CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 25.

11/03/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 25.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. Loạt bài này đã đăng trên báo giấy : Tuổi trẻ và Đời sống .
Thất Sơn Thần Quyền chính tông gồm 2 phần: Quyền và thuật. Quyền là phần "dương công" gồm những thế võ cận chiến tay không và giáp chiến binh khí. Thuật là phần "âm công" huyền bí, dùng năng lượng siêu nhiên trợ lực. Chỉ đệ tử duy nhất được chọn kế thừa chưởng môn mới được sư phụ truyền dạy phần "âm công”.
Do có xuất xứ từ vùng Bảy Núi linh thiêng nên người đời gọi là Thất Sơn Thần Quyền. Môn võ này có 4 phần luyện là tam đạo nhất thần: Tu tâm dưỡng tính gọi là tâm đạo, định thần dưỡng khí gọi là thể đạo, luyện thân tráng kiện gọi là quyền đạo. Phần luyện thứ tư gọi là luyện thần.
Còn một truyền thuyết khác nữa về nguồn gốc của phái Thất sơn Thần quyền như sau : "Thất Sơn thần quyền (TSTQ) do võ sư Trần Ngọc Lộ, sáng lập Trần Ngọc Lộ là đệ tử dưới trướng của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên. Vốn là người giỏi võ, lại đức độ, võ sư Trần Ngọc Lộ không thể lập giáo phái vì sợ mang tiếng phản thầy, phản giáo, nên ông lập võ đạo , lấy tên TSTQ đặt cho võ phái của mình
Đệ tử TSTQ nhập môn ngoài học quyền cước còn được học cả đạo. Võ là để rèn luyện thân thể, sức khỏe dẻo dai, bảo vệ chính nghĩa, giúp đỡ kẻ yếu. Còn đạo là đạo đức, đạo lý sống ở đời. Thêm vào đó, đệ tử TSTQ còn có thêm niềm tin rằng nếu ra sức luyện tập, đến một lúc nào đó có thể luyện thành “thần quyền”, có sức mạnh siêu phàm có thể “hô phong, hoán vũ”, có thể 1 đánh 10, thậm chí vài chục người. Chính đức tin này đã thu hút rất nhiều người tìm đến học TSTQ. Tuy nhiên, không phải đệ tử nào cũng được học “thần quyền”. Tương truyền, chỉ có người được chọn kế thừa Trưởng môn mới được chân truyền “thần quyền” để trấn môn    võ sư Hoàng Bá (tên thật Trần Kim Truyền), nhà ở cầu Tầm Bót, P.Mỹ Phước, TP.Long Xuyên. Ông chính là đệ tử chân truyền cuối cùng của võ phái TSTQ ở An Giang. Ông mở võ đường, thu nhận đệ tử tại Long Xuyên, lấy tên là Hoàng Bá.
Những năm từ 1958 đến 1960, lò võ Hoàng Bá nhanh chóng nổi tiếng trong giới võ thuật miền Nam, cả nước và thậm chí khu vực Đông Nam Á qua các cuộc thượng đài. “Hồi đó lên võ đài là phải ký giấy sinh - tử, 2 cái hòm (quan tài) được để sẵn bên hông. Mặc dù người học võ không được phép đánh chết người, nhưng vì quyền cước không có mắt nên phải làm như vậy. võ sư Hoàng Bá lấy tên lò là Thất Sơn Võ Đạo, thu nhận rất nhiều đệ tử. Đệ tử cuối cùng của võ sư Hoàng Bá là anh Phan Thanh Thuận, hiện là huấn luyện viên võ cổ truyền. Anh Thuận theo học tại nhà võ sư Hoàng Bá từ năm 1991-1994. Lúc này, võ sư Hoàng Bá đã đóng cửa võ đường và Thuận là đệ tử cuối cùng. Anh Thuận cho biết, những thế võ anh theo học có rất nhiều bài quyền cận chiến hay như Mãnh hổ tọa sơn, Linh miêu đoạt thạch, Tam sơn trấn ải, Xí mứng, Phá xí mứng, Pha bốc bế... "
Thất Sơn thần quyền là một trong những võ phái ra đời rất sớm ở vùng Thất Sơn (Bảy Núi, An Giang. " ( Trích từ Quá trình phát triển võ dân tộc của Phạm X Khuyến ).

dienbatn tại mộ Phật Trùm.
Có rất nhiều tài liệu nói về xuất xứ của phái Thất sơn Thần quyền , nhưng theo thày Chàm thì có một số điều chính như sau :
* Thứ nhất : Đây là một võ phái của Việt Nam , tiếp thu và phát triển những tinh hoa về võ học và Huyền môn của nhân loại , nhất là của các hệ phái Huyền môn Nam tông.
* Thứ 2 : Có rất nhiều tài liệu nói phái Thất Sơn Thần quyền xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng theo thày Chàm , điều này hoàn toàn không có cơ sở vì tuy võ phái căn bản dựa trên hiện tượng cầu Thần nhập xác, nhưng việc này không chỉ có ở trung Quốc mà còn có ở hầu khắp các phái Huyền môn trên thế giới. Mặt khác các chữ bùa và câu chú của phái Thất Sơn Thần quyền đều là sử dụng tiếng Pali hoặc săngkit , các chữ bùa hầu như không xử dụng chữ Hán mà chủ yếu theo chữ Điển vô vi.
* Thứ 3 : Thất Sơn Thần quyền ngay bản thân tên gọi của nó đã chỉ ra xuất xứ của nó. Đây là một môn phái không chỉ là võ học mà căn bản của nó vẫn là Đạo học. " Đệ tử của Thất Sơn không chỉ được học quyền mà còn học pháp, Quyền chỉ là phương tiện để dẫn pháp, chứ không phải để đi đánh nhau ,Tất nhiên lúc đánh vì mục đích chính nghĩa thì cũng vô cùng huyền diệu, một đòn vào người, dù đối phương không thấy đau lắm, nhưng về nhà cũng đủ thối da thối thịt. Đệ tử nhập môn, bao giờ cũng phải học quyền. Nhiều người học quyền mãi mà chẳng thăng tiến về tâm, về pháp nên cứ tưởng là cứ giỏi quyền là đã thành tựu. 
Cao hơn quyền, nhiều đệ tử phát triển về pháp. Pháp trong môn cũng vi diệu là khó tin đối với quảng đại quần chúng. Nếu muốn biết về một người, dù cách cả ngàn cây số, cũng có thể biết người ấy đang nghĩ gì, có gặp sự cố gì không. Pháp của môn có thể cầu nắng thành mưa, có thể cầu người sắp chết được sống.
Có thể xin thần linh thổ địa, đuổi trừ tà ma, chữa người điên thành lành... Tất cả những điều này, người trong môn vẫn đang thực hành. Pháp thì cao, nhưng không phải lúc nào cũng làm. Làm thế có mà loạn. Lúc nào ra tay giúp người, lúc nào không, cái gì đáng làm, cái gì không, mỗi đệ tử trong môn phải tự định đoạt (nói những người có khả năng thôi). Nếu không, đều có thể phải trả giá. Để có pháp. không phải cứ khổ công tu luyện hay đọc chú là được. 
Tuỳ vào tâm đức vào kiếp trước của anh đã tinh tiến đến đâu thì khả năng phát triển đến đó. Điều này vô cùng quan trọng. Do đó, đệ tử lâu năm trong môn không có nghĩa là người giỏi. Giỏi hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào tâm đức và sự khai mở từ những kiếp trước. Và vì phụ thuộc nhiều vào tâm đức, nên có những tên tuổi ngày trước đã lẫy lừng, mang tính huyền thoại, thì giờ, do làm nhiều việc phạm, do làm nhiều việc không có tâm đức, đã mất hẳn quyền pháp, trở nên vô dụng. Cái sự khó trong khi tu tập trong môn là như vậy nên tìm được đệ tử chân truyền là cực hiếm.
Người này hôm nay có thể có tâm tốt, ngày mai có thể hỏng. Mà cái khó nhất là nhiều khi sai mà không biết mình sai. Phạm lỗi nhiều mà tự mình ko thể nhận biết mà sửa chữa. Hậu quả nặng nhất mà một đệ tử có thể phải chịu khi phạm lỗi tất nhiên là bị đuổi ra khỏi môn. 
Nhẹ hơn thì mất hết quyền, pháp. Khi sư phụ chọn đệ tử, là sư phụ đã biết đệ tử ấy kiếp trước đã tu tập đến đâu, tâm đức đong được mấy thúng. “
Thất sơn Thần quyền chính là một môn Võ Đạo của người Việt Nam được hình thành từ thế kỷ 19 , do các Đạo giáo của vùng Thất sơn ( Bửu sơn kỳ hương, Tứ Ân hiếu nghĩa, Cao đài, Hòa hảo...), dựa trên những sở học về Huyền môn của nhân loại , nhất là các phái Huyền môn Nam tông (Phật giáo nguyên thuỷ- Nam tông (Theravada) có bề dày lịch sử rất lâu đời, sự truyền thừa được các sử gia thừa nhận là không bị gián đoạn. Điểm ưu việt của nó là truyền bá đến quốc gia nào vẫn giữ được nét văn hoá Phật giáo đặc thù, mà những truyền thống khác rất hiếm có. Phật giáo nguyên thuỷ hiện nay có mặt ở những quốc gia: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Anh, Mỹ, Ý, Úc, Mã Lai, Indonesia,Nepal, Ấn Độ v.v… Điểm đáng nói là tính thống nhất trong truyền thống Nguyên thuỷ, chư tăng tụng kinh bằng tiếng Pali và tiếng bản ngữ , tu hành y cứ theo thánh điển Pali, Tam y và bình bát là tài sản của bậc xuất gia, chỉ ăn ngày một buổi, không ăn phi thời. ). 
Tuy cùng một nguồn là Thất sơn Thần quyền, nhưng do quá trình truyền thụ , tam sao thất bản mà hiện nay tùy theo vùng , miền mà môn phái Thất sơn Thần quyền rất khác nhau .  Không chỉ nguồn gốc của môn mà ngay các thủ tục, quy cách trong quá trình tu học cũng bị “tam sao thất bản” rất nhiều nên phổ biến trong nhân gian những thủ tục khá rườm rà khi nhập môn, dẫn đạo và thực hành công năng.
SỰ TRUYỀN THỪA CỦA PHÁI THẤT SƠN THẦN QUYỀN.
Có nhiều tài liệu nói về nguồn gốc của phái Thất sơn Thần quyền tại nhiều nơi như tại vùng Bảy Núi - An Giang, Huế, Bình Định, Quảng Trị , Đà Nẵng ,Thái Nguyên, Hà Nội ....nhưng theo thày Chàm tất cả những nơi đó đều có nguồn gốc xuất phát từ khu vực vùng Bảy Núi - An Giang . Môn phái Thất Sơn Thần Quyền tôn Quán Thế Âm Bồ Tát là Tổ sư và thêm 8 vị thần đại diện sư tổ trong công tác dạy các môn đồ. Các môn sinh gia nhập môn phái thì phải: đứng trước bàn thờ tổ (Quan Thế Âm Bồ Tát) xưng tên họ và thề 9 điều ( Tùy theo các vị sư phụ chọn từ 9-55 điều trong các lời thề. Mỗi câu thề là một giềng mối đạo đức giúp tăng năng lực tâm linh rất cao, tác động linh ứng rất mạnh , vì vậy người nào giữ được những lời thề đó sẽ có hiệu quả rất lớn khi thực hiện các phép thần bí )  : 
1. Hết lòng hiếu thảo với cha mẹ 
2. Không phản thầy 
3. Không phản bạn, xem bạn như anh em ruột thịt 
4. Không phản lại môn phái Thất Sơn Thần Quyền 
5. Không ỷ mạnh hiếp yếu 
6. Không ham mê tửu sắc 
7. Không cưỡng bách những người đàn bà đã có chồng con 
8. Hết lòng làm việc nghĩa 
9. Không phản đạo 
"Nếu con không làm tròn 9 điều thề trên thì con sẽ bị phanh thây làm muôn mảnh". Ðó là 9 điều tâm niệm của môn đồ Thất Sơn Thần Quyền.
Hiện nay, truyền nhân duy nhất và cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền là võ sư Hoàng Bá, cư ngụ tại cầu Tầm Bót, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đã hơn 75 tuổi, gần 20 năm nay, võ sư Hoàng Bá đóng cửa võ đường, không thu nhận đệ tử nữa. Điều đáng tiếc là võ Sư Hoàng Bá, tuy là truyền nhân nhưng không phải là chưởng môn nên không lĩnh hội được hết tuyệt chiêu của Thất Sơn Thần Quyền. Ông cho biết, người trưởng môn duy nhất và cuối cùng của võ phái, nắm giữ tất cả tuyệt chiêu là ông Đạo Ngựa tu luyện ở núi Sam, Châu Đốc.
Võ sư Hoàng Bá chỉ là truyền nhân của một bản sao Thất Sơn Thần Quyền. Vì vậy, ông chỉ lĩnh hội được một số tuyệt kỹ thuộc về phần “dương công” của Thất Sơn Thần Quyền, chứ không nắm không nhiều những bí quyết về phần “âm công”. Võ sư Hoàng Bá đánh giá: “Thất sơn thần quyền là một môn phái cận chiến thực dụng, chỉ hữu ích trong chiến đấu thuở gươm đao xưa. Người võ sinh có những phương pháp luyện tập dị biệt. Vì bài quyền không có lời thiệu nên bị tam sao thất bổn. Ngoài quyền cước, võ sinh còn được trang bị thêm niềm tin huyền bí để tạo sự tự tin, bình tĩnh. Trong chiến đấu, sự tự tin, bình tĩnh chiếm 50% thắng lợi”. Thất Sơn Thần Quyền chính tông là một phái võ đặc dị gồm 2 phần: Quyền và Thuật. Quyền là phần “dương công” gồm những thế võ cận chiến tay không và giáp chiến binh khí. Thuật là phần “âm công” huyền bí, dùng năng lượng siêu nhiên trợ lực. Vì môn qui, người đệ tử duy nhất được chọn kế thừa trưởng môn mới được sư phụ truyền dạy phần “âm công”. Tương truyền, võ sinh Thất Sơn Thần Quyền chính phái có tuyệt chiêu gọi hồn nhập xác. Khi giáp chiến võ sỹ chỉ sử dụng quyền thế trong dương công để tấn công đối phương. Nếu gặp đối thủ lợi hại, võ sỹ dùng huyền thuật gọi hồn một vị thần giỏi võ nhập xác vào võ sỹ trợ giúp.”
“ Vào năm 1967, những người cao niên sinh sống dưới chân Núi Sam (Châu Đốc, An Giang) vẫn còn thấy một đạo sỹ gầy, râu tóc bạc phơ, tu luyện trong rừng sâu trên đỉnh núi. Hàng ngày, vị đạo sỹ này cưỡi ngựa xuống núi trao đổi lương thực với người dân quanh vùng.
Vị đạo sỹ này rất kiệm lời nên không ai biết thân thế, tên tuổi của ông. Ông không bao giờ rời lưng ngựa. Điều đáng quan tâm là, hình dáng ông trông rất ốm yếu, lại cưỡi ngựa không yên cương. Dốc núi gập ghềnh đá, ông phải có sức mạnh phi thường mới có thể cưỡi ngựa lên đỉnh xuống vồ. Vì thế, người dân địa phương gọi đùa là ông Đạo Ngựa.
Một lần dong ngựa xuống núi đổi rau củ lấy gạo, bắt gặp một toán cướp dùng súng uy hiếp người dân, ông xuống ngựa can thiệp. Đó là lần đầu tiên người ta thấy ông rời lưng ngựa. Toán cướp thấy ông ốm yếu xông vào toan đánh đập. Không ngờ chỉ bằng một ngón tay, ông đã khiến một tên cướp trợn dọc mắt, ngã lăn bất tỉnh. Tên cướp khác toan nổ súng. Ông rùng mình một cái rồi sau đó như điên loạn.
Ông bay vèo đến cạnh tên cướp tước súng rồi vung chân múa tay đánh gục hết những tên còn lại. Ông ung dung lên ngựa trở về núi. Một ông già ốm yếu đánh gục toán cướp khỏe mạnh lại có vũ khí trong tay khiến nhiều thanh niên thán phục. Họ rủ nhau lên núi tìm ông xin học võ. Không ai tìm được nơi trú ẩn của ông. Tuy nhiên, có một người thanh niên quyết tâm tìm ông cho được. Người thanh niên này bò lên đỉnh núi Sam tìm nơi ngồi thiền lâm râm khấn: khi nào gặp được sư phụ mới chịu xuống núi. Sau hai ngày chịu nắng mưa, đói khát giữa rừng sâu núi thẳm, người thanh niên ấy ngất xỉu. Khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trong một hang động. Kể từ ngày đó, người thành niên ấy trở thành đệ tử chân truyền của Đại sư Đạo Ngựa. Ngoài Hoàng Sơn còn có một tiểu đồng tên Ba giúp ông Đạo Ngựa nhang khói. Trong những ngày thụ đạo, người thanh niên ấy mới biết sư phụ mình là đệ tử kế thừa trưởng môn Thất Sơn Thần Quyền của Nam Cực Đường. Nam Cực Đường của Đại sư Bảy Do lập năm từ đầu thế kỷ 20 đào tạo nghĩa sỹ kháng Pháp. Năm 1917, quân Pháp bao vây bắt Đại sư Bảy Do đày ra Côn Đảo. Năm 1926, tạo nhà lao Côn Đảo, Đại sư Bảy Do cắn lưỡi cho máu chảy đến chết. Học được gần 1 năm, đã hết phần “dương công” chuẩn bị bước sang phần “âm công”, người thanh niên ấy xin về nhà giỗ cha. Giỗ cha xong, khi trở lại núi Sam, người thanh niên không tài nào tìm được hang động cũ. Nghĩ rằng sư phụ muốn lẩn tránh mình, người thanh niên ấy đành lại tạ hư không rồi xuống núi. Từ ngày đó cũng không ai còn thấy bóng dáng ông Đạo Ngựa một lần. Ông mất hút giữa rừng núi thiêng. Người thanh niên ấy chính là lão võ sư Hoàng Sơn. Năm 1960, trong một trận thi đấu tranh giải võ thuật khu vực Đông Nam Á, võ sỹ Hoàng Sơn đại diện đoàn Việt Nam đấu với võ sỹ Kh’mer tên là Nosar. Vào hiệp một, chỉ sau vài chiêu giao đãi, võ sỹ Nosar xin dừng trận đấu vì nhận ra đồng môn. Hóa ra, Nosar cũng là đệ tử của Thất Sơn Thần Quyền. Năm 1970, ông Nosar trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng võ thuật Campuchia đã đào tạo ra những võ sỹ “thần quyền” nổi tiếng Campuchia như Nosar Long, Nosar Lieng. Hóa ra Nosar là truyền nhân mấy đời của ông Cử Đa ở Tà Lơn.
Theo dõi tiếp bài 26. dienbatn.

MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 24.

11/03/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 24.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. Loạt bài này đã đăng trên báo giấy : Tuổi trẻ và Đời sống .
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long. Sau đó, tiến lên huy hiếp thành Châu Đốc, buộc Tổng đốc Phan Khắc Thận phải đầu hàng. Tỉnh An Giang mất vào tay Pháp vào ngày 22 tháng 6 năm 1867. Trần Văn Thành không hàng Pháp mà mang quân qua Rạch Giá, hỗ trợ kháng chiến quân của Nguyễn Trung Trực.
Trần Văn Thành sinh năm 1920 ở ấp Bình Phú, làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Năm 1840, ông gia nhập quân đội nhà Nguyễn được cử làm suất đội trong chiến dịch giải giáp Nặc Ông Đôn (em vua Cao Miên, khởi quân chống lại Việt Nam). Năm 1845, ông được thăng làm Chánh quản cơ, coi 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam.
Theo (https://vi.wikipedia.org).
“Trần Văn Thành sinh ra trong một gia đình trung nông ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc ấp Bình Thành, xã Phú Bình, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang).
Ông trưởng thành và hoạt động dưới triều đại Thiệu Trị và Tự Đức, từ khoảng năm 1841 đến 1873.Năm 1840, Trần Văn Thành gia nhập quân đội nhà Nguyễn giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên, nhờ có Xiêm La giúp sức, đã khởi quân chống lại cuộc bảo hộ của Việt Nam.
Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa , nên ông được cử làm suất đội (chỉ huy khoảng 50 lính), từng đóng quân ở Chân Lạp (Campuchia).
Dưới thời Thiệu Trị, ông từng đem quân đánh dẹp phe nổi dậy ở Láng Cháy (Tri Tôn) . Năm 1845, sau khi lập được nhiều công lao, ông được thăng làm Chánh Quản Cơ, coi 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam .
Năm 1846, Nặc Ông Đôn qui phục nhà Nguyễn. Cuối năm Đinh Mùi (1847), xét thấy tình hình biên giới Tây Nam đã ổn định, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", triều đình cho giải ngũ một số binh sĩ, trong đó có cơ biền của Trần Văn Thành. Trước khi về lại quê nhà, ông được ban thưởng nhiều phẩm vật cùng một tờ chiếu khen là "Quản cơ tinh binh".Giải ngũ, Trần Văn Thành cùng gia đình đến cư ngụ tại khu vực chùa Huê Viên (còn gọi là chùa Vườn Bông, nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân).
Năm 1849, Trần Văn Thành gia nhập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An) sáng lập năm 1849.
Từ 1851, khi Đoàn Minh Huyên bị bắt buộc phải đến tu tại chùa Tây An (Châu Đốc), nghe lời thầy, ông mang vợ con rời Cồn Nhỏ (Bình Thạnh Đông) đến vùng Nhà Bàng sau này, rồi đến Láng Linh (Châu Phú) lập trại ruộng để lo việc khẩn hoang .
Tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ, sau đó quân Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Vua Tự Đức liền ra lời kêu gọi các sĩ dân nơi đây cùng hợp tác chống ngăn quân xâm lược. Hưởng ứng lệnh vua, Trần Văn Thành trở lại đội ngũ.
Sau khi đi Pháp chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ thất bại, năm 1865, Phan Thanh Giản được cử làm Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Do sức ép của Pháp, triều đình lệnh cho ông Giản phải lùng bắt Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên hộ Dương), và ông Giản đã phái Trần Văn Thành thực hiện nhiệm vụ này, nhưng ông chỉ làm cho lấy có .
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long. Sau đó, một đoàn tàu chiến do trung tá hải quân GaLey cầm đầu, tiến lên huy hiếp thành Châu Đốc, buộc Tổng đốc Phan Khắc Thận phải đầu hàng, tỉnh An Giang mất ngày 22 tháng 6 năm 1867.
Để cứu nguy nước nhà, Trần Văn Thành tự tổ chức dân binh đắp cản ở quê nhà (Cồn Nhỏ) để ngăn quân Pháp , đồng thời mang quân qua phía Rạch Giá, hỗ trợ cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực. Tháng 6 năm 1968, thủ lĩnh Trung Trực đánh chiếm được đồn Kiên Giang mấy ngày, thì bị quân Pháp tổ chức phản công. Lập tức, Trần Văn Thành cho quân (có đông đảo đồng bào Núi Sập tiếp tay) đắp cản ở Ba Bần, Trà Kên (nay đều thuộc huyện Thoại Sơn) để ngăn cản tàu chiến Pháp đi tái chiếm tỉnh lỵ Rạch Giá .
Ngoài ra, ông còn can dự vào việc giết viên Chủ tỉnh Vĩnh Long là Salicetti ở Vũng Liêm .
Cuộc cản phá thất bại, Nguyễn Trung Trực bị đánh thua rút quân ra Hòn Chông (nay thuộc Kiên Lương), còn Trần Văn Thành thì dẫn lực lượng của mình vào Láng Linh dựng trại, khẩn hoang làm ruộng, luyện quân và rèn đúc vũ khí...để chuẩn bị làm cuộc đánh đuổi ngoại xâm .
Láng Linh một cánh đồng rộng trũng phèn rộng bao la, thời nhà Nguyễn, đất này thuộc huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang (nay nằm trên địa bàn các xã Thạnh Mỹ Tây, Đào Hữu Cảnh, Bình Phú (nay đều thuộc huyện Châu Phú tỉnh An Giang). Xưa kia, nơi đây có nhiều đầm lầy, đế sậy và vô số cây thưa (vì thế mà thành tên cuộc khởi nghĩa) , lại ít có kênh rạch thông vào...
Cây trát thưa hay cát thưa (dân gian gọi tắt là "thưa") là một loại cây ưa mọc ở vùng đất thấp, chịu được mùa nước nổi, cội to (khi lớn), lá nhỏ mà dài (xem ảnh). Ca dao địa phương có câu: "Bãi bồi mọc những cát (hay trát) thưa/ Thương em đi sớm về trưa một mình". Theo Nguyễn Hữu Hiệp và Liêm Châu, tên cuộc khởi nghĩa viết là Bãi Thưa (theo nghĩa bãi đất mọc nhiều cây thưa) mới đúng. Do cách phát âm của người nông thôn miền Nam, mà tên Bãi Thưa lần hồi thành ra Bảy Thưa (theo Kỷ yếu, tr. 79 và 92). Hiện nay ở Láng Linh còn rất ít loại cây này. Cây cát (hay trát) thưa, chỉ còn lại vài bụi nhỏ tại Dinh Sơn Trung.
Theo lời kể của nhân dân và tư liệu cũ thì căn cứ chính của khởi nghĩa Bảy Thưa là Hưng Trung doanh (nay thuộc ấp Hưng Trung, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú). Xung quanh có các đồn làm tuyến ngăn cản đối phương, như: đồn Cái Môn, đồn Lương (đều thuộc Thạnh Mỹ Tây), đồn Giồng Nghệ (Vĩnh Hanh, (Châu Thành), trạm canh Ông Tà (Tà Đảnh, Tri Tôn), đồn Hờ ở vàm rạch Cái Dầu (Châu Phú), v.v... . Mỗi đồn đều được trang bị súng thần công, súng điểu thương, hỏa hổ,... với khoảng 150 nghĩa quân phòng thủ.
Trần Văn Thành phất cờ chống Pháp vào khoảng tháng 8 năm 1867, và lấy tên Binh Gia Nghị đặt cho đội quân của mình.
Theo tờ trình của Pháp năm 1870, thì lúc bấy giờ lực lượng của Trần Văn Thành có khoảng 1.200 nghĩa quân, bao gồm một số quân triều và nghĩa dân (trong đó phần đông là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương). Để củng cố thêm thế lực, Trần Văn Thành cho người đến liên hệ với Pu Kom Pô, thủ lĩnh kháng Pháp ở Campuchia, nhưng vì ông này cũng đang gặp khó khăn nên việc liên kết không mấy hiệu quả. Ngoài ra, ông còn cho người sang Xiêm La và Cao Miên để mua súng đạn, nhưng không thành công, vì hai nước ấy không muốn nhúng tay vào việc Nam Kỳ e mất lòng Pháp .
Cuối năm 1868, các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đã bị tan rã gần hết, lực lượng Trần Văn Thành lâm vào thế cô, và ông trở thành nhân vật bị Pháp truy nã, treo giải thưởng cao .
Năm 1871, một cộng sự của Pháp là Trần Bá Lộc thử hành quân vào Bảy Thưa, nhưng chẳng thâu được kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích.
Sang năm 1872, nhờ lời khai của nghĩa quân ra hàng và mật thám thăm dò được, thực dân quyết định mở cuộc càn quét lớn vào Bảy Thưa. Tuy nhiên mãi cho đến năm sau, họ mới phát lệnh hành quân.
Bắt đầu từ tháng 3 năm 1873, thực dân Pháp cho quân đánh phá đồn Hờ ở rạch Cái Dầu (thuộc Châu Phú), và uy hiếp đồn Nghệ (thuộc xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành, An Giang) rồi kéo dần vào rừng. Họ nã đại bác vào phía trước và cho dân dọn đường phía sau. Qua 5 ngày chiến đấu, quân Bảy Thưa lui dần. Quân Pháp không tiến mau được vì ngột nắng và sợ đỉa. Ngày 19 tháng 3, hải quân Pháp từ Châu Đốc tiến vào đánh đồn Cái Môn (nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú). Tuy có hào sâu nhưng vì súng của nghĩa quân bắn không được xa, phát nổ phát không, nên chẳng bao lâu quân Pháp tràn vào được trong đồn. Cùng ngày ấy, tàu chiến Pháp đâu tại vàm rạch Mặc Cần Dưng (nay thuộc Châu Thành, An Giang), ngoài sông Hậu, rồi cho quân  dùng xuồng nhỏ vào ngọn rạch Mặc Cần Dưng (nay thuộc Châu Thành, An Giang) để tiến tới ngọn Hang Tra là nơi Trần Văn Thành đang chỉ huy chiến cuộc .
Biết mình đang bị bao vây, và người Pháp có vũ khí hữu hiệu, nhưng Trần Văn Thành và nghĩa quân vẫn cương quyết đối phó.
Theo Sơn Nam, khoảng 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 năm Quý Dậu), quân Pháp bắt đầu xung phong đánh chiếm Hưng Trung doanh. Báo Le Courrier de Saigon ra ngày 5 tháng 4 năm 1873 tường thuật:
Tại Hưng Trung, Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đứng sau chiến lũy làm bằng những tấm ván và những bao gạo chồng lên nhau, để đốc thúc nghĩa binh chiến đấu. Nghĩa quân trong các chiến lũy thổi tù và, đánh trống và reo hò để tăng uy thế. Bên cạnh ông còn có con trai ông hỗ trợ cho ông bắn"...
Nhà văn Sơn Nam kể:
Ông Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đối phó, tuy đang bị vây. Ông đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất. Ông thách thức bọn Pháp, dùng ống loa mà chửi rủa thậm tệ. Đồng thời ông day về phía quân sĩ của mình mà khích động tinh thần; quân sĩ hò reo vang rân, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi. Ông Trần Văn Thành cắt từng lọn tóc nhỏ của mình mà phân phát cho các tín đồ...Bọn Pháp được lịnh đánh tràn vào. Ông Thành mặc áo màu đỏ sậm, đốc thúc chiến sĩ, ra hiệu lịnh, bên cạnh ông là đứa con ruột đang tiếp tay và đích thân ông bắn súng...
Trước hỏa lực mạnh mẽ của đối phương, dù cố gắng chống trả nhưng chỉ vài giờ sau thì quân Bảy Thưa cũng bị đánh tan. Cũng theo Sơn Nam thì sau trận này, bên nghĩa quân có 10 người chết, 5 người bị thương, 15 người bị bắt sống. Ngoài ra, họ còn bị đối phương chiếm đoạt 16 súng điểu thương, 70 cây đao, nhiều gạo cùng ghe xuồng, một số giấy tờ cho thấy ông Thành từng ở Rạch Giá với Nguyễn Trung Trực và can dự vào vụ đánh giết Salicetti (chủ tỉnh Vĩnh Long) ở Vũng Liêm.
Xong trận, quân Pháp nổi lửa đốt tất cả dinh trại, phá hủy hết các lò đúc vũ khí, rồi mang xác ông Thành và Đội Văn (Pháp ghi là Vang, giữ hậu tập, tử trận trong trận Hưng Trung) về chưng bày tại chợ Cái Dầu (Châu Phú) để thị uy, để ngăn chận những tin đồn cho rằng ông còn sống, chỉ tạm thời đi lánh mặt và sẽ tiếp tục kháng chiến . Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam thì ông không tử trận. Sách viết: "sau khi bản doanh Hưng Trung bị tàn phá, thất bại nặng, ông rút lui vào chiến khu và mất ngày 21 tháng 2 âm lịch năm 1873".
Về cái chết của ông, đến nay vẫn chưa được làm rõ.
Nhà văn Sơn Nam viết về Trần Văn Thành và cuộc khởi nghĩa của ông như sau:
Trần Văn Thành từng tham gia những trận chống quân xâm lược Xiêm, đời Thiệu Trị. Qua đời Tự Đức, thấy sự áp bức của vua quan, ông trở thành tín đồ của Đoàn Minh Huyên, bấy lâu nổi danh với tài trị bệnh, cải cách Phật giáo, bỏ những nghi thức rườm rà, nhằm huy động nông dân chống lại phong kiến...
Với chí lớn không chút bi quan yếm thế, ngay sau khi An Giang mất, ông đưa nghĩa dân và nghĩa quân qua phía Rạch Giá, tham gia cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, và ông trở thành nhân vật mà thực dân Pháp truy nã gắt gao, treo giải thưởng. Sau đó, ông rút lui về Láng Linh để khẩn hoang. Có thể nói, ông là người đầu tiên dám nghĩ đến việc canh tác ở vùng trũng phèn này. Từ năm 1871 đến đầu năm 1873, mật khu lần hồi thành hình...Nghĩa quân gồm quân sĩ cựu trào, thêm khá đông người yêu nước từ các tỉnh.
Khi đề cập cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, nhiều sử gia đều đánh giá cao, vì:
-Việc tổ chức khá khoa học, với công sự, kho lương thực; đặc biệt là đúc súng ống tại chỗ, tuy súng hãy còn thô sơ, kiểu "ống lói".
-Biết dùng hình thức tôn giáo để qui tụ quần chúng và che mắt thực dân Pháp.
-Thủ lĩnh (Trần Văn Thành) thấy rõ tương lai dân tộc ở hành động cụ thể là phải chống ngoại xâm, không thể ngồi khoanh tay chờ núi Cấm nứt ra "bất chiến tự nhiên thành". Thái độ của thủ lĩnh và nghĩa quân là "chiến đấu không thỏa hiệp"
Nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có làm bài thơ chữ Hán tưởng niệm ông. Vô danh dịch như sau:
Non sông Hồng Lạc, giặc xâm lăng
Thẳng thắng, Trần công cố sức ngăn.
Trời đất biết cho lòng sốt sắng,
Kiếp đời ghi mãi chí thù hằn.
Đền thờ tỏ dấu dân trong nước,
Thơ vịnh nêu tình khách viết văn.
Những đứa phản thần qua đến cửa,
Gục đầu, run mật, cặp mày nhăn.
Năm 1909, một tu sĩ trong giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương tên là Vương Thông có viết tập thơ Nôm thể lục bát có tên là "Trần Quản Cơ dữ Gia Nghị Binh", kể về khởi nghĩa Bảy Thưa, trong đó có nhiều câu nói đến tinh thần "an bần, lạc đạo", lòng quả cảm và tiết tháo của ông, trích hai đoạn ngắn:
Thân ngài (Trần Văn Thành) chẳng quản rách lành,
Ở trong Láng đó lều tranh chờ thời.
Người trung đứng giữa mặt trời,
Đắng cay bao quản vận thời chớ than.
Trích cò le át la vang,
Đậu khoai nuôi bữa bắp rang đỡ lòng...
Và:
An Giang có một ông (Trần Văn Thành) đây
Chữ dạ ngay thầy ái quốc ưu dân.
Thà thua xuống láng xuống bưng,
Kéo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần...
Trần Văn Thành được tôn thờ ở nhiều nơi, như: Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, Dinh Hưng Trung, Dinh Sơn Trung...Ngoài ra, tên ông còn dùng để đặt tên cho trường học và đường phố trong tỉnh An Giang.”
Tháng 6 năm 1968, Nguyễn Trung Trực đánh chiếm được đồn Kiên Giang mấy ngày, thì bị quân Pháp tổ chức phản công. Do địch được trang bị vũ khí vượt trội nên Nguyễn Trung Trực rút lui ra Hòn Chông, còn Trần Văn Thành thì dẫn lực lượng của mình vào Láng Linh – Bảy Thưa dựng trại, khai hoang, luyện quân và rèn đúc vũ khí chờ thời cơ. Đó là khoảng thời gian hình thành môn phái võ Thất Sơn Thần Quyền.
Một số Chưởng môn truyền nhân của các hệ phái đều nhắc đến ông tổ Cử Đa - Một nhà sư tay không đả hổ ở núi Thiên Cấm Sơn. Cũng có thể đó là ông Tổ chung nhiều môn phái võ có xuất xứ ở vùng Thất sơn.
Thời Thiệu Trị cuối cùng, Nguyễn Văn Đa thi đậu võ cử nên được gọi là Cử Đa.
Khi triều đình nhu nhược trước quân Pháp, ông Cử Đa thất vọng từ quan về vùng Thất Sơn đứng dưới cờ kháng chiến của nghĩa quân Trần Văn Thành (quản cơ Trần Văn Thành) vào năm 1862. Lúc ấy nghĩa quân Trần Văn Thành trú đóng dưới chân núi Liên Hoa Sơn (căn cứ Láng Linh – Bãi Thưa) lập căn cứ kháng chiến lâu dài.
Láng Linh – Bãi Thưa là hai cánh đồng rộng nằm liền kề, có nhiều đầm lầy, lau sậy và vô số cây thưa um tùm tăm tối. Căn cứ chính của Trần Văn Thành có tên là Hưng Trung doanh, đặt tại trung tâm rừng Bãi Thưa (nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, An Giang).
Ông Cử Đa trở thành người huấn luyện võ thuật cho quân kháng chiến. Trong khi quân Pháp sử dụng vũ khí hiện đại, quân kháng chiến chỉ có các loại đao, thương và súng tự chế. Để trấn an tinh thần nghĩa quân, thủ lĩnh nghĩa quân Trần Văn Thành giao cho Ngô Lợi huấn luyện phép thuật.
Còn cụ cử Đa trong cuốn Tà Lơn có viết là quê tại Thuộc Nhiêu , chống Tây bị thất bại nên đi tu lấy hiệu là Ngọc Thanh :
“ Hắc y đổi lại cà sa,
Cải tên đặt lại hiệu là Ngọc Thanh “.
Trong thời gian này cụ cử Đa thường đem quân lên Vồ Thiên Tuế  tập võ .  Gọi là Vồ bởi chúng là những chỏm cao nhô lên trong cùng một dãy núi, phần nhô cao lên có đỉnh bằng phẳng . Tại núi Cấm có 5 vồ là : vồ Thiên Tuế, vồ Ông Bướm , vồ Bà , vồ Đầu và vồ Bò Hong . Trong đó vồ Bò Hong cao nhất ( 716 m ) và thấp nhất là  vồ Ông Bướm ( 480m ) . Gọi là vồ Thiên Tuế bởi ở đây có rất nhiều cây Thiên Tuế  lâu năm , gọi là vồ Ông Bướm bởi ngày trước cuối thế kỷ 19 có hai người Miên tên là Bướm và Vôi đến tu luyện . Gọi là vồ Bà vì trên vồ có tượng Bà to lớn và rất đẹp . Tại Vồ Bà cũng còn có một phiến đá rất to có hình dáng giống như một cái thuyền có sự tích về “ Chàng Nam và chiếc thuyền hóa đá “
Nhằm tạo niềm tin, thu hút nhiều quần chúng tham gia kháng chiến, Ngô Lợi đem nền tảng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lập một tôn giáo mới có tên gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Những tín đồ được Ngô Lợi phát bùa đeo nhằm… chống đạn. Ông Ngô Lợi còn dùng sấm truyền để tín đồ tin rằng sắp đến ngày tận thế (đồng khởi), ma quỷ (quân Pháp) đã hiện ra đầy đường và núi Cấm sắp mở hội “Long Hoa”.
Chỉ trong một thời gian ngắn, người dân khắp đồng bằng bồng bế gia đình kéo về vùng kháng chiến Láng Linh nườm nượp. Ngô Lợi phải chia đất cho tín đồ cất nhà, lập làng và tổ chức khai hoang lập ruộng sản xuất lấy lương thực nuôi quân. Theo lệnh của Quản cơ Trần Văn Thành, ông Ngô Lợi còn bày cách cho tín đồ đóng ghe nhiều chèo phục vụ cho chiến đấu.
Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 1872, Trần Văn Thành chính thức phất cờ chống Pháp, lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Nghe tin, Pháp cử chủ tỉnh người Việt tên Trần Bá Lộc đưa mật thám xâm nhập căn cứ.
Năm 1873, sau khi nắm rõ tình hình nghĩa quân, Trần Bá Lộc dẫn quân Pháp đánh vào Bảy Thưa. Ông Trần Văn Thành tử trận. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Quân Pháp tàn sát, giết hại, đốt làng của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ông Ngô Lợi thoát nạn, sau này quay trở về Láng Linh tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân dưới danh nghĩa tôn giáo chờ thời cơ. Khi quân Pháp càn quét vào vùng căn cứ, một trong những đệ tử của Bổn sư Ngô Lợi đã dùng một chiếc ghe nhiều mái chèo theo sông Cái ra biển đào thoát về tận vùng núi Long Sơn ở Bà Rịa lập nên đạo Ông Trần.
Riêng ông Cử Đa cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Có lúc ông phái lánh sang Campot,Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia).
Đến năm 1896, ông Cử Đa mới dám trở về vùng núi Cấm lập am ẩn danh. Năm 1896, khi rời Campuchia về nước, ông Cử Đa tìm gặp Đức Bổn sư Ngô Lợi để bàn chuyện tiếp tục đánh Pháp. Nhưng vị tu sỹ này từ chối do chưa đến thời cơ. Thất chí Cử Đa về vùng rừng Tri Tôn lập chùa Năm Căn quy  ẩn.
Riêng làng An Định, nơi được xem là thủ phủ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với ngôi chùa Tam Bửu và Phi Lai do chính Ngô Lợi tạo dựng, quân Pháp bố ráp xóa làng 5 lần nhưng không xóa được lực lượng nghĩa quân này.
Sau khi Ngô Lợi bị bệnh qua đời, những kháng chiến quân trong đội ngũ tín đồ vẫn tiếp tục rèn luyện võ nghệ chờ thời cơ đánh Pháp. Nhưng do không còn người lãnh đạo, lực lượng này mai một dần.
Tương truyền, ông Cử Đa là một trong số chỉ huy của Chưởng cơ Thành. Khi nghĩa quân bị thực dân Pháp đàn áp, các vị chỉ huy nghĩa quân phân tán lực lượng vào các cánh rừng già để bào toàn lực lượng và chờ đợi người liên lạc của Chưởng cơ Thành. Họ không ngờ rằng chủ soái đã bị giặc bắt và tử hình. Với quân số ít ỏi, Cử Đa không thể làm được gì ngoài việc chiêu mộ thêm nghĩa quân và ngày đêm luyện tập võ nghệ. Do ảnh hưởng tín ngưỡng và điều kiện rèn quân nên hệ phái tổ sư Cử Đa có võ pháp nghiêng về các thế tấn công quyền pháp và binh khí. Về võ đạo, hệ phái tôn vinh tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm và tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh sư phụ (chỉ huy) bằng lời thề độc khi nhập môn. Về võ thuyết, hệ phái này lấy niềm tin từ “cõi âm”, vì vậy, ngoài những bài tập rèn luyện về thể chất, võ sinh còn phải luyện bùa, phép, ngải, chú. Do sống trong vùng rừng thiên nước độc, không có giấy tờ ghi chép nên các võ sinh chỉ học bằng cách truyền khẩu. Sau này, các đệ tử (Nghĩa quân) của tổ sư Cử Đa tiếp tục đi khắp nơi chiêu mộ nghĩa quân, chiêu mộ đến đâu huấn luyện võ thuật đến đó. Vì lưu trữ kiến thức võ học bằng trí nhớ nên chuyện tam sao thất bồn là lẽ đương nhiên. Sau nhiều thế hệ nối tiếp, dần dà, Thất Sơn võ phái biến thành nhiều chi phái khác nhau. Có nhiều chi Thất Sơn nhưng hầu hết đều không nhận ra bài quyền nào của nhau. Thậm chí có chi phái hoàn toàn không luyện đòn thế mà chỉ chú tâm vào huyền thuật, gọi là chi phái “thần quyền”. Khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, nhiều người đã cố công sưu tầm, tập hợp các tinh hoa của tổ sư Cử Đa nhưng chưa thành công đã giải tán do chiến tranh.
Phái Thất sơn Thần quyền là một môn phái riêng, không hẳn là Trà Kha , nhưng tiếp thu rất nhiều những kỹ thuật căn bản và khẩu quyết của phái Trà Kha. Các thày ngày xưa đi học và nghiên cứu theo các hệ phái Nam tông thường kết hợp và vận dụng rất tài tình, sáng tạo các môn phái khác vào môn phái của mình. Chỉ riêng phái Thất sơn thần quyền cũng chia ra rất nhiều nhánh nhỏ với nhiều sáng tạo và kết quả là có nhiều chi nhánh khác nhau trong cùng một phái Thất sơn Thần quyền. Thất Sơn Thần Quyền là một môn phái cận chiến thực dụng, chỉ hữu ích trong chiến đấu thuở gươm đao xưa. Người võ sinh có những phương pháp luyện tập dị biệt. Vì bài quyền không có lời thiệu nên bị tam sao thất bản. Ngoài quyền cước, võ sinh còn được trang bị thêm niềm tin huyền bí để tạo sự tự tin, bình tĩnh. Trong chiến đấu, sự tự tin, bình tĩnh chiếm 50% thắng lợi .
Theo dõi tiếp bài 25. dienbatn.

MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 23.

11/03/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 23.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. Loạt bài này đã đăng trên báo giấy : Tuổi trẻ và Đời sống .
PHẦN BA – THÀY CHÀM DẠY VÕ THẦN CHO DIENBATN.
( Trong phần bài viết này, dienbatn có sử dụng nhiều tư liệu của các môn phái Võ thuật và những tư liệu sưu tầm được . Để mạch văn được trơn chu , có thể có những tư liệu không được ghi nguồn. Mong các tác giả cảm thông. Xin trân trọng cảm ơn ). Dienbatn.

Theo đúng như đã thỏa thuận giữa 3 người Thày, Những tháng sau đó Thày Chàm bắt đầu dạy cho tôi về quyền thuật . Khác hẳn những môn quyền pháp mà ngày xưa ở trinh sát Lào (  Ít-xa-la  ) tôi đã từng được huấn luyện . Môn này ngày đầu tiên tới nhà Thày Bảy tôi đã từng được chứng kiến . Môn đó được gọi là “ Võ Thần “ hay “ Thất Sơn Thần quyền “. Để có thể học tới nơi , tới chốn môn võ này , thày Chàm quyết định đưa tôi về miền Thất Sơn – Châu Đốc. 
Nửa tháng sau , tôi đã xin nghỉ phép tại cơ quan và cùng thày Chàm xin phép ông , bà Bảy lên đường đi Châu Đốc . Hai thày trò được học trò của thày Bảy dùng xe hon da đưa ra bến xe Phước Vinh , cách nhà khoảng 10 km. Trời đầu xuân mà nắng tưng bừng khắp nơi . Lúc này các lò đường đã ngưng hoạt động , nhưng những núi xác mía còn trắng phau khắp nơi , bốc lên mùi ngòn ngọt , chua chua .Những vườn điều lúc lỉu những quả xanh , đỏ đung đưa theo gió sớm . Khu vực ngã ba Phước Vinh nằm trên lộ 788 thuộc ấp Phước Lợi, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, Tây Ninh. Lộ 788 là một con lộ được trải bằng đất đỏ , trải qua thời gian mưa nắng và có nhiều xe Be đi qua nên thật là kinh khủng. Mỗi khi có một chiếc xe chạy qua là một vùng bụi đỏ chùm lên khắp nơi , nhìn ai nấy chỉ còn có đôi mắt hiện lên trên khuôn mặt bám đầy bụi . Thời gian này , mỗi ngày chỉ có vài chuyến xe đò đi lên Thị xã tây Ninh. Đợi chờ mòn mỏi , cuối cùng thày trò chúng tôi cũng yên vị trên băng ghế gỗ nham nhở của chiếc xe đò lở . Tới trưa trật chúng tôi mới tới Thị xã Tây Ninh . Hai Thày trò ghé quán bên đường ăn qua quít tô hủ tiếu và hỏi thăm mới biết ngày mai mới có xe về Sài Gòn . Thày Chàm dắt tôi đi thăm một khu di tích của dân tộc Thày ở gần đó. Hai thày trò mướn xe ôm đi thăm tháp Chót Mạt được phát hiện vào đầu thế kỷ XX, tọa lạc tại ấp Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh . Khu Di Tích Đền Tháp Chót Mạt, được xác định xây dựng khoảng thế kỷ thứ VIII sau công nguyên thuộc nền văn hóa Óc Eo, Tháp Chót Mạt được phát hiện chính thức cùng tháp Bình Thạnh (Trảng Bàng Tây Ninh) đầu thế kỷ XX.
 Khoảng năm 1775 khi Nguyễn Cư Trinh đánh lui Cao Miên , có chiêu dụ được một số người Chăm trước đó chạy loạn sang trú ngụ trên đất Miên . Ông dân sớ lên Chúa Nguyễn hiến kế “ tàm thực “ , xin dùng người Chăm để ngăn chặn người Miên . Chúa Nguyễn chấp nhận , ông liền cho cất đồn ải tại Tây Ninh , Hồng Ngự và Châu Giang rồi cắt dân Chăm làm quan trấn thủ . Họ có bổn phận ngoài công việc ngăn giặc , lo khai khẩn ruộng vườn ở miền biên ải xa xôi. Có lẽ tháp Chăm Chót Mạt được người Chăm cũng được thờ cúng và tu bổ vào thời gian này .
Tháp Chót Mạt được xây dựng trên gò đất cao giữa cánh đồng. Nhìn từ xa, đã thấy khu đền tháp Chót Mạt như một ngọn bút vươn lên giữa trời. Khi tiến đến gần, tháp càng bề thế hơn với phần móng tường và đế tháp rộng. Toàn bộ công trình được xây dựng bằng gạch khổ lớn và đá phiến, điều này khiến cho dáng vẻ của tháp Chót Mạt có nét tương đồng với các tháp cổ ở miền Trung.
Phần đỉnh tháp được xây nhọn dần lên, nơi cao nhất của đỉnh tháp đạt chiều cao 10m. Tinh xảo hơn là các lớp gạch xếp chồng lên nhau được xây dựng khít đến mức nắng gió thời gian cũng không thể tìm ra lỗ hổng. Ngoài ra, 4 mặt tháp xoay theo 4 hướng. Mặt vách chính vẫn quay về hướng Đông. Các vách còn lại được xây hơi nhô ra ngoài, được trang trí bằng các hình chạm nổi, thể hiện rõ nét nền văn hóa thời bấy giờ. Tháp xây bằng gạch có bình diện vuông 5m x 5m đỉnh tháp cao 10m mỗi chiều kiến trúc tháp đều bị hư hại mất gần 1/2 kiến trúc, hai mặt tường tháp ở phía Tây và Bắc hầu như bị sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn phần móng tường chân đế tháp, các hoa văn trang trí bị nứt nẻ chỗ còn chỗ mất. 
Tây Ninh có tất cả 9 xóm người Chăm: Phường 1 thành phố  TÂY NINH , Tân trung A, Tân trung B, Tân phú, ấp Chăm Suối dây, Tân Hội, Thạnh Thọ, ấp Cây Khế, Hội thanh. Người Chăm ở Tây Ninh nói hai thứ tiếng, khi họ nói với nhau thì dùng tiếng Chăm, khi nói với người Việt thì dùng tiếng Nam, dầu đến những đứa con nít cũng nói được hai thứ tiếng như vậy. Cả xóm không có một trường học nào. Cũng không có thầy riêng để dạy chữ Chăm cho nhau, hễ cha anh trong nhà nào biết chữ thì dạy cho con em mà thôi.Người Chăm có hai thứ tôn giáo, hoặc theo đạo Bà la môn, hoặc theo đạo Hồi .Thày Chàm cũng phàn nàn với tôi là vì không hiểu nên người Việt thường gọi người Chăm là người Chà Và. Hai dân tộc đó khác hẳn nhau . Người Chăm hay Chàm là những người có xuất xứ từ miền Trung , vì ảnh hưởng chủa chiến tranh mà phải lưu lạc vào đây . Người Việt thấy họ giao thiệp với người Mã lai , sang học Đạo ở Pattani thì lầm tưởng họ là người Mã lai rồi cứ gọi như vậy . Danh xưng Chà Và là do tiếng Java mà ra . Đồng bào Chăm coi đó là một danh xưng đầy khinh miệt , cũng như danh xưng An Nam mà người Hán gọi dân Việt vậy . Thời Vua Minh Mạng , những người Chăm theo Lê Văn Khôi chiếm Phan rang , Phan rí , Phan thiết chống lại triều đình ( 1833 ). Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi thất bại , một cuộc thảm sát vô cùng man rợ giành cho người Chăm theo Lê Văn Khôi đã khiến họ phải bỏ xứ ra đi . Một số chạy sang Cambodge , một số sống lẩn lút theo đồng bào Thượng, số lớn chạy vào Nam . Phong trào khủng bố đó đã được Vua Thiệu Trị khoan hồng , xuống một sắc chỉ chiêu an năm 1841 , truy phong cho Vua Poklong Kahul . Tuy nhiên đa phần những người Chăm thời đó đã lưu lạc tới Kompong Chăm , Châu Đốc và Tây Ninh đã không quay trở lại . Chỉ có một nhóm nhỏ chạy vào rừng núi miền Trung theo người Thượng là lục tục trở về Bình thuận , Ninh thuận và sống tới ngày nay .
Chúng tôi vào Tháp làm lễ . Thày Chàm ngồi bệt tại cửa tháp , im lặng với ánh mắt đượm buồn. Thày Chàm kể cho tôi nghe một truyền thuyết mà Thày nghe kể lại : 
“Bấy giờ Vua Chăm (người chép chuyện không nói là Vua gì, và ở đời nào) có một người con gái tên là Mứ-gouth. Trong xứ Vua có một người con trai tên là Kakây, con của một người giàu kêu là Mú-sô-Palây. Kakây thấy Mứ-gouth thì ưng lắm mà không dám đi nói, vì mình là con dân mà nàng là con Vua. Song Kakây không nhịn được, bèn tìm cách mà bỏ ngải cho Mứ-gouth. Mứ-gouth bị ngải, cách năm sáu ngày thì trốn ra khỏi cung Vua mà theo Kakây. Vua biết con gái mình đã phải lòng Kakây, không tài nào gỡ ra cho được, bèn kêu Kakây đến mà gả Mứ-gouth cho.
Khi Kakây lấy được công chúa rồi thì ở lại triều giúp Vua về sự đánh giặc. Nguyên vì Kakây có tài bói, lúc nào có việc trận mạc thì y giở lịch chọn ngày xuất hành cho nên Vua đánh trận nào đều thắng trận nấy.
Vì thấy Kakây có tài như vậy, Vua sợ dễ y rồi sẽ cướp ngôi mình đi, nên có ý muốn giết Kakây. Kakây biết ý Vua thì than thở riêng với vợ mình. Công chúa đem lời tâu cùng Vua, thì Vua lại chối rằng không có bụng ấy. Vua thề trước mặt bá quan rằng nếu mình có ý giết Kakây thì trời sẽ làm cho mình mất ngôi đi.
Thế nhưng về sau Vua quả lập thế mà giết Kakây thật. Một hôm, Vua nhóm các quan tại sân chầu, rồi giàn năm con voi ra, bảo Kakây nhảy lên lưng voi cỡi cho Vua xem. Kakây vâng lời thì Vua ra khẩu hiệu cho voi rằng Mà inh tron pók, tức thì năm con voi xúm lại mà xé Kakây chết tươi.
Sau khi Kakây chết, Vua đi cưới Lê công chúa, là con gái của vua An Nam. Lê công chúa xinh đẹp lắm, Vua say mê vì nàng, không lo đến việc quốc chánh và binh cơ nữa. Vua ỷ rằng trong nước duy Kakây có tài, nay chết rồi, đã hết lo ; còn mặt ngoài thì Vua đã cưới con gái Vua An Nam, hai nước đã thông hôn với nhau thì cũng như một nước, từ rày sẽ hưởng cuộc hòa bình, không còn lo gì giặc giã nữa. Các quan tại triều cũng có đồng một ý kiến như Vua vậy.
Trước cung Vua, có một cây trai lớn và linh lắm, người ta nói rằng Vua Chăm cường thạnh là nhờ thần của cây trai đó. Lê công chúa bèn giả đò đau, mời năm thầy mười bà đến bói, bà đều biểu nói rằng tại cây trai đó có ma, nên bắt bà phải đau. Bà bèn xin Vua phải sức đốn cây trai ấy đi. Vua nghe lời, sai lính đốn cây trai. Lính giơ búa lên thì búa dính trên vai, không hạ xuống được. Vua nổi giận, tự cầm búa mà đốn lấy, vừa chặt ba búa thì cây trai ngả xuống và chảy máu ra như suối. Lê công chúa liền lành bịnh.
Lê công chúa gởi thơ cho cha mình là Vua An Nam, nói rằng cây trai ấy đã hạ rồi, thì Vua An Nam kéo binh vào đánh Vua Chàm. Vua Chàm sai rã cây trai ấy làm ván đóng thuyền để đi đánh giặc. Lạ cho cái thuyền ấy, không chèo không buồm mà cứ việc đi, vả lại đi theo ý Vua muốn, Vua chỉ đi đâu thì thuyền đi đó. Mấy trận đầu Vua An Nam phải thua luôn.
Về sau, Vua An Nam sai lính đến đóng cọc trong biển đó. Đến chừng đánh một trận nữa, thuyền Vua Chàm mắc lấy cọc không tới lui được, Vua giận, lấy búa bửa thuyền, thuyền chìm, Vua thoát thân lên bờ, khi lên bờ rồi, Vua còn đánh với quân An Nam mấy trận nữa, mà đều bị thua luôn, quan quân chạy một đường, còn Vua chạy một đường.
Vua Chăm chạy, mà Vua An Nam cứ đuổi theo. Sau, cùng đường, Vua Chăm sa xuống giếng, tức thì có những con nhện giăng tơ lấp đầy miệng giếng. Vua An Nam kéo binh đến đó, thấy không có đường chạy nữa, mà sai lính tìm khắp cũng không ra dấu tích Vua Chăm, toan rút quân về. Thình lình nghe con thằn lằn kêu tắc tắc trên miệng giếng, Vua An Nam sai lính kiếm một lần nữa cũng không thấy. Tính việc bỏ đi, lại nghe thằn lằn kêu tắc tắc, Vua bèn lấy gươm khều váng nhện trên miệng giếng thì thấy Vua Chăm hiện ra. Vua An Nam bèn sai chặt đầu Vua Chăm đem theo mình, còn cái thân thì bỏ lại đó. Vì sự tích đó, cho đến bây giờ, người Chăm vẫn coi con nhện là ơn và coi con thằn lằn là thù.
Khi vua Chăm bị chém, cái đầu lìa khỏi cái thân, thì cái đầu có dặn với cái thân rằng: hãy đợi đó bảy ngày thì đầu sẽ trở lại hiệp với thân. Mới được ba ngày, song cái thân ngỡ là bảy ngày, sao cái đầu không thấy trở lại, hoặc giả đi lạc rồi sao, bèn đứng dậy đi tìm cái đầu. Đi được một đỗi, gặp một lũ chăn trâu lêu lêu mà nói : coi bay cái người không đầu đi đâu đó kìa! Cái thân liền ngã xuống tại đó. Tới bảy ngày, cái đầu quả trở lại chỗ cũ, tìm cái thân không gặp, cũng rơi xuống nằm đó luôn.
Lúc đó, Vua An Nam bắt voi của Vua Chăm nhiều lắm, và vào cung Vua khuân cả vàng bạc chở về ngoài Bắc. Còn dân Chàm thì bị giết, lớp thì chạy lớp tan lạc hết.
Con trai của Vua Chăm là Bô Chơn và Bô Ti-cây thì chạy vào ở Tây Ninh, bấy giờ kêu là Rồn-đuôm-rây, xóm ở, kêu là Paóch-ruồm.
Bô Ti-cây có vợ tên là Nayposoth lịch sự lắm, nghe thấu tai Vua Xiêm La. Sau khi ở Tây Ninh được ba bốn năm, Vua Xiêm kéo binh đến đánh để bắt lấy nàng Nayposoth. Hai vợ chồng Bô Ti-cây cứ chạy chỗ nầy chỗ kia mà trốn. Vua Xiêm bắt không được cũng kéo quân về. Sau lại, nhân trong lúc Bô Ti-cây đi vắng, Nayposoth ở nhà mở hội cúng tế đương đờn hát vui chơi, thình lình Vua Xiêm kéo quân đến vây bắt nàng, chở lên voi đi qua sông Tầm-long, bây giờ kêu là Kampong Chamalông. Bô Ti-cây trở về thấy cơ sự như vậy, liền theo kịp lội qua sông, chém voi ngựa quân lính Xiêm chết nhiều lắm. Còn chừng bảy con voi nữa thì tới voi của Nayposoth cỡi, mà Bô Ti-cây đã mệt mỏi quá thể rồi, nàng thấy chồng mình như vậy, lấy làm tội nghiệp bèn bẻ nút áo vàng của mình đưa cho vua Xiêm bắn chết Bô Ti-cây. Vua Xiêm bèn đem Nayposoth về bên Xiêm.
Cái trận mà quân Xiêm qua bắt Nayposoth đó thì dân Chăm tổn hại nhiều lắm. Những con nít chạy qua cầu bị người lớn lấn té xuống sông chết không biết bao nhiêu, song quân Xiêm không hề giết ai.
Hòn núi ở Tây Ninh mà bây giờ kêu là núi Chơn Bà Đen cũng gốc từ trận ấy: Vì trong trận ấy, quân Xiêm thường nói với nhau rằng: "Phum chờn mê đen", nghĩa là: Xiêm theo kịp bắt được Nayposoth gần chơn núi.” ( putrachampa.blogspot.com).
Đêm đó , chúng tôi ngủ nhờ ở nhà một người bạn thày Chàm ở gần cửa số 2 chợ Long Hoa. Chợ Long Hoa có nhà lồng hình chữ thập trên một lô đất hình vuông, chung quanh có 8 cửa, hướng ra tám con đường, với ý nghĩa là: Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, biến Bát Quái. Từ trên phi cơ nhìn xuống khu chợ Long Hoa, chúng ta sẽ thấy giống như một cái Bát Quái Đồ. Theo tư tưởng của đạo Cao Đài thì các chơn hồn trước khi về cõi Thần tiên phải chung qua Lầu Bát Quái để trừ đi những oan trái và trược khí và dự Đại hội Long Hoa để xét xem công đức mà phong phẩm Thần tiên.Do số tín đồ Cao Đài từ khắp các tỉnh đổ dồn về vùng Thánh Địa Cao Đài lập nghiệp càng ngày càng đông, nên ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thìn (dl 28 tháng 12 năm 1952) Hộ pháp Phạm Công Tắc cho khởi công xây dựng chợ Long Hoa theo vị trí và bản vẽ của ông để tín đồ Cao Đài có nơi buôn bán làm ăn. Ý nghĩa danh từ Long Hoa là chỉ thời kỳ khai mở Hội Long Hoa, do Đức Di Lặc Vương làm Chủ khảo, là kỳ thi phán xét cuối cùng trong Kỳ Hạ Ngươn để tuyển phong Phật vị.  Các cửa chính chợ Long Hoa Tây Ninh gồm: Cửa Một phía Bắc chạy về hướng Tòa Thánh, cửa Ba phía Tây chạy về hướng chùa Gò Kén – sông Tây Ninh, cửa Năm phía Nam chạy về vùng Giang Tân hướng về Sài Gòn, cửa Bảy phía Đông chạy về Trí Huệ Cung. Tám cửa mang ý nghĩa Bát Quái Đồ Thiên.
 Lúc đi qua lầu Bát quái gần cửa số 2 Tòa Thánh , tôi thấy thày Chàm tự nhiên ứa nước mắt , ông cố giấu mà không nổi. Hình ảnh vùng đất đầy đau thương này có lẽ còn theo ông đi đến những ngày cuối đời . Tội bỗng nhớ đến câu thơ của Chế Lan Viên :
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ 
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? 
Khi ta ở, chi là nơi đất ở 
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
Đêm hôm đó, sau khi cơm nước xong , hai thày trò giăng hai cánh võng ở ngoài hiên nhà nằm tâm sự . Thày Chàm kể cho tôi nghe về xuất xứ của môn Võ Thần Thất sơn Thần quyền mà tôi sắp học .
Theo như Thày Chàm cho biết về nguồn gốc của võ phái này : Từ thuở mở đất tiến về phương Nam, do chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và cướp phỉ, người Việt nơi đây đã sáng lập nhiều môn phái võ mang tính chiến đấu cao như Tân Khánh Bà Trà, Gò Công, Thất Sơn võ đạo….
Do ảnh hưởng phong trào kháng Pháp, nhiều chí sỹ khóc hận nước mất nhà tan đã lánh vào rừng sâu núi thẳm rèn binh chờ cơ hội cứu nước nên khắp miền Nam thuở trước, vùng nào cũng có một hệ phái ra đời. Ở vùng Thất Sơn đã có hàng chục hệ phái xuất hiện.
Năm 1859, Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam kỳ Lục tỉnh (Nam bộ). Một giai đoạn bi thảm bắt đầu trên vùng đất mới khẩn hoang chưa lâu lắm. Triều đình nhà Nguyễn bất lực trước sự xâm lăng ngang ngược của thực dân Pháp đã lên tục nhượng bộ cắt đất, bất lực ngồi nhìn súng đạn thực dân thôn tính miền Nam, sau đó thôn tính và đặt ách đô hộ lên toàn nước Việt. Nhiều bậc trung quân ái quốc tức giận kháng mệnh triều đình. Nhiều chí sỹ tựu quân kháng chiến cứu nước.
Vùng Bảy Núi, tức Thất Sơn (hiện nay thuộc tỉnh An Giang) trở thành căn cứ địa của các lực lượng nghĩa quân Nam Bộ. Thật ra, Thất Sơn có đến 10 ngọn núi nhưng thời vua Tự Đức chỉ đặt tên cho 7 ngọn tượng trưng cho 7 linh huyệt gồm: Anh Vũ Sơn (Núi Két), Thiên Cẩm Sơn (Núi Cấm), Ngũ Hồ Sơn (Núi Dài), Liên Hoa Sơn (Núi Tượng), Thủy Đài Sơn (Núi Nước), Ngoạ Long Sơn (Núi Dài Văn Liên), Phụng Hoàng Sơn (Núi Tô). Theo cụ Hồ Biểu Chánh qua tác phẩm Thất sơn huyền bí  thì Thất sơn là các núi : Trà sư, núi Két ,núi Dài ,núi Tượng , núi Bà đội om , núi Tô và núi Cấm . Còn theo Đại nam nhất thống chí thì Thất sơn bao gồm : Núi Tượng , núi Tô , núi Ốc Nhâm , núi Nam Vi , núi Châm Biệt , núi Nhân Hòa.
Nhìn tổng quát thì các núi ở miền này bắt đầu từ núi Sam ăn mãi đến tận núi Vọng Thê , núi Sập và các hòn ở tận Hà Tiên . Nhưng về sự mật thiết của địa lý từng vùng thì Thất sơn chỉ bao gồm các núi nằm trọn vẹn trong hai quận Tri Tôn và Tịnh biên . Theo các cụ ngày xưa nói lại : vùng Thất sơn nằm trong gianh giới : “ Tiền tam giang – Hậu thất lĩnh. Vậy mới có câu :
“ Trước ba sông thêm rạng chí tang bồng ,
Sau bảy núi chẳng nao lòng anh kiệt “
Do địa điểm hiểm trở, dãy nối dãy, ngọn liền ngọn, rừng rậm hoang vu nên vùng núi này có nhiều loại thực vật, động vật cực kỳ bí hiểm. Cọp beo, rắn rết cùng những loại cây ăn thịt (dân gian gọi là ngải) đã khiến nhiều người bỏ mạng mất xác khi cố tình thâm nhập. Trước sức mạnh vũ khí hiện đại của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân chỉ có binh khí thô sơ và lòng quả cảm. Những người chỉ huy phải sử dụng đến “vũ khí tâm linh”. Võ phái Thất Sơn thần quyền ra đời từ đó. Để giữ bí mật nơi trú ẩn, nghĩa sỹ kháng chiến đã lợi dụng sự kỳ bí của tự nhiên, lợi dụng địa thế hoang vu hiểm trở của rừng rậm, núi cao thêu dệt nên những câu chuyện linh thiêng nhằm để tiếp thêm sức mạnh cho binh sỹ và uy hiếp kẻ thù. Tiêu biểu nhất trong các Đạo giáo ra đời trong thời kỳ này là Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật thày Tây An – Đoàn Minh Huyên. 
“Đoàn Minh Huyên (14 tháng 11 năm 1807 - 10 tháng 9 năm 1856), còn có tên là Đoàn Văn Huyên, đạo hiệu: Giác Linh, được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An. Ngoài vai trò là người sáng lập giáo phái (Bửu Sơn Kỳ Hương) bản địa đầu tiên ở An Giang , ông còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ (Việt Nam).
Đoàn Minh Huyên là người ở vùng Cái Tàu Thượng, thuộc làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang; đến thời Pháp thuộc đổi thành làng Tòng Sơn và sau đó là làng Mỹ An Hưng thuộc tổng An Thạnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
Năm 1849, ở Nam Kỳ, xảy ra vụ mất mùa và đại dịch (kéo dài đến 1850), đã làm nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, khổ đau và chết chóc. Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Trà Bư (nay thuộc ấp An Thái, xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), rồi đến vùng Kiến Thạnh (xưa thuộc làng Long Kiến; nay thuộc xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), cư ngụ ở Cốc ông đạo Kiến, trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ nghe theo những điều dạy khuyên của ông.
Thấy người tin theo ngày một đông, nên ngay năm ấy (1849), ông đã sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, với tôn chỉ và phương pháp hành đạo rất đơn giản.
Nghe ông chữa bệnh bằng nước cúng (nước lã), bông cúng,...đồng thời rao giảng đạo, quan tỉnh An Giang nghi ngờ ông là gian đạo sĩ, hoạt động chính trị nên bắt giam, nhưng xét không có bằng chứng phải thả tự do cho ông. Song ông buộc phải quy y theo đạo Phật (phái Lâm Tế) và tu tại chùa Tây An, dưới chân núi Sam (Châu Đốc). Từ đó, ông được người dân tin tưởng gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An.
Mặc dù bị chỉ định cư trú, song ông vẫn thường đi lại khắp miền sông Hậu, phổ biến giáo lý Tứ Ân, đồng thời vận động dân nghèo khai hoang, dần hình thành 4 trung tâm dinh điền lớn, đó là Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp), Thới Sơn (Tịnh Biên), Láng Linh và Cái Dầu (đều thuộc Châu Phú)...
Phật Thầy Tây An viên tịch ngày 10 tháng 9 năm 1856, lúc 49 tuổi. Hiện mộ ông ở phía sau chùa Tây An (Châu Đốc), không đắp nấm theo lời căn dặn của ông. Ông có nhiều đệ tử giỏi, như Đức Cố Quản (Trần Văn Thành), Tăng Chủ (Bùi Đình Thân), Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), Đạo Lập (Phạm Thái Chung), Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng),v.v...
Theo truyền thuyết của giáo phái này, thì Bửu Sơn (núi báu) là Thất Sơn, mà linh thiêng nhất là núi Cấm. Kỳ hương tức là mùi hương lạ. Hội Long Hoa sau thời Mạt pháp sẽ được Phật Di-lặc thành lập ở đó để đón nhận những ai biết tu hiền.
Trước thực trạng nghèo đói và bệnh tật triền miên, nghe nói hội Long Hoa giống như cõi Tiên tại thế, mà việc hành đạo lại rất dễ, nên người tin theo ngày càng đông.
Người đến quy y sẽ được Đoàn Minh Huyên cấp cho một tấm "lòng phái" (mảnh giấy màu vàng có ghi bốn chữ "Bửu Sơn kỳ Hương" màu son), được truyền dạy giáo lý "học Phật- tu Nhân", tức là noi theo giáo lý Đức Phật mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết "Tứ ân (ơn)", đó là: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo và Ân đồng bào nhân loại.
Về việc hành đạo, tuy lấy đạo Phật làm gốc, nhưng tín đồ đạo này không cần thờ tượng Phật (trên ngôi thờ Tam bảo chỉ cần thờ tấm trần điều màu đỏ), không cần phải ly gia cắt ái, không cần ăn chay, cạo râu tóc, gõ mõ tụng kinh,...và không cần phải dâng cúng những lễ vật tốn kém (bông hoa, nước lã là đủ). Trong những lời sấm truyền của Phật Thầy để lại cho đệ tử có câu: 
Chừng nào gốc mộc nên chồi ,
Ta vưng sắc lệnh tái hồi trần gian.
 Hay câu: 
Nay già đã hết già hóa trẻ,
 Nên giữa đông bổng lại có sông .
Và một đều Phật Thầy Tây An có ba ngấn cổ sau này Đức Huỳnh Phú Sổ ra đời cũng có ba ngấn cổ và Ngài viết ra quyển 2 sấm giảng nhắc lại bút tích Phật Thầy nên hầu hết tín đồ Bửu Sơn Kỳ hương hay Phật giáo Hòa Hảo đều nhìn nhận.
Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Sơn Nam cho rằng đây là lối tu theo thuyết "vô vi", tức là không chú trọng đến hình thức, không dụng tâm bày đặt ra cái này cái khác .
Sau này, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng sâu sắc các yếu lý trên . Tại nơi trại ruộng làng Thới Sơn Phật Thầy có truyền lại một bài sấm ngữ:
Bửu Ngọc Quân Minh Thiên Việt Nguyên
Sơn Trung Sư Mạng Địa Nam Tiền
Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc
Hương Xuất Trình Sanh Tạo Nghiệp Yên.
Bửu Sơn Kỳ Hương
Ngọc Trung Niên Xuất
Quân Sư Trạng Trình
Minh Mạng Tái Sanh
Thiên Địa Tân Tạo
Việt Nam Phục Nghiệp
Nguyên Tiền Quốc Yên.
Phật Thầy Tây An là một nhà yêu nước ẩn dưới chiếc áo nhà tu. Ông vừa trị bệnh cứu người, vừa quy tụ nông dân nghèo khai hoang, vừa phổ biến "Tứ ân", mà trong đó "Ân đất nước" rất được chú trọng. Điểm đáng lưu ý nữa, đó là những "trại ruộng" mà ông lập ra chỉ là hình thức, thực chất đấy là căn cứ tập hợp nông dân chống lại chính sách cai trị hà khắc của nhà Nguyễn. Sau này, khi thực dân Pháp đến xâm lược, thì những nơi ấy trở thành những căn cứ chống ngoại xâm, nhiều tín đồ của ông trở thành nghĩa quân (để đền ơn đất nước), mà cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 -1873) do Trần Văn Thành (đại đệ tử của Phật Thầy Tây An) phát động, là một minh chứng .” (https://vi.wikipedia.org).
Phật Thầy Tây An lập ra 4 trung tâm dinh điền lớn, đó là Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp), Thới Sơn (Tịnh Biên), Láng Linh và Cái Dầu (đều thuộc Châu Phú)...Mỗi trung tâm là do một đại đệ tử phụ trách, hình thành những trại ruộng , quy tập nông dân khai hoang làm ruộng , hướng dẫn các tín đồ tu học và tập luyện võ thuật .
Tại Trà Bông , Cần Lố, Rạch Ông Bường ( Đồng Tháp mười ) được giao cho ông Đạo Ngoạn .
Ở Cái Dầu do ông Đạo Xuyến phụ trách .
Ở núi Két do ông Đình Tây phụ trách .
Ở Láng Linh do quản cơ Trần Văn Thành phụ trách .
Phật Thầy Tây An qua đời vào năm 1856. Mộ của Ông hiện còn tại chân núi Sam ( Châu Đốc )và tại Tòng Sơn ( nay là xã Mỹ An Hưng A, Huyện Lấp Vồ - Đồng Tháp ) , nơi phát tích Đạo Bửu Sơn Kỳ hương , nhân dân đã xây đền thờ tưởng niệm Ông .Trại ruộng Bửu Hương Các ở Láng Linh trở thành căn cứ chống Pháp : Láng Linh – Bảy Thưa do Trần Văn Thành , một đại đệ tử của Phật Thầy Tây An lãnh đạo .
Xin theo dõi tiếp bài 24. dienbatn.

MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *