Tha La Nại nằm cách xa New Delhi về phía đông khoảng 500 km và là thành phố cổ có tuổi đời chừng 3.000 năm. Varanasi ngày nay vẫn còn nguyên khu thành cổ do một vị tiểu vương xây dựng cách đây hàng ngàn năm. Khu thành cổ này nằm dọc bờ tây sông Hằng cùng với một số đền thờ Hindu tạo nên một quần thể kiến trúc độc đáo mang tính cách linh thiêng đối với người theo đạo Hindu. Phải chăng vì lẽ đó mà dù sông Hằng là con sông dài nhất Ấn Độ, chảy qua nhiều vùng lãnh thổ của đất nước này nhưng người Hindu vẫn chỉ muốn về đây tắm hoặc làm lễ hỏa táng rồi thả tro xuống dòng sông mẹ huyền bí ?. Vào ngày lễ, hai bên bờ sông Hằng ở Varanasi không còn chỗ chen chân.
Dự kiến hơn 100 triệu người Hindu giáo sẽ tham dự Maha Kumbh Mela. Người hành hương Hindu đổ xô đến hợp lưu của 3 dòng sông Hằng, Yamuna và Saraswati để tắm rửa và gột sạch tội lỗi của mình để được ơn cứu độ. Mười triệu người hành hương được cho là đã tắm trong dòng sông vào ngày đầu tiên, với toàn bộ sự kiện kéo dài 55 ngày. Cứ 12 năm, lễ hội Kumbh Mela diễn ra ở một nơi, nhưng lễ hội năm nay là Maha Kumbh Mela chỉ xảy ra mỗi 144 năm và được xác định dựa trên lịch chiêm tinh.
Người Hindu tắm trong hợp lưu của 3 dòng sông để rửa sạch tội lỗi.
CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.
Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên dienbatn đăng tiếp loạt bài CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
3. Các vị thần khác .
1/ Nữ thần Laksmi - nữ thần của sự giàu có và may mắn - Là vợ của Vishnu .Tên gọi khác: Mahalakshmi, Padma, Kamala …
Lakshmi (Sanskrit: लक्ष्मी lakṣmī, phát âm tiếng Hindi: [ˈləkʃmi]) là một nữ thần Ấn Độ giáo, tượng trung cho sự giàu có, thịnh vượng (cả về vật chất lẫn tinh thần), vận may và sắc đẹp. Nàng chính là vợ thần Vishnu. Còn được gọi là Mahalakshmi, nữ thần được mọi người tin rằng sẽ mang đến may mắn và đưa những người sùng đạo thoát khỏi cảnh cơ cực và những nỗi phiền muộn về tiền bạc. Những hình tượng tương đồng của Lakshmi cũng được tìm thấy trong các di tích đạo Jaina. Nữ thần Lakshmi là vợ của Vishnu, vị thần của sự bảo vệ và gìn giữ. Cùng với nhau, đây được xem là cặp đôi phúc thần trong thần thoại Hindu, luôn mang đến những điều tốt lành cho mọi người. Trong thần thoại Hindu, câu chuyện về nữ thần Lakshmi luôn mang nhiều màu sắc tươi đẹp nhất. Khi nàng sinh ra từ một đóa sen hồng trên đại dương vũ trụ, nàng lập tức được mọi người nâng đỡ, đeo trang sức vào người, và thờ phụng cho đến ngày nay. Lakshmi xinh đẹp được miêu tả trên các tranh vẽ luôn nở nụ cười mỉm chi tươi tắn, có nước da bánh mật, ngồi trên một tòa sen nở bung, hai tay cầm sen thể hiện sắc đẹp, sự tinh sạch và sự sung túc.
“Đồng nghiệp” của Lakshmi là thần trở ngại Ganesha. Khi nàng gieo tiền bạc, sự giàu có cho ai đó thì thần Ganesha luôn chắn lối, ám chỉ sự khó khăn trong chuyện kiếm tiền. Nhưng khi Lakshmi bảo Ganesha dọn dẹp lối đi, tức nghĩa nàng muốn người đó nhận được sự may mắn về tiền bạc. Lakshimi luôn mặc những bộ váy sari đỏ thêu chỉ vàng tượng trưng cho sự thịnh vượng. Nàng đem lại sự may mắn tốt lành cho những người thờ phụng, cũng như bảo vệ họ khỏi những nỗi đau khổ vật chất, tiền bạc.
Lakshmi cũng giống như “ông táo” ở nước ta, được mọi gia đình người Hindu thờ phụng hằng ngày. Tuy nhiên, tháng lễ chính Lakshmi Puja của nàng diễn ra vào tháng mười hằng năm.
Thần Lakshmi, còn được gọi là Mahalashmi (Thần này là vợ của thần Vishnu).
Hằng năm cứ vào tháng 10, tháng 11 trong năm là người dân Ấn Độ lại tổ chức ngày lễ kỷ niệm để nhớ tới nữ thần Lakshmi – nữ thần sắc đẹp của Ấn Độ.
Lakshmi là nữ thần tượng trưng cho sắc đẹp, người là hiện thân cho sự phong phú, thịnh vượng, giàu có và hạnh phúc. Hầu hết người dân Ấn độ đều thờ nữ thần, ai ai trên đất Ấn độ cũng đều biết tới nữ thần.
Theo truyền thuyết để lại, nữ thần Lakshmi được sinh ra và lớn lên trên một một đóa hoa sen từ biển sữa. Hình ảnh xuất hiện của nữ thần thường là ngồi hoặc đứng trên chiếc ngai đài sen vàng của mình, hai tay mang theo hai bông sen với những lời chúc phúc, ban phước lành, tình yêu cho những người cầu nguyện, kèm theo đó còn có đồng tiền vàng tượng trưng cho sự giàu sang phú quý ban tới cho người dân.
Lakshmi hướng cho con người bước ra từ trong bóng tối, mang lại cho họ niềm tin và hy vọng, chỉ cần bạn cầu nguyện, Lakshmi có thể nghe thấy lời cầu nguyện của bạn ở bất cứ nơi đâu. Bạn có thể cảm nhận được rằng bạn có thể sẵn sàng làm được bất cứ việc gì nhờ có sự phù hộ của nữ thần Lakshmi.
Lakshmi là một nữ thần có sức mạnh đặc biệt, cô mang tới cảm giác may mắn trong cả những khoảnh khắc đen tối nhất, cô được coi như vũ trụ kết nối sức mạnh, truyền cho con người lòng dũng cảm, hy vọng và sức mạnh. Bạn đời của Lakshmi cũng là một vị Thiên chúa, là người bạn thân nhất của mình – một vị thần đầy sức mạnh, lòng dũng cảm, và trí thông minh.
Buổi lễ tưởng nhớ tới nữ thần Lakshmi có tên là Deepvali của người dân Ấn, đây là buổi lễ đặc biệt vì nó là ngày đại diện cho sự ngọt ngào, hạnh phúc, phồn vinh và thịnh vượng của những con người thờ nữ thần Lakshmi.
Vào đêm trước của buổi lễ, người dân ở đây thường đốt pháo hoa, pháo sáng để xua đuổi vị thần tối Alakshmi – là chị gái của Lakshmi. Sau đó những người phụ nữ xếp những chiếc đèn nhỏ vào gần cửa sổ nhà mình để cho nữ thần lakshmi đi vào và mang may mắn đến cho nhà mình.
Vào chính buổi lễ, mọi người thường mang bánh kẹo, đồ ngọt tới chùa hay cúng tại nhà của họ để Lakshmi ban cho họ nhiều may mắn, tài lộc hơn. Sau đó bánh kẹo được phát cho những trẻ em cơ nhỡ, mồ côi, và đặc biệt là những tín đồ nghèo. Mọi người thường cầu nguyện những điều tốt lành nhất cho mình và người thân trước khi ăn bánh kẹo cùng với người bạn đời của mình.
Và ngày nay để tưởng nhớ tới vị thần sắc đẹp Lakshmi, người dân Ấn độ đã tự tay tạo ra những bông hồng mạ vàng 24k, là tượng trưng cho tình yêu, sắc đẹp và sự trường tồn mãi mãi của Lakshmi.
Bông hồng vàng là sản phẩm thủ công của các nghệ nhân người Ấn, được lựa chọn từ những bông hồng thật đẹp nhất, phủ một lớp hóa chất bên ngoài, sau đó là tới lớp vàng 24k khiến cho bông hoa có tồn tãi mãi theo thời gian.
Hoa hồng là tượng trưng cho sức mạnh của tình yêu.
Màu vàng của hoa tượng trưng cho sự giàu có, sung túc mà nữ thần mang lại cho người sở hữu bông hoa hồng Lakshmi.
Sở hữu một bông hồng vàng Lakshmi giống như mang lại cho bạn tất cả: tình yêu và tiền bạc, sự may mắn, lòng dũng cảm,... trong cuộc đời của mình. ( http://doca.com.vn/ ).
Đại lễ hội/Tết Dipawali-Tihar dành riêng để cúng lễ Nữ thần Thịnh Vượng-May Mắn-Sắc Đẹp Lakshmi. Diwali đánh dấu cuối mùa thu hoạch của một năm ở hầu hết các nơi trên lãnh thổ Ấn Độ. Người nông dân bày tỏ lòng biết ơn đến các thần linh về những gì người ta thu hoạch được trong năm và cầu mong cho mùa màng bội thu vào năm tới. Nữ thần Lakshmi tượng trưng cho sự may mắn, giàu có thịnh vượng được tôn trí nghiêm trang trong lễ hội này. Ai cũng mong sự hộ trì của nữ thần này sẽ đem lại nhiều vận may cho năm tới.Ngày nay, trong lễ hội Diwali, bên cạnh thờ cúng thần Lakshmi, người ta cũng thờ cúng thần Ganesha (thần đầu voi) tượng trưng cho trí tuệ và giàu sang để thể hiện mong ước có được một cuộc sống viên mãn hơn. Lễ hội Diwali, với người theo đạo Hindu, là lễ hội lớn nhất trong năm. Người theo đạo Jain và đạo Sikh cũng tổ chức lễ hội này với ý nghĩa riêng của tôn giáo họ. Các lễ hội ở Ấn Độ đều gắn liền với các truyển thuyết và lễ hội Diwali cũng không là ngoại lệ. Ngày nay, tín đồ các tôn giáo Hindu, Jain và Sikh trên khắp toàn cầu coi đây là “lễ hội ánh sáng” với ý nghĩa đốt ánh sáng trí tuệ và thiện lành để xua tan bóng tối ngu muội và xấu ác nơi mỗi con người chúng ta.
Lễ hội Diwali có nguồn gốc từ việc kết thúc vụ mùa thu hoạch trong năm. Lễ hội này đánh dấu thời điểm khép lại một năm trước khi bước vào mùa đông. Nông dân không ra đồng, người buôn bán không mở cửa tiệm trong suốt thời gian lễ hội diễn ra và sau lễ là bắt đầu một năm với mùa vụ mới và khởi điểm một năm cho công việc kinh doanh. Thần may mắn và hộ trì về tài lộc theo đạo Hindu là nữ thần Lakshmi được thờ kính trong ngày này như là biểu hiện của sự biết ơn chư vị thần linh. Vào ngày lễ chính, tượng nữ thần Lakshmi được tôn trí nơi thờ phượng và mọi người cầu nguyện vị thần này hộ trì cho họ được mọi điều hanh thông trong năm tới.
Có lẽ có nhiều bạn đã từng đến phi trường Suvarnabhumi tại Bangkok, Thái Lan. Ở sảnh lớn của phi trường ấy, các bạn thấy một cụm tượng rất đẹp miêu tả 2 nhóm người dùng thân mình một con rắn khổng lồ xoay một cái trục có con rùa lớn làm trụ để khuấy đảo biển cả. Cụm tượng này tên là Samudra manthan theo Sanskrit, nghĩa là The Churning of the Milk Ocean (Sự tích Khuấy Động Biển Sữa), diễn lại một chuyện trong thần thoại Ấn Độ (tích này thường được mô tả tại các đền thờ Hindu mà hoành tráng nhất là ở Angkor Wat, Cambodia). Và đấy cũng chính là sự tích xuất hiện của Nữ thần Lakshmi.
Samudra manthan ở phi trường Suvarnabhumi tại Bangkok.
Ngày xửa ngày xưa, Indra (Hán Việt là Đế Thích, Vua của các thần linh theo thần thoại Ấn Độ), một hôm cưỡi voi đi dạo. Khi đi ngang qua một khu rừng, một vị ẩn sĩ đứng bên đường dâng tặng Indra một mala (vòng hoa). Theo phong tục Ấn, đấy là một hành động tôn kính vì vòng hoa tượng trưng cho Shri (Sanskrit nghĩa là May mắn, Fortune). Indra hoan hỷ nhận lễ vật ấy và đặt lên vòi con voi mà mình đang cưỡi. Nhưng xui xẻo thay, vòng hoa làm từ hoa rừng ấy lại có mùi rất hắc. Con voi liền vứt vòng hoa xuống đất và lấy chân giẫm nát. Một hành động cực kỳ xúc phạm và báng bổ.
Vị ẩn sĩ liền hiện nguyên hình là một vị thần tên là Durvasa Muni. Ông ta nguyền rủa Indra và toàn bộ các vị thần (Devas) sẽ bị mất hết sự bất tử, quyền phép, báu vật và sự may mắn giống như các yêu tinh (Asuras).
Hay tin ấy, các Asura liến kéo đến thách thức các vị thần đã mất hết quyền phép và của cải nhằm chiếm lấy thiên giới.
Lo lắng vì có thể mất hết tất cả, các Deva liền tìm đến sự tư vấn của Vishnu, Thần Bảo Hộ-một trong ba vị thần tối cao của Hindu. Vishnu tiết lộ thông tin rằng trong lòng Biển Sữa ( Samudra theo Sanskrit, dịch tiếng Anh là Milk Ocean, có lẽ là Vịnh Bengal ngày nay) có chứa rất nhiều báu vật kể cả một bình chứa Amrita (Nectar of Immortality-Nước/Mật Trường Sinh Bất Tử). Vishnu cố vấn cho các thần thách thức các Asura ra Biển Sữa thi thố tài năng. Các Devas và Asuras dùng Vua Rắn Vasuki (trong hình dạng một con rắn khổng lồ có 7 hoặc 9 đầu) quấn quanh cái trục và kéo về hai phía (như cách người xưa khuấy bơ từ sữa). Do được sự cố vấn của Vishnu, các Deva giành phần đuôi rắn, còn phần đầu với chín chiếc đầu phun nọc độc của vua rắn Vasuki thì “nhường” cho các Asura. Cả hai nhóm kéo-đẩy thân mình khổng lồ của Vasuki khuấy động Biển Sữa như người ta đánh bơ.
Ngọn núi Mandara dùng làm trục từ từ chìm xuống dưới mực nước. Để giúp cho các Deva khôi phục quyền lực, Vishnu liền hóa thân thành Kurma (thần rùa) cõng ngọn núi Mandara trên lưng dội lên khỏi mặt nước để các Deva tiếp tục công việc.
Sau cả ngàn năm bị khuấy đảo đến tận đáy, Biển Sữa ngầu bọt và các vật chứa trong lòng nó từ từ nổi lên.
Đầu tiên là Halahala, chất kịch độc thiêu rụi bất kỳ thứ gì nó chạm đến (có lẽ là nọc độc của Vasuki phun ra suốt quá trình khuấy Biển Sữa). Cái cục khổng lồ Halahal đó cứ nhằm các Deva mà đuổi theo làm họ bỏ chạy tán loạn. May nhờ Shiva, Thần Bảo hộ-Tái sinh và Hủy diệt xuất hiện và nuốt trộng cục Halahala nên cứu thế giới khỏi họa hủy diệt. (sự tích này dẫn đến lễ hội Shivaratri xin trình bày vào dịp khác).
Kế đến, từ trong đám bọt trắng, một hoa sen tuyệt đẹp nổi lên, nở ra, hiển lộ một nữ thần mặc toàn đỏ bên trong. Đó chính là Lakshmi, nữ thần Thịnh Vượng và May Mắn. Vishnu liền trút bỏ hóa thân “rùa Kurma”, xuất hiện trở lại là một vị thần tối cao và “handsome”, hoan hỷ nâng bàn tay Lakshmi đưa về cung của mình làm vợ.
Các vị Deva, sau khi Shiva nuốt Halahala, vội vàng quay trở lại để đón lấy các Ratna (Sanskrit: báu vật) đang từ nổi lên từ đáy Biển Sữa.
· Apsara: tiên nữ. Ô… các Deva chia nhau mỗi người một tiên.
· Sura: nữ thần Rượu được các Asura chiếm lấy.
· Kamadhuk: Bò cái Thần của các ước nguyện. Lakshmi ngự trên lưng bò cái thần này mà về với Vishnu (tục thờ bò của Hindu phát xuất từ đây).
· Airavata: Voi trắng thần. Indra bắt lấy thay cho con voi ngu xuẩn lúc trước.
· Ngựa 7 đầu Uchhaishravas bị Demon bắt.
· Vishnu còn chớp được viên ngọc quý báu nhất thế gian là Kaustubha, cái ốc tù và Shankha.
· Cây hoa thần Parijat với những bông hoa không bao giờ héo được các Deva mang về cung trời của Indra.
· Shiva được dâng tặng mặt trăng Chandra đặt lên trán Ngài để sức lạnh mặt trăng làm dịu đi cơn nóng cháy của chất độc Halahala.
Cuối cùng, cái bình Amrita chứa nước trường sinh huyền thoại nổi lên. Deva và Asura đánh nhau dữ dội để giành cái bình Amrita quý giá. Chim Thần Garuda, vật cưỡi của Vishnu quắp lấy cái bình Amrita bay lên cao bể bảo vệ nó khỏi bị vỡ do vũ khí của hai bên.
Rahu, một quỷ vương có cánh đã bay theo Garuda và giành được Amrita. Rahu đáp xuống một đỉnh núi hí hửng nhìn ngắm bình Amrita trước khi mở nắp để thưởng thức. Bỗng nhiên xuất hiện trước mặt Rahu một tiên nữ vô cùng khiêu gợi tên là Mohini (chính là Vishnu biến hình). Mohini nhảy múa mừng cho Rahu đã giành được giải nhất của cuộc thi giữa Deva và Asura. Khi Rahu mê mẩn với những vũ điệu của mình, thừa cơ Mohini-Vishnu chớp lấy cái bình Amrita tung cho các Deva đang chờ ở chân núi.
Không chút chậm trễ, các Deva chia nhau đến giọt cuối cùng của Amrita và bất tử trở lại. ( http://phunepal.blogspot.com/ ).
Lakshmi năm trong tay 8 hình thái của sự giàu sang, thịnh vượng, tất cả đều rất cần thiết cho sự cân bằng của cuộc sống.
•Adi Lakshmi (Sự thịnh vượng nói chung)
•Dhanya Lakshmi (Thức ăn, lúa gạo)
•Dhairya Lakshmi (Sự can đảm và sức mạnh)
•Gaja Lakshmi (Bảo hộ con người khỏi quỷ dữ)
•Santhana Lakshmi (Bảo hộ cho gia đình và trẻ con)
•Vijaya Lakshmi (Chiến thắng và thành công)
•Vidhya Lakshmi (Trí tuệ và sự hiểu biết)
•Dhana Lakshmi (Tiền bạc)
Trong hình tượng Lakshmi, là một trong hai tư thế ngồi hoặc đứng trên hoa sen, và thường cũng mang hoa sen trong một hoặc hai tay. Hoa sen mang ý nghĩa tượng trưng trong Ấn Độ giáo và truyền thống khác của Ấn Độ. Nó tượng trưng cho thực tế, ý thức và công việc . Hoa sen là một bông hoa nở trong nước sạch hay bẩn, cũng tượng trưng cho sự tinh khiết và vẻ đẹp bất kể hoàn cảnh tốt hay xấu mà nó phát triển. Đó là một lời nhắc nhở rằng điều tốt và sự thịnh vượng có thể nở và không bị ảnh hưởng bởi ác của một người xung quanh. Phía sau hoặc hai bên, Lakshmi đôi khi được hiển thị với một hoặc hai con voi, và đôi khi với một con cú. Voi tượng trưng cho công việc, hoạt động và sức mạnh, cũng như nước, mưa và khả năng sinh sản cho sự thịnh vượng dồi dào. Những con cú, gọi là Pechaka ở các vùng phía đông của Ấn Độ, có nghĩa bệnh nhân phấn đấu để quan sát, xem và khám phá kiến thức đặc biệt là khi bao quanh bởi bóng tối . Owl, một con chim mà trở nên mù trong ánh sáng ban ngày, cũng là một lời nhắc nhở biểu tượng để tránh thiển cận và tham lam sau đã giàu có .
Tượng Lakshmi tại đền Shravanabelagola , Karnataka.
Một số hình ảnh của Thần Lakshmi.
MAHALAKHSMI MANTRAS
•Đây là những thần chú Ấn Độ giáo mạnh mẽ cho sự thịnh vượng và giàu có. Những thần chú khi được tụng lên sẽ phát ra mộttần số duy nhất và thu hút các tần số mang theo các phước lành của Mahalakhsmi.
1/ Đây là câu chú tổng quát có thể dùng cho mọi trường hợp, có tính cách phổ thông:
Om Shrim Mahalakshmiyei Swaha
Om mahalakshmeya namaha
Đây là thần chú đọc để giành thắng lợi của Mahalakhsmi, và sống một cuộc sống hòa bình, thịnh vượng và giàu có.
ॐ ऐं महालक्ष्म्यै नम:ll
Om aim mahalaxmyee nam: ll
2/ Đây là thần chú ashtakshari của Mahalakhsmi. Ashtakshari có nghĩa là bao gồm 8 chữ cái. Mantra này được đọc 108 lần mỗi ngày. Việc làm này mang lại sự an tâm, và loại bỏ tất cả những trở ngại và nỗi buồn trên đường đời của bạn. Đây là một thần chú để thực hiện những mong muốn, có thể đọc thuộc lòng các thần chú nhiều lần như một lời chúc.
Đây là một bí pháp của Mật tông Hindu được coi là mạnh mẽ nhất trong việc tạo ra sự giàu có và các lợi ích vật chất trongcuộc sống. Bí pháp này được thực hành vào đêm Diwali (lễ Đèn-tết India).
Vào nửa đêm Diwali người cầu nguyện ngồi lên một Kambli đen (chăn/thảm đen dùng cho cầu nguyện ở India).
Giữ một tượng hay một bức ảnh của Laxmi trên tấm chăn đen.
Thắp sáng 10 Diyas [đèn bằng đất nung dùng Ghee - bơ hoặc dầu ăn, bấc bằng bông] xung quanh. Trì tụng thần chú này liên tục càng nhiều càng tốt. Sau đó tụng liên tục trong 10 ngày kế tiếp.
Thần chú này cực kỳ hiệu quả cho tất cả mọi người, nhất là các doanh nhân vì nó ảnh hưởng đến sự rung động các tần số tích cực, hữu ích trong việc tạo ra sự giàu có.
Om namo bhagwati padma padmaavati
Om hreem shreem aim purvaya dakshinaya
Paschimaya uttaraya aaj purav
Sarvajan swayam kuru kuru swaha ll
ॐ नमो भगवती पद्म पद्मावती
ॐ ह्रीं श्रीं ऐं पूर्वाय दक्षिणाय
पश्चिमाय उत्तराय आज पूरव
सर्वजन स्वयं कुरु कुरु स्वाहा ll
7/Thần chú cho các vấn đề về tài chính:
Đây là một câu thần chú để đạt được các tiến bộ vòng trong mọi lĩnh vực, nó loại bỏ những trở ngại bạn đang phải đối mặt vàlàm trơn nhẵn con đường phía trước, và thần chú này phải được đọc 108 lần bất cứ khi nào bạn đang phải đối mặt với khó khăn.
Om hreem shreem shreem shreem shreem shreem shreem shreem Laxmi man gruhe dhan pure chinta dure dure swaha ll
Đây là một câu thần chú mạnh mẽ để có được rất nhiều tiền. Trước tiên bạn nhón một nhúm bụi trên đường. Giữ nhúm bụitrong tay của bạn và trì tụng thần chú này. Sau đó, bạn ném nhúm này bụi trên một con số ghi chú tiền tệ hoặc một đống tiềnxu. Người ta nói rằng việc này sẽ làm cho rất nhiều tiền đến với bạn.
Om namo Hanmant kir hua hulasa chalre paisa rukha birkha tera bas sabki drushti baandhi de mohi mera mukh jove sabko yavad karta vaadi rovaibhari sabha me mohimbi govai ll
Đây là câu thần chú mạnh mẽ cho sự thành công trong bất kỳ loại hình kinh doanh. Thần chú này phải được đọc chỉ một lần sau khi bạn mở cánh cửa của văn phòng hoặc cửa hàng của bạn vào buổi sáng, trước khi cho bất kỳ khách hàng nào bước vào.Điều này sẽ làm tăng trưởng doanh nghiệp của bạn.
Shri shukle mahashukle kamal dal Mahalaxmyae namo nam laxmibai satya ki savai avo mai karo bhalai na karo to saat samudra ki duhai kruddhi siddhi khavogi to naunath chowraci ki duhai ll
व्यापार के लिए मंत्र
श्री शुक्ले महाशुक्ले कमल दल महालक्ष्म्यै नमो नम: लक्ष्मीबाई सत्य की सवाई आवो माई करो भलाई ना करो तो सात समुद्रकी दुहाई ऋद्धी सिद्धि खावोगी तो नौनाथ चौरासी की दुहाई ll
10/Thần chú cho sức khỏe và kiến thức:
Với người India, sự giàu có bao gồm cả sức khỏe và kiến thức. Nếu không có sức khỏe không ai có thể tận hưởng sự giàu có vàkhông có kiến thức người ta không thể biết làm thế nào để sử dụng sự giàu có.
Thần chú này phải được đọc vài lần một ngày. Số lần trì tụng là không quan trọng, nhưng phải trì tụng thần chú này với đức tin và lòng sùng kính.
CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO.
Lời tựa : Lẽ ra các bài tiếp theo trong mục : MẬT TÔNG - ĐẠO PHÁP - HUYỀN MÔN là những bài trong tập 2 cuốn THẦN THÁNH TRUNG HOA do bác Nhược Thủy dịch. Tuy nhiên dienbatn đăng tiếp loạt bài CÁC VỊ THẦN ẤN ĐỘ TRONG TÍN NGƯỠNG BÀ LA MÔN VÀ HINDU GIÁO để thay đổi không khí . Loạt bài viết này , dienbatn biên soạn lại theo những tư liệu sưu tầm được, những tư liệu đã đăng trên internet . Do vậy có thể có nhiều đoạn không ghi nguồn xuất xứ . Mong các tác giả lượng thứ khi dienbatn trích dẫn mà không ghi nguồn. dienbatn chỉ biên tập lại thành hệ thống làm tư liệu của mình và giúp các bạn tư liệu khi cần khảo cứu. Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước. Thân ái . dienbatn.
2. Bộ tam thần Trimurti.
3/ Thần hủy diệt Shiva.
Thần Shiva là một trong các vị thần chính của Ấn giáo. Thần này được cho là xuất thân từ Rudra, một vị thần nhỏ được thấy trong Rig- Veda, bộ tập hợp thánh ca xưa của người Aryan có niên đại từ năm 1500 đến 900 trước CN. Dường như tầm vóc của vị thần này đã lớn dần lên sau khi hấp thụ một số tinh chất của một vị thần phì nhiêu ngày cưa đôi lúc được gọi là "tiền Shiva". Các hiện thân của thần này, ngồi trong tư thế một Yogi và có liên quan với súc vật, cây cối, được cho là do ảnh hưởng của nền văn hóa sông Ấn vốn có niên đại từ trước năm 1500 trước CN. Shiva là thần phá huỷ, sống trên núi Kailas. Ngài hay cưỡi bò, và có nhiều vợ như Parvati, Uma, Durga, Kali, Shakti v. v...
Con ngài là Karttikaya, thần chiến tranh và Ganesha, thần đầu voi.
Shiva có thể là vị thần tử tế và che chở nhưng cũng là vị thần đáng sợ, có mặt ở các chiến trường và giàn hỏa táng. Ông cũng được thể hiện cổ đeo một vòng đầu lâu. Là thần sáng tạo, Shiva cũng là vị thần thời gian do đó là vị thần hủy diệt, Shiva là vị thần của sự phì nhiêu, sinh sản nhưng ông cũng là một tu sĩ khổ hạnh đã chế ngự được các dục vọng của mình để sống trên ngọn Kailasa của dãy Himalaya, đắm chìm trong thiền định để duy trì sự tồn tại của thế giới.
Shiva, ngôi thứ ba của Chúa Ba Ngôi trong huyền thoại Ấn Độ là một vị Thần rất đặc biệt. Trong khi Brahma mang phong thái Quân Vương, Vishnu tác phong Đạo Sĩ, thì Shiva, với thân mình phủ tro tàn của giàn hỏa thiêu, với rắn hổ hay chuỗi sọ người quấn quanh cổ, da cọp quấn quanh người hoặc phủ trên tòa ngồi, chưa kể con mắt thứ ba giữa trán và nước da màu xanh dương, có một vẻ gì bí hiểm, đe dọa. Shiva thường được biết đến qua hình ảnh một vị khổ tu, một Yogi sống trong rừng núi, một người ăn mày (vô sản ), một kẻ lãng tử … Thật ra, hình ảnh nổi tiếng nhất của Shiva là ảnh tượng Ngài nhảy múa giữa một vòng tròn lửa, mái tóc rậm rạp tung ra hai bên, chân trái giơ lên bên phải, một trong bốn bàn tay cầm trống nhỏ (damaru) đánh nhịp sanh thành và hoại diệt của vũ trụ, bàn tay khác cầm lửa hoại diệt samhara, bàn tay thứ ba bắt « vô úy ấn » abhaya mudra (trong Phật Giáo, đó là thủ ấn của Amoghasiddi, Bất Không Thành Tựu Như Lai), bàn tay thứ tư chỉ xuống chân trái, chân phải đạp lên Quỷ Vô Minh. Với sự nhảy múa của Shiva, vũ trụ sự vật bị tiêu diệt để được tái tạo.
Như thế, Shiva là Thần của sự hoại diệt, nhưng cũng là điều kiện của tạo sanh (cách mạng đấy !). Cần nói là một trong những biểu tượng của Ngài là Lingam, dương vật. Sự hoại diệt đem đến bởi Shiva chính là động lực của đổi thay. Mỗi khi có bế tắc cần một sự khai thông tái tạo nền tảng, thì Shiva xuất hiện. Lửa thường được chọn làm biểu tượng của Thánh Thần - Lửa cũng là một trong những biểu tượng của Shiva. Trong các hình tượng của Shiva, mắt Ngài thường nhắm nửa chừng, như người thiền định. Con mắt thứ ba của Ngài thì có năng lực đốt cháy mọi sự vật mà nó chiếu tới. Vì thế sự hủy diệt chủ trì bởi Shiva cũng là ý thức Tính Không, phá tan vọng kiến về tự tánh của mọi sự vật, sau này được hệ thống hóa bởi các trường phái Đại Thừa. Bàn tay Shiva có khi cầm bát ăn xin bằng sọ người, đến từ cái đầu của Brahma mà Ngài đã chặt đứt (một loại đấu tranh giai cấp, như việc bắt nhốt Indra ?). Trong búi tóc của Shiva có mặt trăng, biểu tượng cho sự tuần hoàn của thời gian, nhắc cho chúng ta nhớ là thời gian cũng chính là hủy diệt … Trên búi tóc ấy có đầu của Nữ Thần Ganga, Nữ Thần sông Hằng (Gange), nhổ ra một vòi nước. Giòng sông chảy, cuốn lôi tất cả, phải chăng cũng là một biểu tượng của thời gian trôi ? Người ta nói rằng trước khi Vũ Trụ sanh thành, mọi sự còn ở trong trạng thái hỗn nguyên, thì Shiva nhảy múa, đánh cái trống nhỏ, tạo nên tiếng AUM làm rung động cái Nguyên Khí vô phân biệt kia, như hòn sỏi ném xuống mặt hồ. Từ đó nảy sinh một điểm, rồi từ một điểm nổi lên những gợn sóng quanh điểm ấy, và vạn pháp sanh thành. Mỗi sự mỗi vật, mỗi người chúng ta, chẳng qua chỉ là những gợn sóng trên mặt một đại dương duy nhất, khởi sinh từ một niệm, một rung động của phân biệt trí.
Shiva là vị Thần của nội tâm, nơi không có Quân Vương, không có Anh Hùng, không có Đạo Sĩ, không có giai cấp, không có giàu sang hay nghèo hèn, nơi mà sự nhảy múa quay cuồng không ngừng nghỉ tạo nên những gợn sóng cấu thành vũ trụ, vũ trụ nội tâm, cái vũ trụ duy nhất mà chúng ta có thể biết được. Con mắt thứ ba của Shiva chiếu vào vũ trụ ấy, tiêu diệt tất cả, đem tất cả vào tĩnh lặng, trong sự giác ngộ Tính Không của vạn pháp. Năng lực hoại diệt của Shiva cũng là khả năng diệt Ngã, phá chấp, loại trừ vô minh.
Mặc dù Shiva đem lại chết chóc nhưng thần này cũng chinh phục cái chết cùng bệnh tật và được cầu khấn mỗi khi chữa bệnh. Đôi khi thần được mô tả như một con người nửa đàn ông, nửa đàn bà. Các phẩm chất và thuộc tính mâu thuẫn được thấy trong vị thần này để biểu trưng cho một vị thần mà ở trong ông mọi sự đối kháng đều được hòa giải. Cả đến cả cái tên của ông, vốn có nghĩa là "Điềm lành" cũng nhằm mục đích hòa giải và làm dịu đi khía cạnh hắc ám trong tính cách đã khiến ông phải mang cái tên "kẻ hủy diệt". Dưới dạng Nataraja, Shiva là "vua vũ điệu" và thường được miêu tả trong điệu bộ này. Ông nhãy múa để sáng tạo ra thế giới, nhưng mỗi khi ông mỏi mệt rơi vào bất động thì vũ trụ lại trở nên hỗn loạn, do đó theo sau giai đoạn sáng tạo là sự hủy diệt. Một tích truyện thần thoại về Shiva dưới dạng Nataraja liên quan đến 10.000 Rishi hay nhà tiên tri. Shiva đến thăm các Rishi chỉ nguyền rủa Shiva và khi nguyền rủa không hiệu quả, họ bèn thả ra một con hổ dữ để xé xác Shiva. Vị thần vĩ đại dễ dàng dùng móng tay lột lấy tấm da con cọp và choàng lên cổ mình làm tấm khăn choàng. Các Rishi lại làm một con rắn độc tấn công Shiva và vị thần này chỉ đeo nó lên cổ mình như một vòng hoa. Cuối cùng, họ cho một gã lùn hung tợn vác gậy tày ra tấn công vị thần, Shiva đáp lại bằng cách đặt chân lên gã lùn mà nhảy múa. Các Rishi sững sờ đứng nhìn vũ điệu tuyệt vời. Cả các cung trời cũng mở ra để cho chư thần có thể nhìn thấy vũ điệu lạ lùng. Cuối cùng các Rishi không thể cưỡng lại nổi trước thần Shiva đang nhảy múa và họ cùng phủ phục dưới chân ngài. Vật bầu trời chính của thần Shiva là "lingam", một khối đá có hình bộ phận sinh dục nam. Một truyện thần thoại kể rằng thần Shiva đến thăm một rừng thông, tại đó có một số hiền nhân đang tu thiền. Các hiền nhân này không nhận ra Shiva mà tưởng đây là một anh chàng đến ve vãn vợ mình nên họ làm cho dương vật của Shiva mất đi. Tức thời, thế giới chìm trong tăm tối và các hiền nhân cũng không còn nam tính nữa. Cuối cùng họ phải cúng lễ vật cho thần Shiva và thế giới trở lại bình thường.
Shiva thường được thể hiện với bốn cánh tay và một con mắt thứ ba, con mắt nội quán, ở giữa trán. Ông thường đeo một con rắn trên cổ làm chiếc vòng, một con nữa ở ngang hông và nhiều con quấn quanh cánh tay. Ông cũng có khi được mô tả mình lấm đầy tro để tượng trưng cho sự tu hành khổ hạnh của ông, cổ họngông có tên là Nilakantha, hay "cổ họng xanh" do vai trò quan trọng của ông trong công việc khuấy đảo đại dương. Theo một chuyển kể dân gian, trong cuộc khuấy đảo này, các vị thần đã dùng con rắn lớn là Vasuki làm sợi dây thừng xoay tròn ngọn núi Mandara và khuấy đảo đại dương vũ trụ để tạo ra nước cam lộ, thứ thuốc trường sinh bất tử. Tuy nhiên con rắn quá mệt nên cuối cùng đã phun nọc độc ra, đe dọa tiêu diệt cả muôn loài. Shiva bèn đến tiếp cứu, ông dùng miệng mình hút hết nọc độc của con rắn, cho nên cổ họng ông bị thâm tím. Shiva là cha của vị thần đầu voi Ganesha và của chiến thần Karttikeya. Vật cưỡi của ông là con bò mộngNandi. Vợ ông hay Shakti (năng lượng nữ) của ông có tên là Parvati trong hình thái dịu dàng của bà. Các hình thái khác của bà này là Uma duyên dáng, Bhairavihung tợn, Ambika tạo sinh, Sati hiền thục, Gauri sáng chói, Kali hắc nương, Durga bí hiểm.
Một truyền thuyết kể lại chuyện Shiva có thêm con mắt thứ ba là do một đùa nghịch ngợm của Parvati. Trong lúc Shiva đang tham thiền trên ngọn Kailasa, Parvati rón rén đến đằng sau ông đưa tay bịt mắt ông lại. Tức thì mặt trời mất sáng và mọi sinh vật đều run rẩy sợ hãi. Đột nhiên con mắt thứ ba nóng cháy hiện ra trên trán Shiva, xua tan bóng tối. Lửa từ con mắt ấy vọt ra chiếu sáng chói chang toàn cõi Hymalaya. Parvati bàng hoàng sửng sốt. Sau đó, Shiva tội nghiệp cho sự đau khổ của nàng nên đã phục hồi lại vẻ đẹp của các ngọn núi như cũ.
Shiva có nước da trắng tượng trưng cho bản chất thuần túy của tất cả màu sắc. Shiva có ba mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng và ngọn lửa thế gian, có thể nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương lai. Mái tóc rối của Shiva tượng trưng thần gió. Mái tóc đó cũng tượng trưng cho sức mạnh vì sông Hằng Hà linh thiêng khi nhận lời cầu xin của một đạo sĩ thấu thị (Rishi) xuống trần, Shiva đã phải xõa tóc cho dòng nước xuôi theo và đổ xuống nhẹ nhàng, nếu không thì thế gian đã rung chuyển và xụp đổ tan tành.
Một hôm thần Brahmâ trông thấy thần Vishnu đang nằm trên một chiếc lá sen trên mặt nước nguyên thủy, Brahmâ hỏi danh tính. Vishnu bèn xưng danh và kêu Brahmâ bằng con. Brahmâ tức giận và tuyên bố chính mình mới là đấng sáng tạo và hủy diệt vũ trụ. Vishnu bác bỏ lời của Brahmâ, cương quyết cho mình mới là đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt vũ trụ, hai bên đang cãi cọ tranh giành ngôi thứ, thì bỗng hiện ra một cột lửa cao ngất tưởng chừng như không có khởi nguyên. Hai thần bèn ngừng cuộc tranh luận và đồng ý chia nhau đi tìm đầu và cuối của cột lửa. Vishnu đi xuống dưới gốc và Brahmâ đi lên phía ngọn. Sau một thời gian thám hiểm rất lâu, cả hai đều không đạt được mục đích và phải trở về nơi gặp gỡ ban đầu. Vừa khi đó không gian bỗng vang lên âm thanh linh thiêng của tiếng AUM và Shiva xuất hiện giữa cột lửa khiến cả Brahmâ và Vishnu đều cảm thấy hân hoan. Khi ấy Shiva bèn nói cho hai thần biết rằng không có ai hơn, ai kém, và ba ngôi tối linh Brahmâ-Vishnu-Shiva chỉ là ba tác dụng khác nhau của cùng một bản thể. Shiva có hai đời vợ nhưng cùng là một người trải qua hai kiếp. Kiếp thứ nhất nàng tên là Sati (Hiền phụ), con gái của Daksha (Tài Trí), một trong tám vị thần sáng tạo do Brahmâ tạo ra.
Shiva và vợ Sati .
Daksha vốn không ưa Shiva vì Shiva thường có bề ngoài là một đạo sĩ khất thực tiều tụy và không tỏ thái độ tôn kính mình. Daksha đã đuổi Sati ra khỏi địa phận của mình khi nàng nhất định chọn Shiva làm chồng. Một lần Sati về nhà vào dịp làm lễ mừng thần Vishnu, Daksha đã không tiếc lời nhục mạ nàng cùng Shiva. Sati bèn thoát hồn trả lại thân xác cho cha. Shiva nổi giận, giết chết Daksha tức thì. Sati tái sinh làm con gái của thần núi Himâlaya (Núi Tuyết), mang tên là Umâ Himavutee và thường được gọi là Pârvati (Sơn nữ).
Thần Shiva và nàng Sati .
Một truyền thuyết khác như sau : “Xưa kia, thần Daksha có một cô con gái xinh đẹp tên là Sati. Daksha mong có một chàng rể quý đẹp trai, danh giá hơn là anh chàng lông bông Shiva hay lê la cùng với bọn nghèo khổ. Tuy nhiên, trái với ước nguyện của cha mình, Sati đã trao cho Shiva trái tim mình ngay từ lần gặp đầu tiên bất kể vẻ ngoài kinh khiếp của chàng. Anh ta có làn da sạm nắng, tóc dài chấm vai, quấn một tấm khố bằng da hổ, tay cầm một cái chĩa ba và một cái trống damru. Một con rắn hổ mang quần trên cổ anh ta như một vòng đeo sống động. Khi Sati đến tuổi cập kê, theo phong tục, Daksha tổ chức một buổi lễ gọi là Swayamvara cho con gái yêu (Swayamvara= buổi lễ chọn chồng cho các cô gái). Daksha mời tất cả các vị thần trai trẻ xinh đẹp đến dự để Sati chọn, nhưng cố tình không mời Shiva. Sati lướt mắt tìm khắp nơi mà không thấy Shiva, cô liền khấn nguyện và tung vòng hoa lên trời. Vòng hoa bay lượn trên không trung và đáp xuống choàng vào cổ anh chàng Shiva đang ngủ vùi bên một đống tro sau một đêm say sưa hát hò cùng bè bạn. Daksha cay cú lắm nhưng đành phải gả Sati cho Shiva. Chàng đưa nàng về ngọn núi thiêng Kailash, lãnh địa của chàng.
Shiva và Sati..
Vẫn còn oán ghét chàng rể điên điển nên vào một dịp lễ hội khác Daksha cố tình không mời Shiva đến dự. Sati phải về dự lễ một mình. Trong lúc hội hè tưng bừng Daksha lại buông lời sỉ nhục Shiva trước mặt tất cả các vị thần. Để bảo vệ danh dự của chồng, Sati nhảy vào đống lửa thiêng tự sát. (Đấy là nguồn cội của phong tục “Sati” của đạo Hindu. Theo phong tục này người vợ tự thiêu sau cái chết của chồng để bày tỏ sự chung thủy-Chúng ta không phán xét ở đây chỉ ghi nhận lại lịch sử và phong tục- NP).
Sati tự thiêu .
Đau buồn vô hạn trước cái chết của người vợ yêu, Shiva mất trí. Ông bồng xác vợ tuôn chạy cuồng dại khắp nơi làm cho mặt đất chấn động, đe dọa tới sinh mạng của muôn loài. Để cứu thế giới, thần Vishnu liền hóa phép cắt thi hài của Sati thành nhiều mảnh rơi xuống nhiều nơi trên đất Ấn .Shiva đau khổ điên cuồng, ôm xác Sati nhảy múa dẫm nát thế giới, làm vũ trụ rung chuyển, Trời Đất náo động. Vishnu thấy thế bèn ném đĩa Giác Luân chặt thân thể Sati ra thành 108 khúc rơi xuống 108 nơi trên đất Ấn (mỗi nơi hiện vẫn còn điện thờ). Nhục thân Sati không còn, Shiva cũng ngừng nhảy múa, ngồi tĩnh lự, trở thành như thảo mộc. Thế giới lại lâm nguy vì thiếu « năng lực cách mạng » của Shiva. Vishnu tìm cách lôi Shiva ra khỏi cái trạng thái mà nhà Phật gọi « si định » này. Ngài cho em gái mình là Parvati đến chinh phục Shiva. Cũng có thuỵết cho rằng Parvati là con gái Vua Núi Parvata Raja (« raja » là « vua », « rex » trong tiếng la tinh). Shiva không thèm màng đến Parvati. Nàng buồn khổ lùi vào rừng sâu ẩn tu. Tuyệt vọng, Shiva lầm lũi quay về ẩn cư trên núi Kailash. Sati sau đó tái sinh làm con gái của thần núi Himavan (Himalaya) với tên Uma họ là Himavati, nhưng thường được biết đến với mỹ danh Parvati (nghĩa là vô tội, thánh thiện). Kiếp này Parvati cũng lại yêu Shiva vì số phận của họ đã đan bện vào nhau. Tuy thế, Shiva đã chọn một đời sống ẩn dật, tịnh khẩu, không tiếp xúc với người ngoài. Chàng suốt ngày ở trong hang đá đắm chìm với tình yêu vô vọng dành cho Sati. Trong khi đó, cô gái xinh đẹp con gái của thần núi Himalaya lại từ chối tất cả các lời cầu hôn của các chàng trai, giữ vẹn lòng chung thủy với người duy nhất mà cô yêu từ kiếp trước. Cô chờ đợi Shiva hết năm này sang năm khác và cầu nguyện sẽ được cùng chung sống với người yêu một lần nữa. Parvati sau đó bỏ vào rừng sống đời một đạo sĩ Yogi trong khu rừng bên cạnh hang đá của Shiva. Hàng ngày nàng vào hang quét dọn sạch sẽ, trang hoàng hoa rừng khắp hang đá nhưng thủy chung Shiva vẫn không để mắt tới bất cứ ai. Thần tình yêu Kamadeva (người tương truyền đã ban Kama Sutra cho dân Ấn) muốn giúp Parvati nên lẻn vào hang dùng cánh cung bằng cây mía bắn một mũi tên tẩm mật vào người Shiva. Shiva mở bừng con mắt thần giữa trán thiêu Kamadeva ra tro. Shiva động lòng giả trang làm một Đạo Sĩ đến hỏi Parvati : vì sao một người diễm lệ, giòng dõi quân vương như nàng mà lại tìm theo một tên ăn mày dị hợm, có ba con mắt, chuỗi sọ người quanh cổ, tro phủ đầy người, ngồi trong bãi hỏa thiêu xác chết ? Parvati trả lời rằng chỉ có bậc Đại Giác mới không cần màng đến địa vị giàu sang, vì biết mình đã sẵn có tất cả, chỉ có bậc Đại Lực mới không cần ẩn nấp sau phong thái bên ngoài, và nàng yêu con người thực của Shiva, con người nội tâm cao quý và dũng mãnh của Ngài.
Shiva bồng xác Sati chạy cuồng loạn khắp nơi.
Khi ấy Vishnu đã mang Parvati đặt trước mặt Shiva để đánh thức ông khỏi cơn trầm uất. Mặt đối mặt, họ nhận ra rằng mỗi người là một nửa của nhau và từ khoảnh khắc ấy, không gì có thể chia cắt họ được nữa. Với sức mạnh của tình yêu (chỉ sự hợp nhất toàn bộ các yếu tố và năng lượng của vũ trụ- NP), Shiva đã đánh bại thế lực hắc ám và cứu được thế giới. Khi cả hai tái hợp cùng nhau, sức mạnh tình yêu của họ đã phục sinh Kamadeva từ đống tro tàn…”
Sau nhiều lần thử thách về đức tính, Shiva lấy Pârvati làm vợ. Khi Shiva đã múa vũ điệu Tândava, tượng trưng cho sự vận hành của vũ trụ tại hí viện Thiên Đàng của thần sét Indra. Khi nhảy múa như vậy, Shiva đã cho phát ra năm cung điệu căn bản. Khi vợ Shiva là nàng Pârvati cất tiếng hát thì có thêm một cung điệu thứ sáu. Sự kết hợp giữa Shiva và Pârvati biểu thị sự kết hợp giữa Chất và Năng chuyển hóa thành các âm điệu và cung bậc. Các cung điệu có liên hệ với toàn thể vũ trụ vì mỗi cung âm có một giá trị riêng biểu thị cho một hệ thống tinh thể, và toàn thể hệ thống tinh thể chính là nguồn gốc các âm thanh phát ra trong vũ trụ. Con trai lớn của cặp vợ chồng Shiva- Pârvati là Kârttikeya đã có công diệt được quỷ Târaka, đem lại yên vui cho thế giới thần linh và được thờ làm thần chiến tranh.
Shiva và Parvati .
Cặp đôi thần thánh này đã cứu thế giới không chỉ lần ấy mà còn nhiều lần sau này nữa. Lần nọ có một con quỷ hung bạo tên là Rakta Veeja (nghĩa là Hạt-Giống-Máu) đe dọa thế giới. Mỗi một giọt máu của nó rơi xuống chạm mặt đất sẽ biến thành hàng ngàn con quỷ con hung bạo giống hệt như nó. Không ai và không một vị thần nào có thể tiêu diệt được lũ quỷ sinh sản không ngừng ấy. Durga (Durga là một hóa thân khác của Parvati trong hình tướng nữ chiến binh cuồng nộ) nổi cơn thịnh nộ. Và từ con mắt thứ ba giữa trán của nữ thần xẹt ra một nữ thần da đen thui, tóc dài bay tung tõa và có bốn tay. Nữ thần này cầm một thanh kiếm sắc, tay khác cầm một nắm đầu quỷ mới bị chặt, cổ đeo xâu chuỗi cũng bằng các đầu lâu quỷ và mặc một cái váy làm bằng các cánh tay bị chặt của quỷ. Mắt bà long sòng sọc, đỏ rực như than hồng. Đó chính là Kali (Sanskrit là Kaalaratri – Nữ thần đen như bóng đêm. Thường gọi là Kali nghĩa là ĐEN). Trông thấy bọn quỷ con, Kali gầm lên xông vào bọn chúng và chém như cắt rạ. Cái lưỡi của Kali thè dài ra hứng lấy tất cả những giọt máu mà Rakta Veeja tung xuống đất, chính vì vậy mà dừng lại được sự sinh sản ra bọn quỷ con. Cuối cùng chỉ còn lại mỗi mình Rakta Veeja, Kali chặt đầu con quỷ này và ăn sống nuốt tươi nó tránh để máu của nó có cơ hồi sinh trở lại. Sự khủng khiếp của cuộc chiến, cùng với lượng máu đầy chất độc của Sakta Veeja làm Kali mất tự chủ, hóa điên và nhảy múa cuồng loạn. Mặt đất rung chuyển dưới từng bước chân của vị nữ thần hung tợn và toàn bộ vũ trụ có nguy cơ bị tàn phá. Lần này đến lượt Shiva. Ông liền nằm xuống dưới chân Kali chịu đựng các cú giẫm đạp của bà cho đến khi bà kềm chế được cơn thịnh nộ. Chính vì thế, bạn sẽ thấy các nghệ sĩ mô tả Kali trong hình thức một nữ thần đen nhẻm cầm một hoặc một nắm đầu lâu, lưỡi thè lè ra khỏi miệng và dẫm lên thân thể một người đàn ông.”
Nữ thần Kali .
Theo thần thoại Hindu, có một lần thế lực hắc ám đe doạ huỷ diệt vũ trụ dưới hình thức Halahala (chất tối độc trồi lên khi các vị thần khuấy đảo Đại dương Sữa huyền thoại để tìm thuốc trường sinh – hạnh phúc). Với tư cách là Người bảo vệ vũ trụ, thần Shiva đã nuốt chửng chất độc ấy để cứu tất cả muôn loài. Chất độc bỏng cháy cổ họng Shiva và làm thân thể Ngài lạnh giá. Ngài chạy băng trên những ngọn núi tuyết của Himalaya để làm dịu nó đi. Dừng chân tại một cánh rừng, những thợ săn thấy Ngài run rẩy vì lạnh nên đã vội vàng chạy đi gom củi khô, đốt lên một đống lửa to để sưởi ấm cho Ngài.
Ganga (nữ thần sông Hằng) đã mang nguồn nước tinh khiết từ thượng nguồn của các dòng sông để hạ nhiệt cho cổ họng của Shiva. Nhưng vẫn chưa đủ. Cho đến khi thần Chandra (mặt trăng) chui vào trong mái tóc dài rậm của Shiva giải toả sức nóng đang nung đốt trong đầu và luồng hơi lạnh giá trong cơ thể Ngài. Sau những giây phút “xuống địa ngục rồi lên đỉnh”, Shiva vô cùng phấn khích và bắt đầu hân hoan nhảy múa vũ điệu tandawa nritya.
Chính vì thế, ngày trăng non ấy được gọi là Maha Shivaratri để kỷ niệm ơn cứu mạng của Shiva với muôn loài, còn khu rừng ấy nay là khu vực toạ lạc ngôi đền thiêng Pashupati (tên gọi cổ và nguyên thuỷ của Shiva, nghĩa là Người bảo vệ muôn loài).
Thần Shiva nuốt Halahala để cứu muôn loài.
( http://nguyenphunepal.blogspot.com/).
Con thứ hai của Shiva và Pârvati là Ganesha, mình người đầu voi, được tín đồ Ấn Độ giáo tin thờ như một phúc thần, ban phát hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại.Shiva là vị thần tiền Veda cổ xưa nhất của dân bản xứ Ấn độ; đến khi đồng hóa với dân tộc Aryan, Shiva đã thay thế cho thần Bão Rudra trong Veda để làm giảm bớt cái ý nghĩa ghê gớm của danh hiệu Rudra. Sống với chết không những chỉ tiếp nối nhau mà còn đồng nhất với nhau. Với tư cách nguyên lý của sáng tạo, Shiva là nguồn sống. Nhưng tại sao người ta lại coi Shiva là biểu hiện cho hủy diệt (Tamas)? Tamas nghĩa đen là tối tăm, biểu thị cho khuynh hướng ly tâm, hủy diệt (trái với sattva biểu thị cho khuynh hướng quy tâm, xây dựng). Vũ trụ càng phân tán tức là càng tan rã, hòa đồng vào đêm tối của vô chất nguyên thủy, chấm dứt mọi sự phân biệt trong không gian và thời gian. “Hữu hình tất hữu hoại” là định luật thiên nhiên tất yếu. Từ u tịch mà có sự sống, sự sống lại trở về u tịch, bởi thế Tamas vừa là nguyên nhân, vừa là cứu cánh của mọi đời sống, và vì cứu cánh quan trọng hơn hết nên Shiva được mệnh danh là thần hủy diệt. Thần Shiva múa với ý nghĩa ấy, Shiva còn được mệnh danh là thần của giấc ngủ. Khi mọi người đã chán hành động, chán sống, chán biết, chán lạc thú và đau khổ, và đi tìm một sự yên nghỉ thực sự trong giấc ngủ say không mộng. Khi ấy họ trở về với Chúa tể của giấc ngủ, chốn yên tịnh, cực lạc (Sambha).( http://vi.wikipedia.org/).
Shiva - Parvati - Ganesha .
Gia đình Shiva - Parvati - Ganesha - Kartikeya.
Gia đình Shiva - Parvati - Ganesha - Kartikeya và bò Thần Nadin.
Gia đình Shiva - Parvati - Ganesha - Kartikeya.
Một đền thờ của Ấn Độ.
Con trai lớn của cặp vợ chồng Shiva- Pârvatĩ là Kârttikeya đã có công diệt được quỷ Târaka, đem lại yên vui cho thế giới thần linh và được thờ làm thần chiến tranh.Kartikeya, đứa con thứ hai của chúa tể Shiva và Parvati hoặc Shakti, ngài được biết đến với một số cái tên như là Subramaniam, Sanmukha, Shadanana, Skanda and Guha. Ở phía Nam của Ấn Độ, ngài là một vị thần được sùng bái và được biết với tên Murugan. Ngài là hiện thân của sự hoàn hảo, một vị lãnh đạo dũng cảm của lực lượng quân đội thần thánh, và là một vị thần chiến tranh, người đã tạo ra ác quỉ, đại diện cho cái xấu và khuynh hướng tiêu cực của con người. Kartikeya còn có một cái tên khác là Shadanana ( Lục diện nhân – ý nói đến 5 giác quan cộng với 1 tâm linh).
Hình ảnh 6 cái đầu còn tượng trưng cho đức hạnh toàn diện, giúp thần có thể nhìn được về mọi hướng và cản lại được tất cả các đợt công kích của kẻ thù. Những hình ảnh về 6 cái đầu của Kartikeya hướng dẫn và chỉ ra cho con người vượt qua được các cám dỗ của cuộc sống. Họ luôn luôn được cảnh giác trước những cám dỗ của những kẻ xảo quyệt và xấu xa, gồm có sáu tật xấu như: kaama (Tình dục), krodha (Giận dữ), lobha (Tham lam), moha (Sự mê muội), mada (Cái tôi) và matsarya (Sự ghen tuông). Một tay của Kartikeya cầm thương, tay còn lại thì ban phước lành cho mọi người. Thú cưỡi của ông là một con công – một con chim thánh cùng với đôi chân rắn, nó tượng trưng cho cái tôi và sự mong muốn thèm khát của con người.
Thần chiến tranh Kartikeya là con trai lớn của vợ chồng Shiva- Pârvatĩ .
Hai anh em : Thần chiến tranh Kartikeya và Thần hạnh phúc( hay Thần tài ) Ganesha con trai của vợ chồng Shiva- Pârvatĩ .
Con thứ hai của Shiva và Pârvatĩ là Ganesha, mình người đầu voi, được tín đồ Ấn Độ giáo tin thờ như một phúc thần, ban phát hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại.
Ganesha con trai út của vợ chồng Shiva- Pârvatĩ .
Shiva tượng trưng cho phương diện nam tính của vũ trụ: có tính tàn phá, bất khả tiên liệu, vì thần cũng là một lực sinh hóa. Thần biểu lộ lưỡng tính với những đối cực từ khổ hạnh đến dục lạc cuồng phong. Tùy theo tâm trạng và ý đồ mà Shiva là hiện thân cho Đấng Sáng tạo, Đấng Bảo lưu, Đấng Hủy diệt. Shiva hay trầm tư quán tưởng trong ngôi nhà tâm linh ở trên núi Kailas trong dãy Himalayas. Shiva tay phải cầm đinh ba (trisula), tay phải khác cái trống nhỏ damaru biểu thị cho nhịp điệu sáng tạo. Cả hai đều là những công cụ ma thuật gắn liền với pháp thuật nguyên sơ (primitive shamanism). Một đầu thòng lọng trói buộc linh hồn (pasa) ám chỉ đến quãng đời tu sĩ khổ hạnh lang thang khắp các dãy núi của Himalayas của thần. Cây cung dhanus và quyền trượng gada gắn trên đầu cái đầu lâu tượng trưng cho quyền lực hủy diệt của thần Shiva. Shiva thường được trình bày là dương vật cương cứng (linga), biểu thị khả năng sáng tạo của thần với tư cách là “người cho hạt giống“.Người phối ngẫu của Shiva là Shaktis. Shakis thường được trình bày là yoni, xuất hiện với nhiều khuôn mặt khác nhau: khi là nữ thần Mahadevi vĩ đại đầy năng động, khi là Parvati con gái của Sơn thần Himalayas, khi là Gauri, Sati hay Uma trong lúc khuyến thiện, nhưng cũng có thể xuất hiện là nữ thần Kali hay Durga khủng khiếp trong lúc ra tay trừng ác. Con vật mà thần Shiva cưỡi là bò mộng Nandin. Shiva còn vào vai của Chúa tể của Nghệ thuật múa Nataraja (còn gọi là Người điều lý nhịp điệu vũ trụ). Om Namaha Shivaya