NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 10.

5/17/2013 |
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN.
PHẦN 3 : MỘT VÀI ĐIỀU CẦN LÀM KHI LẬP NGHĨA TRANG DÒNG HỌ.
8/ PHÂN KIM ĐIỂM HƯỚNG - TÍNH TOÁN ĐỘ SÂU VÀ THỜI GIAN ĐẶT MỘ.
Khi tính toán thiết kế -  Cần phải  tính toán phong thủy những yếu tố sau :
* Hướng của Thiên môn ( Đường nước đến ) - Địa hộ ( Đường nước chảy đi ) - Lấy Huyệt mộ làm chuẩn .
 * Quan sát tổng quát về Long - Huyệt - Sa - Thủy của cuộc đất .
*  Xác định chính xác khu vực kết huyệt là nới tận cùng của lai Long, nơi Sinh khí hội tụ , nơi mà Âm - Dương giao hòa, Khí mạch tụ lại kết thành Huyệt.
* Xác định được chính xác kiểu Huyệt : a/ Thạch Huyệt : Là Huyệt mộ ở trong đá, chọn chỗ đá mềm và ấm, dễ đào khoét hoặc chỗ đá có màu tím hay trắng thì được coi là cát Huyệt. nếu đất đá cứng, khô, lạnh lẽo thì là hung Huyệt. Thạch Huyệt mềm, khoét sâu 20-30 cm ( nhiều nhất là 40 cm ), sau đó để tiểu vào và lấy đất liền thổ ( đất tốt, sạch ) lấp lại, cuối cùng là đắp thành nấm. Nếu khoét sâu quá là bị thoát khí.
 b/ Thổ Huyệt : Là Huyệt mộ trong đất, chọn chỗ đất có chất mịn, hạt nhỏ, chắc chắn ( Nếu quá ẩm , thấp tơi tả là hung ). Hoặc chọn chỗ đất có mầu hồng, màu vàng, có ánh kim là tốt. Lưu ý là Huyệt phải đào sâu đến mạch Khí mới tốt.Thổ Huyệt có 3 loại đất :  Phù Thổ, Thực Thổ, Huyệt Thổ .  


* Phù Thổ là lớp đất mặt trên cùng của Huyệt mộ.
* Thực Thổ là phần đất ở sau lớp Phù Thổ ta hay gọi là đất liền thổ.
* Huyệt Thổ là lớp đất dưới lớp Thực Thổ . Đây chính là vùng đất tích tụ Sinh Khí của Long mạch, quý báu như ngọc trong đá. Khi đào Huyệt nhất thiết phải đào đến lớp Huyệt Thổ . Tuy nhiên tuyệt đối không được đào xuyên qua lớp đất Huyệt Thổ, vì Huyệt Thổ tàng trữ Sinh khí, nếu chưa đào đến lớp đất này thì chưa lấy được Khí mạch rót vào Huyệt, còn nếu đào xuyên qua sẽ làm tổn thương Long mạch, thậm chí cắt đứt Long mạch . Trường hợp đào xuyên qua Thổ Huyệt không còn là táng nữa mà chính là hiện tượng trấn yểm, cắt đứt Long mạch . Do vậy khi lấy chiều sâu của Huyệt phải hết sức thận trọng , đòi hỏi phải có sự tinh thông về Thổ Huyệt. Để phân biệt được Thổ Huyệt phải căn cứ vào loại Long mạch, màu sắc cũng như đường vân của thớ đất. Đường vân của Thổ Huyệt thường có nhiều dạng như hình Thái cực, như vân của vỏ ốc, hoặc như lỗ vuông của đồng tiền cổ hoặc có những sợi ánh vàng , đỏ xen nhau thì chính là Huyệt Thổ. Khi đào đến Huyệt Thổ hoặc nghi ngờ đó là Huyệt Thổ ta phải bốc một ít đất và dùng tay vê thử , nếu đất thành viên tròn thì đó chính là chân Thổ, có thể cho đào sâu xuống nữa. Lưu ý cố gắng đào với diện tích hết sức nhỏ, chỉ vừa đủ đặt quách và tiểu là tốt nhất - Đào lớn quá sẽ gây đứt Long mạch. Nếu đào tới độ sâu mà không thể vê đất thành viên được tức là lúc đó phần đất Huyệt Thổ đã hết . Như vậy chúng ta thấy rằng, khi táng , quách phải nằm trọn trong lớp đất Huyệt thổ và lỗ đào không quá lớn để không làm tổn thương Long mạch. 
* Tính toán thời gian đặt mộ : Có thể tính theo Tý- Ngọ lưu trú, Linh Quy bát pháp hoặc có một cách tính đơn giản hơn là phương pháp tính theo Mộ Long biến vận.
Mộ Long biến vận là phép để tìm năm tháng ngày giờ cát để hạ táng. Phương pháp này tính theo cách : Lấy 24 sơn theo Hồng phạm ngũ hành làm chính, xem mộ tại thời nào rồi dùng Ngũ thư độn của bản niên ( tức là năm cần tránh ) đến thời mộ của bản sơn nạp âm thì mộ chính là biến vận. Lấy nạp âm Thái tuế so với nạp âm Mộ nếu :
_ Ngang hòa, tương sinh là cát.
_ Nạp âm mộ vận khắc nạp âm Thái tuế là đặc biệt tốt.
_  Nạp âm Thái tuế khắc nạp âm mộ vận là hung, không dùng được.
Tính năm tháng ngày giờ cũng theo đó mà suy.
Căn cứ : 1/ Xét tọa của Huyệt ( phía đầu tiểu ).
2/ Tìm Mộ của tọa sơn theo Hồng phạm ngũ hành xem nó thuộc nạp âm ra hành gì ?
3/ Nạp âm mộ vận : Nạp âm của năm , tháng, ngày, giờ. ( Ngang hòa , tương sinh là tốt, Mộ vận khắc năm , tháng, ngày, giờ là đặc biệt tốt, Không dùng năm , tháng, ngày, giờ có ngũ hành khắc mộ vận.
HỒNG PHẠM NGŨ HÀNH:
* 3 Sơn : Cấn , Chấn, Tỵ = > Mộc mộ tại Mùi.
* 4 Sơn Nhâm , Ất , Bính . Ly = > Hỏa mộ tại Tuất.
* 4 Sơn Đinh, Đoài, Hợi, Càn =  > Kim , mộ tại Sửu.
* 5 Sơn Quý, Sửu. Mùi, Khôn , Canh = > Thổ , mộ tại Thìn.
* 8 Sơn Khảm , Dần, Giáp, Thìn , Tốn, Thân, Tân , Tuất =  > Thủy, mộ tại Thìn .

* Khi phân kim điểm hướng cho Huyệt mộ : chúng ta cần hiểu rõ cấu tạo của La kinh , đã được chỉ dẫn rất rõ ràng trong cuốn La Kinh thấu giải của Thục Đồng Âm dương học , Vương Đạo Hạnh  .
Các bạn cũng cần lưu ý là La kinh ngày nay khi bố trí Thiên bàn thường có sai sót ở nơi khỏi đầu.dienbatn có trong tay vài chục chiếc La kinh nhưng nhận thấy người sản xuất La kinh thường bị sai sót trong vấn đề này mà trong khi phân cung điểm hướng - Sai một li - Đi một đặm. Theo táng thư : " Đường kẻ màu đỏ ở dưới đáy Thiên trì phải chỉ đúng chiều Nam - Bắc, hai đầu của đường kẻ này phải chỉ đúng vị trí Nam - Bắc trên La bàn , tức là đầu Bắc phải đặt ở đường phân giới giữa sao Hư và sao Nguy trong Nhị thập bát tú, đầu Nam phải để đúng vạch thứ 3 của sao Trương. Có thể căn cứ vào Thiên tâm thập đạo mà điều chỉnh. 
 Có bài thơ: 
Hư, Nguy chi gian châm độ minh.  
Nam phương Trương độ thượng tam thừa. 
Khảm Ly chính vị, nhân nan thức.  
Sai khước hào Ly, đoán bất linh. 
Nghĩa là:  trong khoảng sao Hư và sao Nguy đã phân rõ ranh giới; phương Nam thuộc về độ phận của sao Trương, trên có 3 vị liên tiếp (Bính, Ngọ, Đinh); Khảm và Ly là ngôi chính  khí, đời ít có người biết! Nếu làm sai 1 li, thì đoán họa, phúc không linh nghiệm. 
Những La kinh bị sai :









* Lưu ý Bát sát - Hoàng tuyền : 
 Bài thơ bát sát: 
   Khảm long Khôn thỏ, Chấn sơn hầu cẩu 
   Tốn kê, Kiền mã, Đoài xà  đầu 
   Cấn hổ, Ly chư, vi sát diệu 
   Trạch, mộ phùng chi, nhất thời hưu  
 Trên đây là cái sát hàng đầu, mọi cái ác, rất kỵ về việc tạo táng .
Đó đều là bát sát quy cung, thì quyết định bách nhật nội, đại sinh hung họa. Rất nên tránh, đó là 8 cung sát nên cẩn thận chớ phạm vào. 
Bài thơ ca về hồn thiên ngũ hành: 
   Kiền kim, Giáp Tý, ngoại Nhâm Ngọ 
   Khảm thủy, Mậu Dần, ngoại Mậu Thìn 
   Cẩu thổ Bính Thìn ngoại Bính Tuất 
   Chấn mộc Canh Tý Canh Ngọ lâm 
   Tốn mộc Tân Sửu ngoại Tân vị 
   Ly hỏa Kỷ Mão Kỷ Dậu tầm 
   Khôn thổ ất Mùi gia Quý Sửu 
   Đoài kim Đinh Tị Đinh Hợi bình 
 Không kể chính sát hay bàng sát: chỉ kỵ ở chỗ nạp Giáp, Canh, Thân, Tân, Dậu đồng  phạm với Ất, Mão, Cấn, Dần đồng phạm Nhâm Hợi. Sơn và thủy đều có sát. Sơn có sơn sát, thủy có thủy sát. Lập hướng gồm kỵ cả. Cho nên thủy hai dòng chảy lại, nước bên hữu lại thì trưởng tử bại; nước bên tả lại thì con thứ 2 bại; nước chảy ngang trước mặt thì con thứ 3 bại. Xem nước ở trên mặt ruộng sẽ thấy. 
Hướng kỵ: 
     Khảm long thì kỵ Thìn Tuất hướng 
   Cấn long thì kỵ Dần hướng 
   Chấn long thì kỵ Thân hướng 
   Tốn long thì kỵ Dậu hướng 
      Ly long thì kỵ Hợi hướng 
      Khôn long thì kỵ Mão hướng 
     Đoài long thì kỵ Tị hướng 
   Kiền long thì kỵ Ngọ hướng 
Đây là hào quan quỷ về hỗn nhiên ngũ hành, cửu tiên thiên bát quái.  
Tứ lộ Hoàng tuyền và bát lộ hoàng tuyền :
 Bài thi ca: 
   Canh Đinh Khôn hướng thị hoàng tuyền 
   Khôn hướng Canh Đinh thiết mạc ngôn 
   Tốn hướng kỵ hành Ất Bính thượng 
   Ất Bính tu phòng Tốn thủy tiền 
    Giáp Quý hướng trung ưu Kiến Cấn 
   Cấn phùng Giáp Quý hoa liên liền 
    Tân Nhâm Kiên tổ tối nghi kỵ 
   Kiền hướng Tân Nhâm họa diệt nhiên 
  Bốn cái sát này là tứ lộ đảo lộn đổi bại hóa ra bát lộ hoàng tuyền cũng sát kỵ như nhau. Đó là kỵ ở trên phương vị lập hướng, có nước chảy lại minh đường ngay trước mặt. Khai môn phóng thủy càng kỵ nữa. Lấy tọa sơn khởi lệ, dùng bàn tay mà định 12 vị của hàng trường sinh. Tính đến số mộ, tuyệt là phương tiêu thủy ở đó. 
Mão Thìn Tị Ngọ hoàng tuyền ở Tốn 
 Ngọ Mùi Thân Dậu thì hoàng tuyền ở Khôn 
 Dậu Tuất hợp Tý thì hoàng tuyền ở Kiền 
 Tý Sửu Dần Mão thì hoàng tuyền ở Cấn 
  Bạch hổ hoàng tuyền: 
   Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn sơn 
   Bạch hổ chuyển tại Đinh Mùi gian 
   Cánh hữu Ly Nhâm Dần kiêm Tuất 
   Hợi sơn lưu thủy chủ ưu tiên 
   Chấn Canh Hợi Mùi tứ sơn kỳ 
   Thủy nhược lưu Thân khước bất nghi 
   Cánh hữu đoài Đinh Tị kiêm Sửu 
   Phạm trước Ất Thìn bạch hổ khi 
   Khôn Ất nị cung Sửu Mão phạm 
   Thủy lai sát nam định vô no nghi 
   Cấn Bính sáu phùng Ly thượng hạ 
   Tốn Tân ngộ Khảm họa nan đi 
   Thử thị nhị hoàng tuyền chuyển luận 
   Hướng vi chủ kỵ khai môn phóng thủy 
Giải nghĩa: 
 Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì bạch hổ ở Đinh Mùi 
  Ly Nhâm Dần Tuất Thân Thìn thì bạch hổ ở Hợi 
 Chấn Canh Hợi Mùi Thân Thìn thì bạch hổ ở Thân 
  Đoài Đinh Tị Sửu Thân Thìn thì bạch hổ ở Ất Thìn 
 Khôn Ất Tị Sửu Thân Thìn thì bạch hổ ở Sửu 
  Càn Bính Tị Sửu Thân Thìn thì bạch hổ ở Ly 
 Tốn Tân Tị Sửu Thân Thìn thì bạch hổ ở Khảm 
Cả hai cái hoàng tuyền trên đây đều lấy hướng làm chủ, kiêng kỵ mở cửa và chỗ nước chảy tiêu đi ở phương đó 
 * SỬ DỤNG VỀ KIẾP SÁT 
 BÀI QUYẾT CA 
Tốn, Mùi, Thân sơn Quý Kiền tàng 
Tân, Tuất cư Sửu, Canh mã hương 
Chấn, Cấn phùng Đinh, Giáp Kiền Bính 
Nhâm hầu kiến thỏ, Bính Tân phương 
Khảm Quý phùng xà, Tị Ngọ kê  
Đinh Dậu phùng Dần, Khôn Hợi ất 
Long Hổ ngộ dương, ất hầu kiếp 
Tê ngưu long vị vĩnh bột lập 
Giải nghĩa:  
Như: Tốn, Mùi, Thân 3 sơn thì kiếp sát ở Quý – Tân, Tuất 2 sơn này thì kiếp sát ở Sửu, Canh thì ở Ngọ - Chấn, Cấn sơn thì kiếp ở Đinh, Giáp sơn thì kiếp ở Bính – Nhâm sơn thì kiếp ở Thân. Kiền sơn thì kiếp ở Mão, Bính sơn thì kiếp ở Tân – Khảm, Quý 2 sơn thì kiếp sát ở Tị; Tị, Ngọ 2 sơn thì kiếp cùng ở Dậu – Đinh Dậu 2 sơn thì kiếp cùng ở Dần; Khôn, Hợi 2 sơn kiếp cùng ở ất – Thìn, Dần sơn kiếp cùng ở Mùi; ất sơn thì kiếp ở Thân – Sửu sơn thì kiếp sát ở Thìn. 
Tóm lại là phương kiếp sát, chỉ lấy tọa sơn (là phương ở sau lưng, của gối đầu vào) mà bàn về tiêu, nạp chứ hướng sơn không liên quan gì đến. Chỉ kỵ có 1 sơn thôi như ngồi ở Tốn sơn hay Mùi sơn, Thân sơn mà phương quý có sơn sa cao, mà nghiêng ngả, lệch vẹo, hoặc vỡ lỡ, hoặc núi đá gồ ghề, lởm chởm là rất kỵ. Nếu ngay ngắn, tròn đẹp thì không sợ kỵ, các sơn khác cũng vậy 
   
* LỤC THẬP LONG THẤU ĐỊA 
TỨC NGŨ TÝ KHÍ – CÁT HUNG BÍ QUYẾT .
1-Khí Giáp Tý 7 phân Nhâm 3 phân Hợi là tiểu thác; là Giáp Tý xung quan mà sanh ra 
các bệnh: hoàng sũng, điên dại, phong, lao, tê liệt, cùi hủi, gái câm, trai ngọng v.v… Nếu thấy thủy ở phương Bính lại, thì trong quan tài có bùn nước đọng sinh ra thưa kiện v.v… sẽ ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu. 
2-Khí Bính Tý ở chính Nhâm long thì rất tốt thêm người, gia của phú quý song toàn, mọi việc đều tốt. Nếu thấy thủy ở phương Mùi lại và phương Khôn thì chung quanh quan quách là cái lọ chứa nước, rất xấu, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu. 
3-Khí Mậu Tý, 5 phân Tý, 5 phân Nhâm là hỏa khanh thì sinh ra người du đãng, bại nhân luân, không những quan tài bị rễ cây xuyên vào mà còn kiến, mối đục nữa. Nếu thấy thủy ở phương Tốn lại thì trong quan tài có 2,3 phần nước, bùn thì hỏng, sẽ ứng vào những năm: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn. 
4-Khi Canh Tý ở chính Tý long được phú quý song toàn, phúc lộc thịnh vượng lâu bền. Nếu thấy thủy ở Tốn lại là trong quan tài có bùn thì xấu hay dở sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn. 
5-Khí Nhâm Tý, 7 phân Tý, 3 phân Quý là dương nhận, sinh ra người hay chết non và bị trộm cướp, tổn thê, hại tử, gặp nhiều tai nạn. Nếu thấy thủy ở Canh Tân lại thì trong quan tài có đầy bùn nước, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn. 
6-Khi Ất Sửu 7 phân Quý, 3 phân Tý thì người của đều được thịnh vượng, sang giàu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ, Đinh thì quan tài có đầy bùn nước; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu 
7-Khí Đinh Sửu ở ngay Quý long, sinh ra người thông minh, lanh lợi, phú quý lâu bền; mọi sự vui vẻ. Nếu thấy thủy ở phương Mùi đến, thì trong quan tài có nước như ao thì hỏng; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn 
8-Khi Kỷ Sửu có 5 phân Sửu, 5 phân Quý là hắc phong, thì con gái bị chết non, con trai bệnh tật; mọi sự đều xấu, thường sinh ra bệnh điên khùng và thất bại đau đớn. Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì trong huyệt có nước và sâu bọ, là vì thủy ở trong hỏa khanh sinh xuất, sẽ ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất 
9-Khí Tân Sửu ở chính Sửu long, thì 30 năm sau mới giàu sang Đinh tài, đại vượng; mọi sự cát tường, sinh ra người nhân từ hiếu thảo, khác thường. Nếu thấy thủy ở phương Dần lại, trong quan tài có bùn nước là xấu. 
10-Khí Quý Sửu, 7 phân Sửu, 3 phân Càn là phạm cô hư, sau khi tọa táng xong có nhiều tai họa xảy ra; mọi sự không vừa ý, cả gia đình đều lủng củng, khẩu thiệt sẽ ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy thủy ở phương Kiền thì có rễ cây xuyên vào quan tài .
11-Khí Bính Dần, 7 phân Cấn, 3 phân Sửu thì huyệt bình thường, phát phúc, nhưng không bền sẽ  ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất; mọi sự  đều cát tường. Nếu thấy thủy  ở  phương Hợi lại thì quan tài bị bùn vào nát hư 
12-Khí Mậu Dần chính Cấn long thì phú quý vinh hoa đời đời thịnh vượng, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn đậu đạt; chỉ sợ thủy ở phương Mão lại xung quan thì hung. 
13-Khí Canh Dần, 5 phân Càn, 5 phân Cấn là cô hư, hỏa khanh, hắc phong, không vong. Sau khi táng 3, 6, 9 năm thấy sinh ra bệnh tật, gia tộc bại tuyệt, rất đau buồn. Lại thấy Thân thủy lại xung thì trong huyệt có bùn vào 
14-Nhâm Dần khí ở chính long Dần, thì phú quý, phúc trạch dồi dào, lắm ruộng nhiều vườn, sẽ ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có bùn là hỏng. 
15-Giáp Dần khí có 7 phân Dần, 3 phân Giáp thì được bình an, một đời phát phúc, qua 
đời sau bị mắc bệnh đau mắt. Nếu thấy thủy ở Khôn xung vào thì quan tài bị mối, kiến đục thì xấu. 
16-Đinh Mão khí có 7 phân Giáp, 3 phân Dần là bình thường, sinh ra người hay tửu sắc, phiêu lưu, lười biếng, ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy thủy ở Hợi xung vào thì huyệt có nhiều bùn nước là họa bại 
17-Kỷ Mão khí ở chính Giáp long, Đinh tài đều phát đạt, ăn mặc phong lưu. Nếu thấy thủy ở Tốn xung vào thì có chuột bọ đục khoét hài cốt, con cháu đau buồn, không nghi hoặc gì nữa. 
18-Tân Mão khí có 5 phân Tân, 5 phân Mão là hắc phong, hỏa khanh sanh ra trộm cướp, ngành thứ 3 bị bại tuyệt trước, rồi đến cả các ngành khác; sau bị thưa kiện, xảy ra nhiều sự hung dữ. Nếu thấy thủy ở Canh Thân lại thì quan tài có đầy bùn ngập. Mộ này chậm không chịu di cải thì bị bại tuyệt không tránh khỏi. 
19-Quý Mão khí ở chính Mão long thì phú quý song toàn, sinh ra người thông minh, khỏe mạnh, mọi sự tăng tiến. Nếu thấy thủy ở  Tị phương xung vào thì có rễ cây đâm vào quan tài, lành dữ đều ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu 
20-Ất Mão khí, 3 phân ất, 7 phân Mão, hay sinh ra người cô quả, yểu tử, đời sau sinh ra người khòng lưng, khèo chân, tuy có người cũng khó giữ thân thế an toàn. Nếu thấy thủy ở phương Tuất xung vào thì trong huyệt có nhiều bùn nước nuôi cá tốt. 
21-Mậu Thìn khí, 7 phân ất, 3 phân Mão, thì được người trường thọ, giàu sang, danh giá nêu cao. Nếu thấy thủy ở phương Thân, Dậu xung vào thì trong quan tài có kiến, bọ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu 
22-Canh Thìn khí ở ngay ất long, thì an nhàn phát phúc vĩnh cửu vô cùng; 7 đời giàu 
sang, sanh ra người tuấn tú, anh hùng, siêu quần quán thế, ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi; chỉ sợ Đinh thủy xung vào thì sinh hỏa tai. 
23-Nhâm Thìn khí, 5 phân Thìn, 5 phân ất là hắc phong, hỏa khanh, bại tuyệt, hay què chân, sinh khẩu thiệt, thưa kiện, ly hương, tu đạo, biệt tông. Nếu thấy thủy ở phương Tuất lại thì quan tài có bùn, bọ, kiến ở trong. 
24-Giáp Thìn khí ở chính Thìn long thì 75 năm phát giàu sang thịnh vượng. Nếu thấy Tý, Quý thủy đến thì trong huyệt có bùn ngâm 
25-Bính Thìn khí, 7 phân Thìn, 3 phân Tốn, thì người ngoài được phát phúc no ấm, yên ổn, rước con rể vào phòng (rước họa vào nhà) đời sau bại tuyệt vô tử, ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Dần, Thân thủy xung vào, thì bị rễ cây đâm vào quan, vong nhân bất an. 
26-Kỷ Tị khí, 7 phân Tốn, 3 phân Thìn thì phú quý ngang nhau, ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy phương Kiền thủy xung, thì thây cốt chôn bùn .
27-Quý Tị khí, 5 phân Tị, 5 phân Tốn là hắc phong, hỏa khanh thì bại tuyệt, bách sự hung dữ, sau khi táng 5 hoặc 7 năm thì già trẻ, lục súc tan như gió bay. Nếu thấy thủy ở phương Sửu đến xung thì có chột làm tổ ở trong huyệt. 
28-Ất Tị khí  ở chính Tị long,  được vinh hoa, phú quý, phúc lộc hưng long,  ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất có nghiệm. Nếu Quý thủy xung vào thì quan tài có bùn đầy. 
29-Đinh Tị khí, 7 phân Tị, 3 phân Bính, thì sau 3 hoặc 7 năm thì khẩu thiệt đều. Nếu thấy Mão thủy đến thì trong quan tài có bùn và nước ở ngoài xâm nhập .
30-Tân Tị khí ở chính Tốn long thì quá nguyệt là phát vinh hoa phú quý cho con cháu dòng họ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu; chỉ sợ là Ngọ Đinh thủy lại xung thôi .
31-Canh Ngọ khí, 7 phân Bính, 3 phân Tị thì nhân hưng tài vượng sẽ hẹn được đời đời tăng tiến hạnh phúc, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất; chỉ kỵ thủy ở Giáp Dần lại thì tổn Đinh. 
32-Nhâm Ngọ khí ở chính Bính long thì sinh xuất anh hung, phú quý song toàn, được 3 đời, sau cháu chắt vẫn còn thịnh vượng, ân hưởng bằng sắc huy chương. Kỵ thấy thủy  ở phương Thân lại thì hỏng. 
33-Giáp Ngọ khí, 5 phân Bính, 5 phân Ngọ là hỏa khanh, năm Tị, Dậu, Sửu gia trung bị bại khuynh. Lại thấy Đinh, Ngọ thủy lại thì đáy quan tài nát như bùn. 
34-Bính Ngọ khí ở chính Ngọ long thì gia nghiệp bình bình, sinh ra người thông minh, mọi mưu sự đều thành tốt lành; gặp vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy Sửu, Cấn thủy lại xung thì trong quan tài bùn nước vào thì hỏng. 
35-Khí Mậu Ngọ, 7 phân Ngọ, 3 phân Đinh thì quan tụng, khẩu thiệt rắc rối, người của bình thường, hằng năm hay sanh ra hoành sự bất ngờ. Nếu thấy thủy ở Quý, Tý xung thì ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất không sai 
36-Tân Mùi khí, 7 phân Đinh, 3 phân Ngọ thì sinh người tuấn kiệt, phát phúc mạnh như sấm động, tiền nát, thóc mục đầy kho. Nếu thấy Ngọ phương thủy xung, thì quan tài bị rễ cây xuyên vào thì rất xấu. 
37-Quý Mùi khí ở chính Đinh long, thì sinh ra người phú quý, thọ khảo mộc đầu. Nếu thấy phương Canh thủy xung vào thì người chết về tai ách, ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi .
38-Ất Mùi khí, 5 phân Đinh, 5 phân Mùi là phạm cô hư, hỏa khanh thì bại tuyệt rất đau đớn. Lại thấy Tị phương thủy xung, thì thây xương nát rã thành đất bùn, ứng vào các năm Tị, Dậu Sửu. 
39-Đinh Mùi khí ở chính Mùi long thì gặp được phú quý song toàn, lâu dài, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn. Còn gặp hung sự vào những năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy Sửu, Cấn phương thủy xung vào thì bùn nước đầy trong quan tài là hỏng. 
40-Kỷ Mùi khí, 7 phân Mùi, 3 phân Khôn là phạm cô hư thì bị tai họa phá bại không sai. Đến hạn những năm Dần, Ngọ, Tuất thì sinh ra bệnh phong mê cuồng độc. Nếu thấy thủy ở phương Hợi, Nhâm xung vào thì nhi tôn có sự tai họa bất ngờ. 
41-Nhâm Thân khí, 7 phân Khôn, 3 phân Mùi thì phá gia tài, bại sản, bệnh tật, đau đớn liên miên đáng buồn khổ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu, thuốc thang khó điều trị. Nếu gặp thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có đầy nước. 
42-Giáp Thân khí ở chính Khôn long, được sinh ra người thông minh, tuấn tú, phú quý thanh nhàn, điềm ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn; đời đời vui vẻ vô cùng. Nếu thấy thủy phương Càn lưu xung thì quan tài bể nát làm hư thì hỏng bại 
43-Bính Thân khí, 5 phân Thân, 5 phân Khôn là hắc phong, hỏa khanh bị bại tuyệt bần cùng. Nếu thấy Tý, Quý thủy xung thì huyệt có bùn nước, thực không sai. 
44-Mậu Thân khí ở chính Thân long thì sinh ra người thông minh trường thọ, phú quý song toàn. Nếu thấy Giáp thủy xông vào thì quan tài đầy bùn nước, là tối hung. 
45-Canh Thân khí, 7 phân Thân, 3 phân Canh thì phạm cô hư, có nhiều tai nạn xảy ra. Lại thấy Kiền thủy lai xung, thì người bị về tai nạn áp bức chết. 
46-Quý Dậu khí, 7 phân Canh, 3 phân Thân được phát phú quý, người của vẹn toàn cả hai và sống lâu. Nếu thấy thủy phương Đinh xung vào thì huyệt trở thành ao ngâm nước quan tài, hài cốt hư nát. 
47-Đinh Dậu khí, 5 phân Canh, 5 phân Dậu là phạm hỏa khanh, thì bách sự bất như ý, bị tuyệt tự nhân Đinh. Nếu thấy Quý thủy xung vào thì quan tài đầy bùn nước mãi. 
48-Ất Dậu khí ở chính Khôn long sinh ra người rất thông minh và giàu sang. Nếu thấy thủy Thìn phương xung vào thì quan tài chôn chỗ nước bùn. 
49-Kỷ Dậu khí ở chính Dậu long, thì phát văn võ gần tới tước tam công (quan to) đời đời giàu sang, điềm ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy phương Mão xung, thì áo quan cũng bị bùn vào, không kết phát đâu. 
50-Tân Dậu khí, 7 phân Dậu, 3 phân Tân thì giàu sang bền mãi, người của hưng vượng, mọi sự đều tốt lành, sẽ ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy Kiền thủy phương xung vào quan tài thì lại ưu sầu. 
51-Giáp Tuất khí, 7 phân Tân, 3 phân Dậu, được phát phú quý 1 đời không vẹn, qua đời sau sinh ra người đi làm tăng ni tu đạo; ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất, bị cô quả mà bại tuyệt, mọi sự buồn chán, lo âu. Nếu thấy thủy phương Nhâm xung vào thì sinh ra kỳ quái, ma quỷ trêu quậy. 
52-Bính Tuất khí ở chính Tân long thì sinh ra nhân Đinh phát đạt vui vẻ, đăng khoa cập đệ sớm, vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Giáp Mão thủy xung, có rễ cây đâm xuyên vào quan tài. 
53-Mậu Tuất khí 5 phân Tuất, 5 phân Thân, phạm vào cô hư, hỏa khanh, bị bại tuyệt, người sinh nhiều bệnh tật, chết non, cô quả, vào chùa tu đạo, tổn vợ khắc con, quyết định không nghi hoặc, ứng vào các năm Ngọ, Mùi đã biết trước rồi, lại chịu nhiều tai họa kỳ dị. Nếu thấy thủy phương ở Thân xung thì quan tài hư nát không còn. 
54-Canh Tuất khí ở chính Tuất long, thì được giàu sang, sung sướng,ăn mặc phong lưu, những năm Tị, Dậu, Sửu thấy tin vui mừng, 36 năm sẽ sanh ra người thông minh xuất chúng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung vào thì hung bại. 
55-Nhâm Tuất khí, 7 phân Tuất, 3 phân Kiền, sinh ra người chết non, không có của cải, Ly hương vào chùa tu đạo, tổn khê, khắc tử, bại phòng 2 (con thứ 2 bại), thoái bại không thể lo tính thoát khỏi.  Điềm  ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy Thìn, Tuất phương xung thì trong quan tài có đầy bùn nước ngập. 
56- Ất Hợi khí, 7 phân Kiền, 3 phân Tuất sinh ra con dâu quả phụ, chết non, bệnh tật phong tàn đủ cảnh thảm thương, con mồ côi. Năm Dần, Ngọ, Tuất thì phát khốc đau buồn. Nếu thấy thủy ở cung Khôn xung thì trong quan tài đầy mối kiến đục gặm. 
57-Đinh Hợi khí ở chính Kiền long thì đại phát phú quý, được nhiều sự cát khánh, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn; chỉ sợ Tốn thủy phương xung thì quan tài đầy bùn nước mục nát, tối hung. 
58-Tân Hợi khí ở chính Hợi long, thì Đinh tài đều phát, lâu bền thịnh vượng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung thì bùn vào quan tài mục nát, đại hung, tối kỵ. 
59-Kỷ Hợi khí, 5 phân Kiền, 5 phân Hợi là phạm hắc long hỏa khanh, sinh ra hung bại, đến những năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất người ly tán tha phương, đa sinh kỳ quái. Nếu thấy Canh, Dậu thủy xung, thì rễ cây xuyên đâm vào quan tài thì hung bại. 
60-Quý Hợi khí, 7 phân Hợi, 3 phân Nhâm, được làm quan, phát mọi sự, phong hanh, người của được thịnh vượng, sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn có nhiều cảnh vui đẹp. Nếu thấy Thìn thủy xung thì trong quan tài không sạch sẽ. 
  " La Kinh chế ra tập trung được tất cả mọi tinh hoa của Trời Đất. Nguyên bản Thái Cực là tinh chất của Thiên Địa ngưng đọng lại, là căn bản của vạn vật. Đặt tên là La Kinh, vì chữ La có nghĩa là "bao la vạn vật"; Kinh có nghĩa là kinh luận "Kinh Thiên Vĩ Địa, là trải khắp cả ngang Trời, dọc Đất". Sở dĩ lập ra có qui cũ (khuôn mẫu) quyền cái, khinh trọng, thành ra vuông, tròn, chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm (kim vàng chỉ nam, bắc) và cái Thiên Trì (vòng tròn). Trước hết để định về Phong Thủy, giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì, thì không quyết định được phương Tý, Ngọ; không phân biệt được Âm Dương; không hoạch định được Bát Quái, Cửu Cung ; Ngũ Hành lẫn lộn, không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi; không biết được Long, Hướng, Khí, Mạch hay dỡ thế nào, lấy gì mà làm căn cứ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương, Tĩnh thì Âm. Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, phân ra Bát Quái; định vị Cát Hung, tự nhiên hóa hóa, sinh sinh, vô cùng vô hạn! Nguyên bản của Trời Đất không phải là ở đầu cực, mà ở 1 điểm chính giửa đỉnh châm làm tổ khí , và cũng là căn bản của vạn vật, vạn hóa. " - La kinh thấu giải.
Bạn nào muốn giỏi Phong thủy, việc đầu tiên là phải đọc nát cuốn sách này.
* QUẺ CỦA HUYỆT VỊ.
Trong táng pháp, chúng ta phải xác lập được quẻ của Huyệt vị theo Tam quái pháp ( Huyền vi bí kíp ). Huyệt phát được dài nhất theo lý thuyết là 540 năm. " 
" Nhất cá sơn trung hạ thập phần, 
Nhất phần phú quý , cửu phần bần,
Cộng Đường, cộng Án, cộng sơn thủy,
Diệu tại huyệt trường, nhậm đắc chân ".
Để xác định quẻ Huyệt vị phải thực hiện qua 9 bước :
1/ Xét Long nhập thủ theo Tam hợp Ngũ hành , để xem Long nhập thủ theo 24 sơn là sơn gì ? Âm hay dương.
2/ Đo Long nhập thủ và xem Long nhập thủ do sao nào quản cục.
3/ Phối giữa quẻ của Long theo Tam hợp Ngũ hành lấy được từ bước 1 với sao quản cục ở bước 2 theo phép biến " Nhất biến thượng vi tham " sẽ ra sao gì ? , xét sao đó thuộc quẻ gì , thì quẻ đó được gọi là Long quái.
4/ Lấy Long quái nhập trung cung rồi thuận hay nghịch khởi theo quỹ đạo của sao quản cục và của Long nhập thủ ( lấy được ở bước 2 ), chạy tới Tọa sơn của Huyệt vị theo chính ngũ hành ra quẻ gì ? Quẻ đó chính là Long Sơn Quái.
5/ Lấy Long Sơn Quái phối với quẻ quản cung tam hợp tọa sơn ở Huyệt vị rồi theo phép thứ 3 ( Nhất biến hạ vi Liêm ) , ra quẻ gì thì quẻ đó là quẻ Hạ của Huyệt vị.
6/ Lại lấy chủ tinh biến quái của Minh đường thủy ( Bát diệu thủy pháp ), nhập trung cung rồi thuận, nghịch khởi theo quỹ đạo của sao quản cục Minh đường chạy tới hướng của Huyệt vị ra quẻ gì thì quẻ đó là Thủy Hướng quái của Huyệt vị.
7/Lấy Thủy Hướng quái phối với quẻ bản cung Tam hợp chiều hướng của Huyệt vị theo phép 3 ( Nhất biến hạ vi Liêm ) , ra quẻ gì thì quẻ đó là Quẻ Thượng của Huyệt vị.
8/ Phối giữa hai quẻ Sơn và Hướng của Huyệt ( Chồng quẻ Thượng ở bước 7 lên trên quẻ Hạ ở bước 5 ) , ta được quẻ của Huyệt cần tìm.
9/ Tìm Nguyên đường và Hào động. 
THẾ             NGUYÊN ĐƯỜNG                         THÂN QUẺ.
ỨNG           ĐỘNG                                              HÀO CHỦ.
Trong một quẻ có 6 vấn đề : 
* Quan tước - Do hào quan quỷ phụ trách.
* Tài lộc  -      Do hào Thê tài phụ trách.
* Điền địa   -  Do hào Phụ mẫu phụ trách.
* Bằng cấp  - Do hào Phụ mậu phụ trách.
* Nhân đinh - Do hào Huynh đệ phụ trách.
* Phúc đức - Do hào Tử tôn phụ trách.
a/ Tìm Nguyên đường : Nguyên đường căn cứ vào quẻ gốc của Huyệt vị lấy được ở bước 8 . Trường hợp là Nam nếu thấy hào dương khởi sao Văn Khúc , nếu thấy hào âm thì khởi sao Cự Môn. 
Trường hợp là Nữ, Nếu thấy hào dương khởi sao Cự môn, nếu thấy hào âm khởi sao Văn khúc. Khởi thuận đến sao chủ mệnh của mệnh mỗi sao một Hào theo thứ tự phép biến " Nhất biến hạ vi Liêm " . Dừng tại Hào nào thì hào đó là Hào Nguyên đường .
b/ Tìm hào động : Từ Hào Nguyên đường coi là Tý thuận đến chi năm sinh của Vong thì dừng lại tại hào nào thì hào đó là Hào động.
* XÉT THỜI ĐIỂM VÀ THỜI HẠN KẾT PHÁT CỦA HUYỆT VỊ.
1/ Thời điểm kết phát :
Lấy năm táng ( Can chi năm hạ táng ) , tính đến Can chi của hào động xem cách nhau bao nhiêu vị , mỗi vị là một năm thì cuối của số vị đó là thời điểm của Huyệt kết phát.
Ví dụ : Táng vào năm Nhâm Ngọ , hào động là Hào Kỷ Mùi , tức là có 38 vị ứng với 38 năm sau sẽ kết phát ( Hạ táng năm Nhâm Ngọ 2002 , đến năm 2040 Canh Thân sẽ kết phát ).
2/ Thời hạn kết phát :
Muốn xác định thời hạn kết phát của Huyệt nhanh hay chậm , ta phải căn cứ vào đốt của Long nhập thủ :
* 1 đốt : Khởi tại Bính, Tân ( Dương long tại Bính, âm Long tại Tân ).
* 2 đốt : Khởi tại Mậu, Tý (Dương long tại Mậu , âm Long tại Tý ).
* 3 đốt : Khởi tại Nhâm, Đinh (Dương long tại Nhâm , âm Long tại Đinh ).
* 4 đốt : Khởi tại Canh , Ất (Dương long tại Canh , âm Long tại Ất ) .
* 5 đốt : Khởi tại Giáp , Kỷ (Dương long tại Giáp , âm Long tại Kỷ  ) .
Từ đốt thứ 6 lại quay lại như đốt 1. Trong thực tế nhiều nhất chỉ có 9 đốt.
Đặt Can gốc này vào hào Thế thuận đến Can phân kim Tọa Sơn của Huyệt vị, dừng tại hào nào thì hào đó là hào chủ . Từ Can , chi của hào chủ lại thuận thế đến phân kim của Long nhập thủ xem cách nhau bao nhiêu vị . Lấy số đốt nhân với số vị vừa tìm ta được thời hạn kết phát - Ví dụ : 29 vị x 3 đốt = 87 năm.
Xin theo dõi tiếp bài 11 - dienbatn .

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/11/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 2

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_9.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_11.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_8616.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_2.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_7.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_17.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_21.html

 

Xem chi tiết…

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 9.

5/14/2013 |
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN.
PHẦN 3 : MỘT VÀI ĐIỀU CẦN LÀM KHI LẬP NGHĨA TRANG DÒNG HỌ.
7/ XÂY DỰNG HÀNG RÀO VÀ THIẾT KẾ TỔNG QUÁT TOÀN BỘ CHO CÁC ĐỜI DỰ KIẾN.
Khi chúng ta đã có một cuộc đất dùng để đặt nghĩa trang cho dòng họ rồi, việc tất yếu chúng ta phải có quy hoạch cho phần mộ các đời và dựng hàng rào xung quanh cuộc đất để không bị người khác lấn chiếm. Hàng rào thường được xây dựng với độ cao từ 1,2 - 1,5 m. Không nên xây thấp quá sẽ bị trâu bò tràn vào, cũng không nên xây quá cao sẽ ảnh hưởng tới Khí mạch vận chuyển. Không nên xây hàng rào kín mít mà chúng ta nên đặt những hoa gió hoặc con tiện trên chiều dài của hàng rào cho thông thoáng khí. Khi phân gianh giới các đời cần theo thứ tự các đời từ trước đến sau theo chiều dài của khu Huyệt mộ. Thường khi quy hoạch nghĩa trang có khoảng 3-4 đời trước và 4-5 đời sau. Mỗi đời làm thành một hàng và giữa các đời nên giật cấp để bao giờ đời trước cũng ở cao hơn đời sau khoảng 5-10 cm tùy địa hình. Khi đặt mộ, theo nguyên tắc Nam tả - Nữ hữu. Nếu là hai vợ chồng thì đặt chồng bên trái, vợ bên phải nếu nhìn ra cổng.
Phía đầu khu mộ người ta xây một cái nhà nhỏ có mái để thờ cúng . Nhà này nằm chính giữa đầu khu đất và có mái che . Tùy điều kiện kinh tế gia đình mà trang trí khu thờ cúng, nhưng nhất thiết phải có một bàn thờ xây áp lưng vào tường sau và phải có bài vị của dòng họ cùng bát hương chung cho cả dòng họ đặt chính giữa bàn thờ. Ngoài ra hai bên ban thờ thường có đôi câu đối ca tụng công đức của những người quá vãng. Hai bên thành của nhà thờ cúng nên xây thành hai tay ngai ( Thanh Long - Bạch hổ ), thường người ta lượn khúc này thành hình Tam sơn hay Ngũ nhạc. Ở phía đối diện với nhà thờ cúng ( phía cuối nghĩa trang ) người ta xây cổng vào.Cổng hàng rào thường làm bằng sắt khóa lại cho người ngoài , trẻ trâu hoặc trâu bò vào phá. Chốt cổng hay làm phía sát đất để khi mở cổng, người ta phải cúi xuống, tỏ ý thành kính các bậc tiền nhân. Hai trụ cổng thường gắn đôi sư tử hoặc Nghê đá để trấn giữ. Lưu ý, sư tử hay nghê đá phải là một cặp đực , cái. Con được thường dẫn trên quả cầu, đặt bên Thanh Long ( phía tay trái nếu  từ trong nhìn ra ) , con cái thường dẫm lên một con con đặt bên Bạch hổ ( phía tay phải nếu từ trong nhìn ra ). Xung quanh khu nghĩa trang người ta thường trồng trầu cau, cây hoa Đại ( Xứ ), trúc cảnh...Không nên trồng những cây có rễ đâm sâu và cây cổ thụ phòng trường hợp rễ cây đâm xuyên xuống quan tài hay tiểu.










Hướng của nghĩa trang dòng họ không phải tính theo tuổi của một người nào dù cho đó có là mộ Tổ đi chăng nữa. Hướng chính của nghĩa trang phải xác định theo Loan đầu, tức là theo bố cục của cuộc đất. Tất cả các mộ trong nghĩa trang đều phải lấy theo một hướng nhất định theo Loan đầu.
 Tính theo Thủy Pháp : Thủy chủ về tài lộc, Sơn chủ về Nhân đinh. Thủy pháp cần quan tâm đến Minh đường và Thủy khẩu. Phần này cần hiểu rõ cách tính Bát diệu thủy pháp và Tam hợp ngũ hành.
Trước hết phải nhận biết chính xác các khu vực của Minh Đường ( bao gồm Nội Minh đường, Trung Minh đường và Ngoại Minh đường ) . Đó chính là khoảng đất có nước tụ nằm trước mặt Huyệt. Yêu cầu đối với Minh Đường là : Nội Minh đường chỉ cần một chỗ trũng, khi có mưa mới có nước; Trung Minh đường bắt buộc lúc nào cũng phải có nước , phải gọn gàng, gần, hẹp và kín gió và thường chỉ đủ cho một người nằm nghiêng; Ngoại Minh đường phải rộng rãi, khoan thai , phẳng hoặc hơi lõm một chút. 
BÁT DIỆU THỦY PHÁP : 
* 3 sơn : Sửu , Cấn , Dần - Tham lang quản cục * Càn , Giáp = Càn.
* 3 sơn : Bính, Ngọ, Đinh - Cự Môn quản cục * Tý , Thìn, Thân , Quý = Khảm.
* 3 sơn : Mùi , Khôn , Thân - Lộc tồn quản cục * Dần, Ngọ, Tuất , Nhâm = Ly.
* 3 sơn : Giáp , Mão , Ất - Văn Khúc quản cục # Tỵ, Dậu, Sửu, Đinh = Đoài.
* 3 sơn Canh, Dậu , Tân - Liêm trinh quản cục # Hợi, Mão, Mùi, Canh = Chấn.
* 3 sơn Nhâm , Tý , Quý - Vũ khúc quản cục  # Cấn , Bính = Cấn.
* 3 sơn : Tuất, Càn , Hợi - Phá quân quản cục  # Tốn , Tân = Tốn.
* 3 sơn : Thìn , Tốn , Tỵ - Phụ bật quản cục  * Khôn , Ất = Khôn.
( Dấu * là dương, dấu # là âm ).
Đặt La kinh vào tâm Huyệt ta điểm Huyệt. Một người đóng một cái cọc vào đầu Long nhập thủ, đóng một cọc vào tâm của Minh đường. Kéo dây từ tâm của Minh đường qua tâm của La kinh để biết hướng Minh đường đi qua tâm của La kinh là hướng gì ? Hướng của Minh đường thường không phải hướng của Huyệt. Sau đó căng dây từ Long nhập thủ đi qua tâm của La kinh để biết hướng của Long nhập thủ ( Đi qua chữ gì của La kinh ta gọi là hướng của Long nhập thủ theo chữ đó ).


Cách tính : Lấy Long nhập thủ theo Bát diệu quản cục. 
Ví dụ : Hướng Long nhập thủ là Tị , thì sao Phụ bật quản cục, thuộc Mộc - Tốn.   Tị là âm Long nên khi biến chạy ngược chiều kim đồng hồ.
Sau 12 lần biến tới cung Hợi là Phá quân quản cục nên Minh đường này hung.





Mục đích của bát diệu thủy pháp và Tam hợp ngũ hành là để tìm sao quản cục của Long nhập thủ và tìm sao quản cục của cung Minh đường.
Trên hình này có 5 vòng :
* Vòng 5 ngoài cùng để xác định âm, dương từng cung.
* Vòng 4 là quẻ của từng cung theo Tam hợp ngũ hành.
* Vòng 3 là Trên của 24 cung.
* Vòng 2 Tên của Bát diệu Thủy pháp quản cục.
* Vòng 1 là tên quẻ theo Bát diệu thủy pháp 
a/ Vòng 4 là Tam hợp ngũ hành :
* Long + Thân , Tý , Thìn , Quý => Thủy quẻ = Khảm.
* Long + Dần , Ngọ , Tuất, Nhâm => Hỏa quẻ = Ly.
* Long - Tỵ, Dậu, Sửu, Đinh => - Kim quẻ = Đoài.
* Long - Hợi , Mão, Mùi, Canh => +  Mộc quẻ = Chấn.
* Long + Càn, Giáp => + Kim quẻ = +  Càn.
* Long - Cấn, Bính => + Thổ quẻ = Cấn.
* Long + Khôn, Ất => - Thổ quẻ = Khôn.
* Long - Tốn, Tân => - Mộc quẻ = Tốn.
b/ Vòng 2 -  Tên của Bát diệu thủy pháp quản cục.
* Tham lang + Mộc quẻ = Chấn , ký hiệu Mộc //.
* Phụ bật - Mộc quẻ = Tốn , ký hiệu Mộc //.
* Cự môn + Thổ quẻ = Cấn , ký hiệu Thổ #.
* Lộc tồn - Thổ quẻ =  Khôn, ký hiệu Thổ #.
* Vũ khúc + Kim quẻ = Càn, ký hiệu 0.
* Phá quân - Kim quẻ = Đoài , ký hiệu 0.
* Văn khúc , Thủy Quẻ = Khảm , ký hiệu *.
* Liêm trinh , Hỏa quẻ = Ly, ký hiệu    ^_ ( Tam giác ).
c/ Công thức tìm sao quản cục :
 Nếu biến hào sơ => Liêm trinh ^_ Ly.
 Nếu biến hào 2 => Vũ khúc +0 Càn.
Nếu biến hào 3=> Văn khúc * Ly. 
Nếu biến hào 1+ 2 = > Phá quân -0 Đoài.
Nếu biến hào 1+3 = > Tham lang +//.
Nếu biến hào 2+3 => Lộc tồn - # , Khôn.
Nếu biến hào 1+2+3 = > Cự môn +#.Cấn.
Không biến => Phụ bật -// Tốn.
Phép tính như sau : Đặt la kinh ở Huyệt mộ nhìn về Long nhập thủ xem ở trên cung nào của La kinh Dương 0 hay âm *. 
Đặt La kinh ở Huyệt mộ nhìn về cọc tiêu của Minh đường xem Minh đường ở cung nào trên La kinh. Sau đó ta lưu ý là âm * thì chuyển nghịch, là dương 0 thì chuyển thuận.
Khi được Long nhập thủ rồi , ta xem cung đó thuộc sao nào quản cung ( Bát diệu thủy pháp tại vòng 2 ) , lấy sao đó làm quẻ quản cung để tiến hành phối với từng quẻ( ở vòng 4 - Tam hợp ngũ hành ). Quẻ này so với quẻ quản cung thì biến ở những hào nào , lúc này ta đối chiếu với công thức " Nhất biến trọng vi phu" để tìm ra quẻ quản cung mới. Cứ như vậy ta liên tục biến đến Minh đường và sẽ có kết quả : Long nhập thủ cát hay hung, Minh đường cát hay hung.
( dienbatn chỉ xin chép sơ sơ một chút về cách tính để các bạn có thể hình dung - Muốn hiểu cụ thể cho thuần thục thì chỉ có cách ....kiếm thày mà học ) .
Ý NGHĨA CỦA BÁT DIỆU THỦY PHÁP .
1/ Phụ bật : Phụ bật thủy bản cục nếu hợp cách chủ sinh ra người hiếu thuận, con cháu nhiều đời được phú quý , vinh hoa, con trai có thể làm phò mã, nữ có thể là cung phi hay những bậc mệnh phụ phu nhân. Phụ bật thủy bản cục nếu hợp cách còn chủ về sinh con trí tuệ, thông kim bát cổ, hài cốt được sạch sẽ, mát mẻ.Phụ bật thủy bản cục nếu không hợp cách mang đến thoái bại, trong họ thường sinh ra người yểu mệnh , cô quả.
2/  Vũ khúc : Vũ khúc Thủy quản cục nếu hợp cách, sinh người thanh tú đỗ đạt cao , phú quý song toàn , con cháu đời sau nhiều người làm quan to, có danh tiếng, nếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thì rất giầu có , thành đạt, phú gia địch quốc. Vũ khúc Thủy quản cục nếu hợp cách , nếu khai quật hài cốt sẽ thấy một sợi dây tơ hồng quấn bọc quanh quan tài . Lúc đó là mả phát . Nếu là hung phát ( Mả kết ) , phát một đời , nếu bốc lên là hỏng. Cát phát ( sau khi an táng ), có thể di chuyển đến vị trí khác .
Vũ khúc Thủy quản cục nếu bất hợp cách thì gia đình có nhiều tai họa, có người tha phương cầu thực, giảm thọ, hay gặp những chuyện thị phi, tranh chấp đến đổ máu.
3/ Phá quân : Phá quân là một đại hung tinh. Phá quân Thủy quản cục nếu hợp cách chủ về quan quyền , thường là hàng võ tướng nếu không cũng là những người có chức phận , cận kề bậc nguyên thủ nhưng cuộc đời cũng nhiều phen chìm nổi , thăng trầm, phát không bền lâu.
Phá quân Thủy quản cục nếu không hợp cách chủ sinh ra người tính tình hung bạo, khát máu, hoặc sinh ra người câm điếc , thể chất yếu nhược, chết yểu, con cháu tản mát tài sản hao tán, hay gặp chuyện kiện cáo ra công đường. Phá quân Thủy quản cục nếu  không hợp cách hài cốt thường bị đen, hư hỏng, thường có mối , kiến hoặc rễ cây đâm vào trong quan tài.
4/ Liêm trinh : Liêm trinh Hỏa tinh quản cục, nếu hợp cách cũng được tốt lành, chủ phú quý vinh hoa, phát được một đời mà không trọn vẹn, thường là phát võ liêm khiết, thẳng thắn . Nếu trong họ có người làm nên thì sẽ có người chết yểu hay phá sản.
 Liêm trinh Hỏa tinh quản cục nếu không hợp cách chủ về phá phách, tai họa, ốm đau , bệnh tật triền miên. Thường sinh ra con cháu cuồng bạo , thường bị chết thảm như sét đánh, hổ vồ, chết cháy. Liêm trinh Hỏa tinh quản cục nếu không hợp cách thì hài cốt thường bị ngấm bùn đất , bị chuột, rắn đào bới .
5/ Tham lang : Tham lang Mộc tinh quản cục, nếu hợp cách thì cũng đại cát lợi, phát nhiều chi , chủ sinh người thông minh dĩnh ngộ, hiếu thuận. Tham lang cũng phát về điền sản, phát văn, đỗ đạt cao, thành quan văn. Tham lang Mộc tinh quản cục, nếu hợp cách thì hài cốt sạch sẽ, khô ráo, xương thường có tuyết màu hơi xanh.
Tham lang Mộc tinh quản cục, nếu hợp không cách thì chủ ốm đau, bệnh tật , thường sinh ra người chơi bời , dâm đãng, rươu chè, cớ bạc, trai gái. Nếu có gia sản để lại thì cũng tàn phá hết.
6/ Cự môn : Cự môn Thủy quản cục, nếu hợp cách thì sinh ra người trung hậu , thọ trường, chủ phát phúc sinh quý tử , thần đồng, con cháu đời đời vinh hiển, thường làm nghề ngoại giao, tư pháp , chủ yếu do điền địa tạo ra, ăn nói rõ ràng khúc triết.
Cự môn Thủy quản cục, nếu  không hợp cách thì chủ con cháu pha1ba5i, ly hương, hay sinh ra tăng ni, đạo sĩ. Hài cốt kém khí, khô mủn , xương bị vàng.
7/ Lộc tồn : Lộc tồn Thủy quản cục, nếu hợp cách thì chủ phú quý vinh hoa, tuy nhiên thường phát về chi trưởng và không bên.  Lộc tồn Thủy quản cục, nếu không hợp cách thì thoái bại, chủ sinh ra người tính tình ngoan cố hành vị cuồng vọng, tha hương, hay bị khiếm khuyết , tàn tật. Con cháu khó khăn , nghèo đói. Lộc tồn Thủy quản cục, nếu không hợp cách thìhài cốt kém, bị bùn nước hoặc bi trôi, lật.
8/ Văn khúc : Văn khúc Thủy tinh quản cục nếu hợp cách thì cũng cát lợi, chủ sinh người thông minh , cơ trí, tài lộc hưng vượng, nhiều điền sản, tuy vậy hay ốm đau bệnh tật, thể chất yếu, hay sinh con gái.
Văn khúc Thủy tinh quản cục nếu không hợp cách thì chủ sinh người xảo trá, đa dâm, rượu chè, cờ bạc tiền của hao tán, gia nghiệp khánh kiệt, trong họ có nhiều người mắc bệnh điên cuồng, hoặc bỏ nhà đi lang thang .  
Văn khúc Thủy tinh quản cục nếu không hợp cách thì hài cốt ngoài 20 năm đã bị mục nát.
HỢP CÁCH VÀ BẤT HỢP CÁCH : Ta phải so sánh 3 mối quan hệ.1/ Âm - Dương : Dương Long đi với dương Thủy tạo thành Dương Hướng.
Âm Long đi với Âm Thủy tạo thành Âm Hướng.
24 sơn Long nhập thủ chia ra thuận nghịch . 
Dương : Ly - Khôn - Càn - Khảm.
Âm : Cấn - Chấn - Tốn - Đoài.
2/ Ngũ hành : So sánh Long với Bát diệu quản cục Minh đường. Long mà sinh cho Minh đường là tốt nhất.
( Tương sinh, tương hòa ).
3/ Trường sinh Thủy pháp : 
Long có 5 cuộc. Thủy có 4 cuộc ( không có Thổ cuộc ). 
* Hỏa cuộc Thủy  Long : Nếu ngồi trước Huyệt vị , mặt hướng về phía trước , nếu thấy Thủy phóng vào phía Bắc , tức là phóng về 6 sơn : Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm , Tý thì đối cung là phương Nam tức Hỏa cuộc Long. 
Nếu thấy nước chảy từ phải qua trái sang đằng trước mặt rồi tiêu ra chữ Tân, Tuất trên La kinh là Dương Thủy của Hỏa cuộc. Lấy Bính làm quản cục.
Nếu nước chảy từ trái sang phải qua trước mặt , rồi tiêu ra chư Tân, Tuất trên La kinh là Âm Hỏa cuộc Long.
*  Thủy cuộc Long : Nếu ngồi trước Huyệt vị , mặt hướng về phía trước ( hướng về Minh đường ) mà thấy Thủy phóng về phía Nam - Tức là phóng về 6 sơn : Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính  thì đối cung là phương Bắc tức là Thủy cuộc Long. Nếu nước chảy từ trái sang phải qua trước mặt , rồi tiêu ra chữ Ất - Thìn trên La kinh là Âm Thủy cuộc Long, lấy Tân quản cục.
* Kim Long cuộc : Nếu ngồi trước Huyệt vị , mặt hướng về phía trước ( hướng về Minh đường ) mà thấy Thủy phóng về phía Đông - Tức là 6 sơn : Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão thì đối cung là Tây tức là Kim cuộc.Nếu thấy nước chảy từ phải qua trái sang đằng trước mặt rồi tiêu ra chữ Quý - Sửu thì là Dương Kim cuộc, lấy Canh quản cục .Nếu nước chảy từ trái sang phải qua trước mặt , rồi tiêu ra chữ Quý- Sửu là Âm Kim cuộc, lấy Đinh quản cục.
* Mộc cuộc Long : Nếu ngồi trước Huyệt vị , mặt hướng về phía trước ( hướng về Minh đường ) mà thấy Thủy phóng về phía Tây - Tức 6 sơn : Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu thì cung đối là Đông tức Mộc cuộc Long. Nếu thấy nước chảy từ phải qua trái sang đằng trước mặt rồi tiêu ra chữ Đinh - Mùi là Dương Mộc cuộc , lấy Giáp quản cục. Nếu nước chảy từ trái sang phải qua trước mặt , rồi tiêu ra chữ Đinh - Mùi là Âm Mộc cuộc, lấy Quý quản cục.
ĐỊA HUYỆT ỨNG THIÊN VĂN :
" Liêm trinh ám bệnh tử.
Thai tuyệt nãi Lộc tồn.
Phá quân chân chi mộ.
Phùng suy thị Cư môn.
Học đường lâm quan tượng.
Vượng phương thị Vũ khúc.
Quan đới thuộc Văn xương.
Mộc dục Văn khúc vị.
Dưỡng sinh thị Tham lang "
Vòng trường sinh : Trường sinh, Mộc dục, Quan đới , Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ , Tuyệt, Thai , Dưỡng.
Có 6 tướng đáo cục lai Thủy : Trường sinh, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy , Dưỡng ( lấy nước đến ).
 Có 6 tướng khứ thủy : Mộc dục, Bệnh, Tử Mộ, Tuyệt ( nước chảy đi ).
Mỗi Thủy cục Long có 6 hướng ( 6 phép đặc biệt )
* Chính sinh hướng,
* Chính vượng hướng.
* Tự sinh hướng.
* Tự vượng hướng.
* Chính mộ hướng.
* Chính dưỡng hướng.
Còn một số kiến thức nữa về ý nghĩa các sao trong vòng trường sinh, phương pháp xác lập quẻ của Huyệt vị và tính thời hạn kết phát của Huyệt , vì quá đi vào chi tiết nên dienbatn không nêu ra ở đây. Bạn nào khi muốn làm mộ cho gia đình mình nhớ nhắc các thày tính toán cho mình các vấn đề này. Ngoài ra, khi làm Phong thủy, các thày còn phải tinh thông Thiên văn học, tính toán theo Thiên Đạo hành phương ( dùng Can - Chi để xác định cung độ của các sao Vĩ , Đê, Dực, Liệu , Khuê, Giốc ..... ), xác định đường mặt trời vận hành qua các cung theo  tiết khí . Từ đó biết được Tinh đồ cung của 12 tướng ( theo 12 địa chi )....Cuối cùng ta có thể biết được là năm cần tính sao chủ đi vào địa phận của sao nào, khí Huyền khiếu ra cung nào để biết được năm đó tốt hay xấu. 
  Thông thường, nếu đặt mộ dài hình chữ nhật, theo Huyền không phi tinh thì nếu huyệt mộ có được vận cũng chỉ được nhiều nhất là hai vận liền nhau ( 40 năm ) mà thôi. Thường hai vận tốt liền nhau là Đáo Sơn Đáo hướng và Toàn cục hợp Thập.
Tam-Nguyên Cửu Vận là chu kỳ 180 năm chia làm 3 Nguyên và 9 Vận. Ba Nguyên là Thượng, Trung và Hạ-Nguyên mà mổi Nguyên có 60 năm. Mổi vận là 20 năm. 
1)     Thượng Nguyên có: 
a)     vận 1: năm 1864 - 1883, 
b)     vận 2: 1884 - 1903 
c)     vận 3: 1904 - 1923 
2)     Trung-Nguyên có: 
a)     vận 4: 1924 - 1943 
b)     vận 5: 1944 - 1963 
c)     vận 6: 1964 - 1983 
3)     Hạ Nguyên có : 
a)     vận 7: 1984 - 2003 
b)     vận 8: 2004 - 2023 
c)     vận 9: 2024 - 2043 
Rồi chu kỳ lại trở lại là: 
1)     Thượng Nguyên có: 
a)     vận 1: năm 2044 - 2063, 
b)     vận 2: 2064 - 2083 
c)     vận 3: 2084 - 2103 
Sau đây là Châu Bảo tuyến trong các vận: 
1. Vận 1: không có châu bảo tuyến. 
2. Vận 2: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Tốn hướng Càn. Hướng nhà ở 312 đến 318 độ. 
b. Tọa Càn hướng Tốn. Hướng nhà ở 132 đến 138 độ. 
c. Tọa Tỵ hướng Hợi. Hướng nhà ở 327 đến 333 độ. 
d. Tọa Hợi hướng Tỵ. Hướng nhà ở 147 đến 153 độ. 
e. Tọa Mùi hướng Sửu. Hướng nhà ở 27 đến 33 độ. 
f. Tọa Sửu hướng Mùi. Hướng nhà ở 207 đến 213 độ. 
3. Vận 3: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Mảo hướng Dậu. Hướng nhà ở 237 đến 243 độ. 
b. Tọa Dậu hướng Mảo. Hướng nhà ở 87 đến 93 độ. 
c. Tọa Ất hướng Tân. Hướng nhà ở 282 đến 288 độ. 
d. Tọa Tân hướng Ất. Hướng nhà ở 102 đến 108 độ. 
e. Tọa Thìn hướng Tuất. Hướng nhà ở 297 đến 303 độ. 
f. Tọa Tuất hướng Thìn. Hướng nhà ở 117 đến 123 độ. 
4. Vận 4: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Giáp hướng Canh. Hướng nhà ở 252 đến 258 độ. 
b. Tọa Canh hướng Giáp. Hướng nhà ở 72 đến 78 độ. 
c. Tọa Khôn hướng Cấn. Hướng nhà ở 42 đến 48 độ. 
d. Tọa Cấn hướng Khôn. Hướng nhà ở 222 đến 228 độ. 
e. Tọa Thân hướng Dần. Hướng nhà ở 57 đến 63 độ. 
f. Tọa Dần hướng Thân. Hướng nhà ở 237 đến 243 độ. 
5. Vận 5: có 12 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Mảo hướng Dậu. Hướng nhà ở 237 đến 243 độ. 
b. Tọa Dậu hướng Mảo. Hướng nhà ở 87 đến 93 độ. 
c. Tọa Ất hướng Tân. Hướng nhà ở 282 đến 288 độ. 
d. Tọa Tân hướng Ất. Hướng nhà ở 102 đến 108 độ. 
e. Tọa Thìn hướng Tuất. Hướng nhà ở 297 đến 303 độ. 
f. Tọa Tuất hướng Thìn. Hướng nhà ở 117 đến 123 độ. 
g. Tọa Ngọ hướng Tý. Hướng nhà ở 357 đến 3 độ. 
h. Tọa Tý hướng Ngọ. Hướng nhà ở 177 đến 183 độ. 
i. Tọa Ðinh hướng Quý. Hướng nhà ở 12 đến 18 độ. 
j. Tọa Quý hướng Ðinh. Hướng nhà ở 192 đến 198 độ. 
k. Tọa Mùi hướng Sửu. Hướng nhà ở 27 đến 33 độ. 
l. Tọa Sửu hướng Mùi. Hướng nhà ở 207 đến 213 độ. 
6. Vận 6: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Giáp hướng Canh. Hướng nhà ở 252 đến 258 độ. 
b. Tọa Canh hướng Giáp. Hướng nhà ở 72 đến 78 độ. 
c. Tọa Khôn hướng Cấn. Hướng nhà ở 42 đến 48 độ. 
d. Tọa Cấn hướng Khôn. Hướng nhà ở 222 đến 228 độ. 
e. Tọa Thân hướng Dần. Hướng nhà ở 57 đến 63 độ. 
f. Tọa Dần hướng Thân. Hướng nhà ở 237 đến 243 độ. 
7. Vận 7: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Mảo hướng Dậu. Hướng nhà ở 237 đến 243 độ. 
b. Tọa Dậu hướng Mảo. Hướng nhà ở 87 đến 93 độ. 
c. Tọa Ất hướng Tân. Hướng nhà ở 282 đến 288 độ. 
d. Tọa Tân hướng Ất. Hướng nhà ở 102 đến 108 độ. 
e. Tọa Thìn hướng Tuất. Hướng nhà ở 297 đến 303 độ. 
f. Tọa Tuất hướng Thìn. Hướng nhà ở 117 đến 123 độ. 
8. Vận 8: có 6 Châu bảo tuyến là: 
a. Tọa Tốn hướng Càn. Hướng nhà ở 312 đến 318 độ. 
b. Tọa Càn hướng Tốn. Hướng nhà ở 132 đến 138 độ. 
c. Tọa Tỵ hướng Hợi. Hướng nhà ở 327 đến 333 độ. 
d. Tọa Hợi hướng Tỵ. Hướng nhà ở 147 đến 153 độ. 
e. Tọa Mùi hướng Sửu. Hướng nhà ở 27 đến 33 độ. 
f. Tọa Sửu hướng Mùi. Hướng nhà ở 207 đến 213 độ. 
9. Vận 9: không có Châu bảo tuyến. 
Ðiều cần chú ý là đáo sơn đáo hướng theo Châu-bảo tuyến chỉ tốt trong thời gian  nằm trong vận của nhà mà thôi vì khi đến vận kế tiếp thì sao đương vận (vượng khí) của vận trước đã trở thành sao thoái khí tức là xấu, năng lực suy giảm nên các cung tọa và hướng của cuộc đất trở thành xấu. Ðến vận sau nữa thì các cung này lại còn xấu hơn nữa... Do đó đáo sơn đáo hướng chỉ tốt trong vận của cuộc đất mà thôi tức là chỉ tốt nhiều nhất là 20 năm. Do vậy, để có thể ngăn chặn những vận xấu của Huyệt mộ, chúng ta cần phải thực hiện theo một cách khác mà dienbatn sẽ viết ở phần sau.
Xin theo dõi tiếp bài 10 - dienbatn .

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/11/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 2

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_9.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_11.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_8616.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_2.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_7.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_17.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_21.html

 


Xem chi tiết…

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 8.

5/07/2013 |
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN.
PHẦN 3 : MỘT VÀI ĐIỀU CẦN LÀM KHI LẬP NGHĨA TRANG DÒNG HỌ.


5/ LÀM LỄ MUA ĐẤT - KIỂM TRA HIỆN TRẠNG ĐẤT - CẦU SIÊU CHO CÁC VONG LINH.
1/Làm lễ mua đất âm : Khi đã mua được đất của người dương rồi, chúng ta vẫn cần phải có một cái lễ gọi là mua đất của người âm.  Động tác này có ý nghĩa báo cáo với các vị Thần linh sở tại và các vong linh hồn của khu vực này người chủ mới ra mắt. Việc này các Phong thủy sư phải làm hết sức thành kính, tôn nghiêm. Thường các Phong thủy sư đều là các Pháp sư. Khi ra đến nơi khu đất đều phải có những nghi lễ riêng. 
Khi đến coi đất : Khi tới nơi Linh địa, tay phải bắt ấn Tý, trùm trong tay áo. Ngón chân phải vạch chữ  Quỷ Thần ( 鬼  神  ), sau đó vạch chữ Tỉnh (   井   ) rồi lấy chân đè lên. Đọc rằng : 
Tử vi giáng tinh.
Ngô thụ bẩm sinh.
Ngưỡng thừa Thiên mệnh.
Túc đạp vạn sơn vạn thủy.
Khẩu hàm Lục Giáp, Lục Đinh.
Hô Thần Thần khốc,
Hô Quỷ, Quỷ kinh.
Phạm Chi giả tử,
Tị Chi giả sinh.
Nhi chúng Long Thần.
Tị Chi tốc tốc.
Dĩ túc đạp Chi.
Hung Thần tẩu tán.
Sau đó đọc tiếp chú di Thần lập miếu : Tức là xin dời vị trí thần sang chỗ khác để lập miều và an táng : Tiên vấn thử Thần hà hiệu ( Hỏi danh Thần ). Lấy chân vạch chữ Thần (   神  ) trên mặt đất . Tay trái bấm cung Dần, trùm trong tay áo. Đứng ở phương Sinh khí . Chân đè lên chữ viết mà đọc rằng :
Ngô thụ bẩm sinh.
Vô hình vô ảnh,
Vô tính vô danh.
Di kỳ thử miếu,
Di kỳ thử đỉnh.
Phi Ngô sở dục.
Do chúng sở nghinh.
Thành Hoàng Thổ địa.
Bất đắc tung hoành.
Cấp cấp như luật lệnh.
Sau đó đọc tiếp chú Huyệt khai khu thần pháp : Đứng ở phương Sinh khí, tay phải bắt ấn Tý giấu trong tay áo mà đọc rằng :
Sắc Tứ tung ngũ hoành,
Nhật nguyệt quang minh,
Thiên Thần tẩu tán.
Vạn Quỷ diệt hình
Cấp cấp như luật lệnh.
PHƯƠNG SINH KHÍ.
Tháng                            Cung Sinh khí tại 
1.                                           TY – Chính Bắc .
2.                                            SỬU
3.                                            DẦN
4.                                            MÃO – Chính Đông.
5.                                            THÌN.
6.                                            TỴ 
7.                                             NGỌ – Chính Nam.
8.                                             MÙI
9.                                            THÂN
10.                                             DẬU – Chính Tây.
11.                                            TUẤT
12.                                             HỢI.
Vẽ một vòng quanh Huyệt, đánh dấu 12 cung.
Khi lập đàn mua đất người âm, cần phải có 3 đàn riêng biệt là : Đàn lễ phật, Đàn lễ các Thần và Đàn Mông sơn thí thực để cúng các vong linh hồn.
a/ Đàn lễ Phật : Đồ lễ chỉ có trầu cau, hoa quả, trầm hương, đèn nến. Tuyệt đối không xử dụng tiền mã và đồ mặn. Đàn có 2 cây nến lớn đặt đằng trước bên cạnh Kính đàn ( hai cây nến này tương trưng cho Nhật - Nguyệt), Phía dưới có 7 cây nến nhỏ tượng trưng cho chùm sao Bắc cực - Quê hương của loài người. Phía dưới nữa có 3 chung trà - 3 chung rượu- 3 chung nước tượng trưng cho Tam tài : Thiên có Nhật - Nguyệt - Tinh, Nhân có : Tinh - Khí - Thần , Địa có Thủy - Hỏa - Phong.
Đàn này thường sau khi đọc nghi quỹ Mật tông thường trì các chú : Chuẩn Đề và Tỳ Lô Giá Na mỗi chú 1 chuỗi ( 108 biến ). Sau cùng là đọc chú hồi hướng công đức cho các đấng các cõi và các vong trên mảnh đất này.
b/ Đàn lễ các Thần : Các Thần ở đây bao gồm : Ngài U Minh Giáo chủ Bản Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát .
Ngài Kiên Lao Địa Thần Bồ Tát .Các Ngài Ngũ Phương , Ngũ Đế , Hậu Thổ Nguyên Quân , Sơn Nhạc Đế Quân , Đương Phương Thổ Địa , Thổ Phủ Thần kỳ , 24 Khí Thần Quan , 24 Long mạch Thần Quan , 24 Địa mạch Thần Quan , 24 Sơn Địa mạch Thần Quan , 24 Hướng Địa mạch Thần Quan , Thanh Long , Bạch Hổ , Thổ Bá , Thổ Hầu , Thổ Mãnh , Thổ Trọng Thần Quan , Thổ Phụ , Thổ mẫu , Thổ Lương , Thổ Gia Thần Quan , Thổ Tử , Thổ Tôn , Thổ Khảm , Thổ Khôn Thần Quan , Thổ Kỳ Ngũ Phương bát Quái và các vị Thần minh quyến thuộc . Ngài Kim Niên hành Khiển Thái Tuế chí đức tôn Thần , Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chự vị Đại Vương  và tất cả các vị Thần minh cai quản trong khu vực này .
Đàn lễ này có thể có đồ mặn hoặc đồ chay tùy ý nhưng nhất thiết phải có một hay 5 bộ Quan Thần Linh ( bao gồm mũ , áo, ủng, ngựa và vàng hoa). Nếu 5 bộ là lấy các màu theo Ngũ hành : Xanh - Đỏ - Vàng - Trắng - Tím. Nếu một bộ lấy màu vàng. Việc này là để cúng cho Ngũ phương ngũ thổ Long Thần ( Đông phương thanh Đế - Tây phương bạch Đế - Nam phương xích Đế- Bắc phương hắc Đế và trung ương Hoàng Đế ). Ngoài ra có thêm các bộ giấy tiền vàng cúng ông Địa, cúng Ngọc Hoàng Thượng Đế và vài trăm cuốn Thọ Sinh Kinh. Ngoài tiền âm ra phải có một số tiền Dương ( tiền thật ) khi làm lễ. Khi làm lễ Phong thủy sư phải có một lá sớ trạng đại ý thay mặt gia chủ xin mua đất âm của các vị Thần xứ này.
Phàm đã làm Pháp sư hay Phong thủy sư đều có kinh qua luyện tập một khả năng là giao tiếp được với các vị Thần linh, Thổ địa để biết khu vực này do vị nào cai quản, lịch sử của khu vực này như thế nào mới biết đường mà lần.Trong Đạo tràng LHVV của dienbatn , các anh chị em hầu như đều có khả năng này, đặc biệt các vị nào có học qua các lớp Cảm xạ của Thày Dư Quang Châu đều có những bước tiến khá nhanh.Học qua một vài khóa Cảm xạ sẽ giúp anh chị em trong Đạo tràng dễ dàng vượt qua môn học giao tiếp này.
c/ Đàn lễ Mông sơn thí thực : Mục đích là cúng và cấp đồ ăn cho các vong linh y thảo phụ mộc và vong linh những người từng sống, chết trong khu vực này. Đồ lễ gồm có : Cháo trắng, gạo , muối, ngô, khoai luộc, bỏng ngô, bộ Tam sên , trầu cau, rượu, thuốc lá...và một chút tiền giấy cúng cô hồn. Đồ lễ không cần nhiều vì khi cúng Phong thủy sư phải có động tác đọc chú biến thực, biến thủy dùng để biến một đồ lễ ra hàng hà sa số đồ lễ mới đủ cho các thế giới vô hình ở đó. 
ĐỌC CHÚ KIẾT TƯƠNG HỘI KHẢI :
Cam lồ môn khai –Cô hồn phật tử giá lâm tai –Văng pháp phó hương –Trai vĩnh phát luân hồi –u ám nhất thời khai.
 Nam mô tiên sư Tổ sư Tam giáo Đạo sư –Phật tổ Quan âm Chí thế lai lâm –Hồng môn  chiêu mộ –Bồ tát giáng sanh –Đà la ni đế –Đà la ni quân –Bát vạn trùng san –Huyền đàn thượng tướng –Thiên đình nhập nhã –Bát bộ Kim cang –Qua cái Miễu đàng –các sứ (Tiêu diện Đại sĩ ) –2 lần –Diệm khẩu quỷ vương –Đem binh cô hồn trùng trùng điệp điệp –ăn cướp mà chết –Phải gươm phải giáo –Chết đâm chết chém –yểu tử oan hồn –Bị thần Hỏa thiêu tự hồn xiêu phách lạc –Cách non cách núi –Cách sông cách suối –Cách xóm cách thôn –cách làng cách xã.
Hỡi Binh cô hồn  -cùng Binh thượng lộ –áp lại chớ chày –Hoặc tà ma nào bị chiên,chặt,cắm,thâu,chỉ chóng dẫn về nạp trước Tổ sư –Cấp cấp y luật lệnh.
Cẩn thỉnh Thiên thiên Lực sĩ vạn vạn tinh binh –Thiên binh thiên tướng –Binh 18 nước chư hầu –Non kia núi nọ –Vượt đi hang mây bãi biển Trường sa tu la ác đạo –Tà á rặc 12 vị Giàng dường binh Lý ngư Lý lực –Đại bàng Nam hải –ác thú gấu ngựa –Sài giật Hổ mang –Hồng Bàng chi điểu –Heo,mèo,quà quạ,kên kên –Thần Hoàng la lão –Binh ứng giá về đây –Thọ trì hưởng thực-Này hỡi âm binh ơi….ời.) –3 lần.
Vì các Vong khi tồn tại, cổ chúng thường rất nhỏ nên khi làm lễ phải đọc danh thất Phật, dưới ánh quang năng của chư Phật , cổ họng chúng mới mở ra để hưởng thụ tinh khí của đồ cúng được .
NIỆM DANH THẤT PHẬT :
(Nam mô Đa bảo Như lai.
Nam mô Bảo thắng Như lai.
Nam mô Diệu sắc thân Như lai.
Nam mô Quảng bác thân Như lai.
Nam mô Ly bố úy Như lai.
Nam mô Cam lồ vương Như lai.
Nam mô A di đà Như lai. ) –3 lần.
 CHÚ PHÁT LƯƠNG :
(Thần vọng thỉnh tiêu diên Đại sĩ – Diệm khẩu Quỷ vương phụng Tổ sư thiết lập đàn tràng –Thâu đẳng chư cô hồn nhập trận.Phó cho Sư (Thí chủ ) tên…tuổi –Gia trung hưng vượng –Hộ tử tôn phước thọ khang ninh-Tự tử tư vi hậu Thái bình-Bất khả hứa Tà ma xâm nhập –Lễ sư chủ (Tín chủ )cung thâm vi cấp –Nội Gia hương tâm đình hữu dư –Cõi Diêm phù –Thiên Địa vô tư –Nhơn tài thực –Nhơn tài cố hỉ –Diêm Thày phát Thiên thiên Lực sĩ –Mễ Thầy truyền Vạn vạn Tinh binh –Oan hồn yểu tử sanh linh –Thỉnh phù triệu cấp cấp y luật lệnh.).
Sau đó khoán chữ Ram ,rồi rải gạo muối,rượu,nước xung quanh sân.
2/ Kiểm tra hiện trạng đất : Kiểm tra hiện trạng đất nhằm xác định chính xác xem khu đất dự định làm nghĩa trang dòng họ đó có tồn tại mồ mả cũ, xương cốt thất lạc lâu năm, có xuất hiện những tia ác xạ không ? Có những phay đất nứt chuyển dịch và những dòng nước ngầm biên dưới chuyển động như thế nào ? Đây là một việc quan trọng vào bậc nhất khi làm mộ. 
Để xác định xem có mồ mả cũ hay không, có nhiều cách làm như dùng cảm xạ, ngoại cảm, ngồi Thiền , kêu Thổ địa đến hỏi ... nhưng thông thường cách đơn giản nhất là khi trời mưa to, dùng thuốn sắt thuốn toàn bộ khu đất theo hình kẻ ô 20x20 cm. Biện pháp này tương đối hiệu quả, nhưng chỉ có thể khảo sát được tầng đất mặt và xuống sâu độ 2m mà thôi. Nhiều khi có những ngôi mộ cũ có độ sâu 4-5 m phải dùng cách khác.Nếu khi đào đất thấy khu vực hoàn toàn là đất liền thổ thì có thể an tâm. Trong Phong thủy có thể xử dụng phương pháp Kỳ châm Bát pháp của La kinh để phát hiện những điều trên. Kỳ trâm Bát pháp như sau 
                                                              Kỳ Châm Bát Pháp
La bàn, có nhiều vòng khác nhau, có vòng thì phối bát quái, âm dương, ngũ hành, đối với khí trường thì cảm ứng chỉ bắc đối nam rất nhạy, Thánh Hiền xưa chiếu theo thiên trì mà làm việc, lấy đó mà suy luận sự phát sinh biến hóa của khí trường, tức là Kỳ Châm Bát Pháp. 
   1.Đường Châm: 
Khi kim cứ lay động không yên, không quy về trung tuyến. Đoán rằng nơi đó có quái thạch sâu bên dưới, ở đó tất có họa, nếu kim tại Tốn Tỵ Bính vị mà bồng bềnh, thì rất dễ phía dưới 9 thước có vật dụng xưa, ở đó dễ xuất người nam nữ tửu sắc, thầy bà, cô quả bần hàn .
2.Đoái Châm : 
Đầu châm bỗng ngóc lên, cũng gọi là phù châm, đó là vì âm khí giới nhập, nếu chẳng phải tổ tiên nhà đó cũng là, phúc thần hộ pháp. 
3.Trầm Châm : 
Đầu châm bỗng hạ xuống. Đó là do âm khí giới nhập, đó là âm mà không ác âm, cũng là oan hồn uổng tử, hoặc chết không bình thường, là do họ cảm mà ra như vậy. 
4.Chuyển Châm : 
Chỉ châm chuyển mà không dừng. Ác âm giới nhập, đó là khí oán hận liên tục không dừng, ở đó tất gặp tai họa. 
5.Đầu Châm : 
Chỉ châm nửa nổi nửa chìm, hoặc nửa nổi mà không đến đỉnh, chìm cũng không đến đáy. Dưới đất có mộ phần, ở đó tất hay khóc nhiều, nên đề phòng quan tư khẩu thiệt. 
 6.Nghịch Châm : 
Châm quy trung tuyến nhưng không thuận, hoặc châm tà phi. Đất đó tất xuất hiện người ngỗ nghịch, bại cả người lẫn tiền bạc, phong thủy nói không được. 
7.Trắc Châm : 
Châm mà dừng yên tĩnh, nhưng không quy về trung tuyến. Đất đó vốn là Thần Đàn Cổ Tháp, nhà ở không được. 
 8.Chính Châm : 
Không dị dạng, không nghiêng không lệch, đất đó là đất chính thường, đất đó có thể đắn đo châm chước mà dùng. 
Kỳ Châm Bát Pháp là giải thích rõ ràng các lực khí quái dị, nên Phong Thủy Địa Sư khi thăm khám đất không thể không biết. 
(Thế Anh Dịch ).
ĐỒ NGHỀ CỦA DIENBATN,


3/ Cầu siêu cho các vong linh.
Đất đai trải qua hàng vạn năm con người sinh sống, hầu như chổ nào cũng có vong, có cốt. Nhiều nơi tại một vị trí có đến hai ,ba tầng mộ. Để giải quyết vấn đề này, cách thường xử dụng là di dời phần mộ đó sang vị trí khác. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, chúng ta cũng không thể đảm bảo là khu đất đó sạch mộ 100 %. Theo dienbatn, cách tốt nhất để hóa giải vong , cốt tại khu vực định làm nghĩa trang dòng họ là cầu siêu cho họ. Khi mất đi, vong hồn thường trú ngụ tại nơi mồ mả mà con cháu, dòng họ làm cho họ. Cầu siêu là mục đích sám hối tội lỗi cho người quá vãng, hầu chuyển nghiệp nhân xấu của người, khiến họ xa lìa quả báo đau khổ, rời khỏi cảnh giiới tối tăm đọa đày, cầu cho thần thức người được nhẹ nhàng thảnh thơi, siêu sanh về nơi thế giới tịnh lạc, chóng thoát luân hồi.Tụng niệm và làm các việc phước, đem công đức ấy hồi hướng cho vong linh, cũng như gởi lương hướng cho người đi xa vậy. Người đã siêu rồi mau được Phật thọ ký; người ở cõi trên mau lên các địa vị cao hơn, hào quang càng sáng tỏ. Người đang sa đọa trong 3 đường ác thì cũng nhờ các công đức ấy mà siêu sanh Tịnh Độ hay thoát khổ lên làm Trời, làm người v.v…
Khi có những lễ cầu siêu cho họ, thần thức của người quá vãng được phá bỏ cái vô minh và dời bỏ thân xác tứ đại mà chóng được thoát khỏi luân hồi. Một số khác do đã hội tụ đủ phước báu được chuyển hóa từ âm binh thành Thiên binh, tức là ở những địa vị cao hơn. Khi cầu siêu , chúng ta thường dùng chú Mật tông :
Tỳ Lô Giá Na : Om ! Amogha vairocana mahà-mudrà mani padma jvala pravartaya hùm )
Kệ Sám hối
Nam Mô Phật- Nam Mô Pháp- Nam Mô Tăng
Con từ vô lượng kiếp trước đến nay, vì vô minh che mờ căn tánh nên con đã lầm, chấp có Ngã có Pháp vì thế đối cảnh khởi ra Tham- Sân- Si mạn nghi kiến ác gây nhiều tội lỗi xúc phạm đến Tam bảo và chúng sinh.
Nay con đã biết tội lỗi của con rồi. Kính xin 10 phương chư Phật từ bi thương xót tha thứ mọi tội  lỗi cho con.
 Con nguyện từ đây đến vô lượng kiếp sau mãi mãi nương nhờ vào chân trí của Phật. Phá tan màn u minh ngã Pháp cùng Tham- Sân- Si. Quyết không làm những điều tội lỗi xúc phạm đến Tam bảo và chúng sinh nữa.
Nay con niệm chú sám hối này nguyện rằng tất cả các tội lỗi của con đã làm từ vô lượng kiếp trước cho đến ngày hôm nay do oai lực của thần chú Pháp này đều được tiêu trừ, nguyện thành tựu viên mãn các Pháp lành.
Chú Đại sám hối chân ngôn 
Chân ngôn:OM SARVA BUDDHA BODHISATTVAYA SVAHA
Phát âm: OM SẠC-VA BÚT-ĐA BÔ-ĐI-SÁT-TOA-DA SOA-HA
Chú hồi hướng :
Nguyện đem công đức này hướng về mười phương Pháp giới chúng sinh, thân tâm đều an lạc, bệnh tật tai nạn đều tiêu trừ, mọi sở cầu đều được như ý, tất cả mọi nghiệp chướng, phiền não chướng, sở tri chướng đều tiêu trừ, thành tựu vô lượng giải thoát môn tam muội, ngộ nhập Phật tri kiến và tốc chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đảnh Giác.
Nguyện hồi hướng về các chư Thiên Long thần  Bát bộ, Hộ pháp, phước huệ Thăng Long, hào quang viên đắc, thân tâm thường An lạc, thành tựu Đại nguyện hộ trì Chánh pháp chứng đắc Vô thượng Bồ đề.
Nguyện cho Cửu huyền Thất tổ 7 đời nghiệp chướng, phiền não chướng, sở tri chướng tiêu trừ. Tốc báo vãn sanh về Tịnh độ 10 phương chư Phật.
Nguyện hồi hướng cho Cha, mẹ, anh, chị em vợ (chồng), bà con hai họ thân tâm thường An lạc, thành tựu được sự nghiệp thế gian, các nạn ách, các bệnh tật tiêu trừ. Phát bồ đề tâm hướng về quả vị Vô thượng Chánh đảnh giác.
Nguyện hồi hướng cho……
Chú hồi hướng. 
OM SMARA SMARA, JMANA, CAKKRA, MAHA CAKKRA HUM.
6/ HÓA GIẢI CHƯỚNG NGẠI - TRẤN TRẠCH - THU KHÍ VỀ HUYỆT MỘ.


A / HÓA GIẢI CHƯỚNG NGẠI TRÊN CUỘC ĐẤT .
Việc hóa giải các chướng ngại trên cuộc đất có rất nhiều trường hợp cụ thể không thể liệt kê ra hết được. Tạm thời có thể nêu ra một số việc cần lưu ý, đó là : 
* Cuộc đất đó đã bị các Thày đời trước trấn yểm nhằm nhiều mục đích như giữ cuộc đất đó cho riêng mồ mả của dòng họ mình. Trường hợp này có thể thấy rõ ở khu mộ bên ngoại của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở xã Kiến Thiết - Huyện Tiên Lãng - TP.HẢI PHÒNG . Tới gần chùa Thái bình , rẽ bên tay trái , chúng ta thấy một khu đất khoảng 3 mẫu ta có ba ngôi mộ xây . Nơi đây chính là khu vực lăng mộ của cụ ông , cụ bà Quan Thượng thư NHỮ VĂN LAN ( là ông bà ngoại của cụ Trạng Trình ) và của bà NHỮ THỊ THỤC là mẹ của cụ . ( http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/6334-ve-tham-cu-trang-trinh-nguyen-binh-khiem-dienbatn/ )



* Cuộc đất mà từ trước đã có các thày Phong thủy, do chưa tụ đủ Phúc hoặc chưa tìm được người đủ phúc mà trao tặng nên dùng thuật Xích Long thu giữ để không ai có thể đặt mộ vào khu vực đó được. Về việc này , cách đây trên 10 năm, dienbatn cũng tìm được một địa huyệt rất lớn ở Đức Hòa - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Do chưa thấy có ai đáng được hưởng khu đất này nên chưa có duyên trao tặng. Năn nỉ mãi, Sư Phụ của dienbatn mới chỉ cho đàn pháp của thuật Xích Long và dienbatn đã thực hiện tại khu đất này. Mười năm qua, quả nhiên mảnh đất đó vẫn được giữ vẹn toàn và hiện nay, chim, cò từ khắp nơi tụ về trắng cả một vùng địa Huyệt. Ngay bản thân dienbatn cũng thấy đó làm lạ.
* Cuộc đất bị người Tàu trấm yểm tàn phá Long mạch ( DIENBATN - BÍ ẨN CỦA MỘT VÙNG ĐẤT VÀ THUẬT DẪN LONG.
dienbatn0904392219.multiply.com/journal/item/223/223?&=&...‎).
*Cuộc đất từ ngày xưa đã có mộ người Tàu đặt ngầm ở dưới hoặc là khu vực chôn dấu của có Thần giữ của coi giữ.
* Cuộc đất nằm trên những phay đất di chuyển hoặc có những dòng sông nước ngầm chảy ở bên dưới. Có nhiều khu đất rất đẹp về hình thế, nhưng do ở sâu phía dưới ( thường từ 50-90 m ) có những dòng sông ngầm ( nóng hay lạnh ) chảy bên dưới rất xiết và tạo ra một vùng trường Khí đầy ác xạ cũng rất khó hóa giải. Thông thường những Phong thủy sư khi đi tầm Long cắm Huyệt chỉ để ý đến những dòng nước ở phía trên mặt đất, hầu như từ xưa đến nay chưa có một tài liệu nào nói đến những dòng nước ngầm, những hang động ngầm dưới đất. Trong quá trình điền dã, tìm hiểu, dienbatn thấy những vấn đề đó hết sức quan trọng và thực tế phải dựa vào những số liệu, những mũi khoan thăm dò Địa chất Thủy văn mới có thể nhìn nhận được thấu đáo cuộc đất mình đang xem xét.
Để có thể hóa giải những vấn đề trên, các Phong thủy sư phải am hiểu thật nhiều môn học như : Kinh dịch, Thái Ất dương minh , Độn giáp , Địa lý về âm trạch, Bát diệu thủy pháp và tam hợp ngũ hành, Tý Ngọ lưu trú và Linh quy bát pháp, Cảm xạ địa khí, phải nghiên cứu và thực hành thuần thục các loại bùa chú của Tiên gia, của Mật tông.....
Đó là một kiến thức thật sự đồ sộ đòi hỏi nhiều thời gian, sự đam mê giành cả cuộc đời.dienbatn và một vài đạo hữu cùng khóa đã bỏ ra gần 40 năm nghiên cứu những điều đó, nay đã bước vào tuổi về chiều, tóc bạc, chân chồn mà nhiều khi vẫn phải tự thú nhận rằng : Hầu như chưa biết gì. Những gì đã làm chỉ là gắng gượng để đền đáp sự yêu quý của thân chủ, phúc chủ - May thày, chỉ cầu mong sao cho gia chủ đủ phúc để mình được hưởng chữ may là mãn nguyện lắm rồi.






B/ TRẤN TRẠCH KHU HUYỆT MỘ.
Sau khi đã tìm cách hóa giải được những trở ngại trên khu Huyệt mộ ,  việc cần làm ngay là phải tạo được một hàng rào tâm linh trên khu huyệt mộ để các tương tác xấu khác không xâm phạm vào được. Việc này giống như chúng ta đã giải tỏa được mặt bằng, ngay lập tức chúng ta phải xây dựng hàng rào để tránh bị tái chiếm hoặc để ngăn chặn xì ke, ma túy, dân vô gia cư xông vào lấn chiếm.
Từ xưa, kinh nghiệm về trấn trạch cả âm phần và dương phần, các Pháp sư, Phong thủy sư có rất nhiều kinh nghiệm và có rất nhiều sách cổ nói về vấn đề này. 










Trong Đạo tiên gia có một phép trấn trạch đình, chùa , mộ huyệt hay dương trạch khá đơn giản nhưng hiệu quả, dienbatn học được từ ngày xưa, xin chép ra đây để các bạn có thêm tư liệu nghiên cứu.
PHÉP TRẤN TRẠCH ĐÌNH CHÙA, MỘ HUYỆT HAY DƯƠNG TRẠCH .
Phép này có tác dụng giải trừ bách họa, trấn các cuộc đất xấu.
* Lấy thép phi 6 uốn và xếp thành bùa Tứ tung ngữ hoành cùng một bông hoa vạn thọ ta chôn sâu khoảng 9 tấc Tàu trên nền cuộc đất.
Trước khi chôn phải sên Chú trấn thủ vào bùa Tứ tung ngũ hoành sắt và bông vạn thọ.
Chú trấn thủ :
 " Nam mộ a di đà Phật,
Nam mô Thanh Long mãnh tướng tả ngô tả,
Bạch hổ giáng linh tùng ngô hữu,
Chu tước đăng quang tả ngô tiền.
Huyền vũ chấp binh tùng ngô hậu,
Tiền , hậu tả, hữu hộ ngô thân.
Nam mô hổ tùng, xà thủ phong ứng giáng linh,
Án Thổ địa bôn trình,
Cấp cấp như Cửu Thiền Huyền nữ luật lệnh sắc nhiếp.
Thần bố Thiên la - Địa võng ngũ phương,
Cầu Tứ tung ngũ hoành,
Án oanh oanh tá ha " - 3 biến.
Sau đó dùng Ấn trấn thủ vẽ Bùa trấn thủ lên sắt và bông vạn thọ.
Lấy chì lá vẽ bùa Tứ tung ngũ hoành, đọc chú rồi thổi vào và chôn ở trung tâm cuộc đất.
Lấy một cái kính tròn chưa sử dụng, dùng chu sa vẽ bùa Tứ tung ngũ hoành lên mặt kính rồi đọc chú sên vào, sau đó treo trên cao cho chiếu vào tâm cuộc đất đã chôn sắt, chì và bông vạn thọ.
Chú sên :
 ' Tứ tung ngũ hoành,
Ngô kim xuất hành,
Võ Vương vệ đạo,
Si vưu tị bệnh,
Hổ lâm bất đắc động,
Xà quỷ bất đắc kinh,
Đương ngô gỉa tử
Nghịch ngô giả vong.
Ngô phụng Thái thượng lão quân, Cửu Thiên Huyền nữ, Tổ sư Lỗ ban ,
Thần phù luật lệnh.
Khi đọc thì sên bóng bùa Tứ tung ngũ hoành lên mặt đất.
Nếu muốn trấn mạnh hơn nữa ta phần cuộc đất thành 8 cung Bát quái: Càn, Khảm, Cấn., Chấn , Tốn, Ly , Khôn ,Đoài. Chôn tại mỗi cung ngoài đường biên một hũ sành trong đó có 5 thứ kim loại : Vàng, Bạc, đồng, chì, sắt và một số bùa trấn trạch. Trước khi chôn phải sên 7 lền chú sên cho mỗi hũ.
Chú sên
" Ôm mắc pút thăng - Ma ha pút thăng.
Ôm mắc pút thăng - Ma ha pem thăng.
Út bắc cút tắc - Xô thê dắc xi lắc,
Nắc mắc xi lô- Xi lắc pút thô
Nặc mộ pút thê dắc " - 7 biến.
Chôn theo vòng hậu Thiên và bắt đầu từ cung Càn.






C/ THU KHÍ VỀ HUYỆT MỘ.
Các Phong thủy sư sau khi đã thực hiện đầy đủ những bước ở trên thường có một động tác là thu khí của cả khu vực về khu vực Huyệt mộ mình đang làm. Hầu như không có sách nào nói về vấn đề này, dienbatn trong quá trình đi ta bà điền dã được một Ân Sư chỉ dạy, không dám dấu làm của riêng, xin chép ra để giữ gìn cho đời sau.
Để làm được điều này, Phong thủy sư phải nhận biết được ngũ hành, sắc thái và đường đi của dòng Sinh khí trong khu vực đặt Huyệt mộ. Trong việc này, nếu học qua một lớp Cảm xạ của Thày Dư Quang Châu sẽ có tác dụng rất tốt với việc nhận biết khí ( Tuy nhiên dienbatn khuyên các bạn chỉ nên dừng ở trình độ sơ cấp mà thôi ). Chọn những giờ thanh tịnh và yên tĩnh, tốt nhất là giờ Tý, ra khu địa Huyệt bắt đầu ngồi Thiên khoảng 15 phút. Sau đó thực hiện việc rung động thư  giãn . Vũ trụ là một thể thống nhất và có quy luật vận động nhất định. Con người là một chủ thể trong Tam tài : Thiên - Địa - Nhân sánh vai cùng Trời - Đất. Khi rung động thư giãn, con người có thể nhận biết được mối quan hệ giữa những cơ thể sống với nhau , giữa cơ thể sống và những vật vô tri, giữa cơ thể sống và thế giới Vũ trụ. Con người sống trong Vũ trụ, giao tiếp với môi trường xung quanh không chỉ bằng hơn 5 triệu lỗ chân lông, 5 giác quan mà qua rèn luện có thể đạt được những cảnh giới đặc biệt khác để thông thương với trường năng lượng Vũ trụ. Chúng ta không thể dùng giác quan bình thường hay các kiến thức của các ngành khoa học vật lý đương đại để giải thích khả năng đặc biệt trên.
Các vị trí đặc biệt nơi giao tiếp giữa con người và Vũ trụ thông qua các khả năng đặc biệt được rèn luyện.


Sau khi rung động thư giãn, chúng ta đã loại bỏ được tất cả các tạp niệm , chúng ta tiếp tục đến việc nâng Khí, gọi màu. Khi chúng ta rung động đến khu vực đỉnh đầu là Luân xa 7 và xuất hiện màu chàm là chúng ta đã hòa đồng được cùng với Vũ trụ. Khi đó con mắt thứ 3 của chúng ta được mở ra và con người thực sự bước vào chiều không gian thứ 4, thấy được những điều thiêng liêng . Con mắt thứ 3 sẽ cho thấy được ngũ hành, sắc thái và đường đi của dòng Sinh khí trong khu vực đặt Huyệt mộ.
Khi đã biết được ngũ hành, sắc thái và đường đi của dòng Sinh khí trong khu vực đặt Huyệt mộ , chúng ta có thể bắt đầu việc thu khí.
Giữa trung tâm của Địa Huyệt, chúng ta trồng một tháp Thạch anh tím có tác dụng như một cây antena thu sóng.



Để có thể tích tụ năng lượng về mộ , sau khi ta đã có antena thu sóng, chúng ta cần có một vật tích tụ năng lượng giống như một cái ác quy. Đó chính là một quả cầu bằng caxidon tùy theo ngũ hành của khí mà chọn màu phù hợp. 





Khi đặt những vật này , tốt nhất là phải khởi động năng lượng tự tại của viên đá và vẽ các Linh phù, chủng tử của Phật cùng trì chú bằng mật tông lên đá sẽ khiến cho viên đá phát huy được tối đa việc tích tụ năng lượng.
Một số chủng tử Phạn tự mật tông khi thu khí.
Antena tiếp điện, năng lượng : Sự liên hệ về năng lượng giữa con người và Vũ trụ.


Sắc lệnh.






OM A HỒNG : Tiêu biểu cho 3 đức Như Lai làm tăng hiệu lực của phù chú.




OM SIRAM Tăng oai lực của phù chú, giải trừ nghiệp chướng, giải trừ bùa ngải thư ếm.




Xuất sinh thành tựu - Tất cả đều thành công.




Sắc lệnh của Thổ địa , vị cai quản đất đai.






( Xin theo dõi tiếp bài 9 - dienbatn ).

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2011/11/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 2

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_9.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_11.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_8616.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/01/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_2.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_7.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_14.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_17.html

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CẢI TÁNG MỘ PHẦN. BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/nhung-ieu-can-biet-khi-cai-tang-mo-phan_21.html

 

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *