CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 31.

11/10/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 30.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. 
PHẦN 3 : NHỮNG CUỘC LỮ HÀNH.( Tiếp ).

1.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI .
Theo sử sách còn truyền lại,từ khi Phục Hy lập ra Bát quái định Thiên đồ,xa thì trông Thiên văn,đại Địa,gần thì trông ở người,vật,toàn đồ Vũ trụ quan bao gồm Thiên -Địa -Nhân.
THIÊN :Tinh ba là Nhật -Nguyệt -Tinh.
ĐỊA :Tinh ba là Thủy -Phong -Hỏa.
NHÂN :Tinh ba là Tinh -Khí -Thần.
Tất cả các thành phần trên gọi chung là Đại đạo,mỗi thành phần đều sống động.
THIÊN ĐẠO :Là sự vận hành các phần tử Thiên hà,Thiên hệ,Tinh tú châu lưu an toàn trong khoảng không theo một trật tự nhất định.
ĐỊA ĐẠO :Thủy -Hỏa-Phong châu lưu khắp nơi nhằm sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật.
NHÂN ĐẠO :Là cái đức lớn của Thiên -Địa,Tinh khí tươi nhuận thì Thần mới minh.
Vũ trụ toàn đồ luôn sống động,nếu ngưng ,nghỉ tức là hoại ,là diệt.
Một Cảnh giới hài hòa tạo được sự an lạc,hạnh phúc cho mọi người tức là cả ba thành phần phải tốt tương ứng thể hiện đủ đức tính của Đại đạo.Vì thế ,các bậc Tiền nhân luôn có ước muốn tạo cho mình và cộng đồng một Cảnh giới Chân -Thiện -Mỹ,họ chiêm nghiệm ,học hỏi từ Thiên nhiên địa vật,tạo nên nền tảng Kiến trúc .Nhân giới luôn hài hòa với Tam tài (Thiên văn,Địa thế,Nhân sinh ),nên gọi là thuật Phong thủy.Phong thủy cũng dựa vào trên nền tảng Quái đồ,Hà Lạc.
2.NHÂN THỂ LÀ MỘT TIỂU VŨ TRỤ.
Trước khi Tầm Long,trích Huyệt thì Phong thủy sư phải học hỏi để hiểu biết nhân thân là một TIỂU VŨ TRỤ.Trong thân thể con người có 365 đại huyệt và gần 1.000 huyệt nhỏ khác,cũng có Khí,có Thủy,có Hỏa,kinh lạc như Đại Vũ trụ bên ngoài.Phải biết kết nối các mạch cùng vận hành thuận hòa trong bản thể,tức là phần tu luyện Pháp Đạo,Đạo Thuật để đạt được đức Nhân.Có Đức Nhân rồi mới tìm hiểu biết về Đại Vũ trụ,tầm Long,tróc mạch những nơi "Tàng Phong tụ Thủy ",là những nơi có Huyền lực của Thiên Địa làm ảnh hưởng thăng hoa vật chất và nhân thể.
Điểm Huyệt trên Nhân thì ảnh hưởng đến tính mạng,còn điểm Huyệt trên đất,nước,âm,dương trạch thì ảnh hưởng đến dòng tộc ,con cháu nhiều đời.Do vậy,các Phong thủy sư phải rèn luyện Đạo thuật,nhằm khai mở Tâm năng,khiếu Cảm xạ,Thấu thị là chính yếu,còn tri thức kinh nghiệm của các bậc Tiền nhân là căn bản cho sự nhận định và luận chứng Huyệt mạch Phong thủy mà thôi,chứ việc Tầm Long ,trích Huyệt rất phức tạp và đa dạng.
Tâm năng của con người gần như bất tận nếu biết rèn luyện,khai thác đúng mức những khả năng để khám phá Đại Vũ trụ như:
-Cảm xạ các giao động mạch Khí.Tìm nguồn nước.
-Thần giao cách cảm.Tương tác giữa người này và người kia.
-Sử dụng tâm năng Tiên đoán,thấu thị.
-Hóa giải theo ý muốn.
Biết được Thiên vận,Địa thế,Nhân cơ,các nguồn thông tin,dữ liệu từ Vũ trụ.
-Sử dụng Tâm năng trong Y học trị liệu,giải phẫu...
-Trị liệu bằng Trường Sinh học.
Ngày xưa ở Trung quốc,Việt nam và các nước Chấu Á đều có Kỹ thuật xây dựng,kiến trúc theo Phong thủy căn cứ vào 4 yếu tố :HÌNH -LÝ-KHÍ- SỐ.
1/KHÍ :là Năng lượng Vũ trụ hàm tàng trong Vũ trụ,vật thể,Đất,Nước,con người..
2/LÝ :Là quy luật vận động,vận chuyển ,tạo tác của Khí Thủy -Phong -Hỏa.Gồm ba nguyên tắc :
a/Trời chưởng quản Địa,Nhân.
b/Trời,Đất đều tác động đến Vật chất và con người,nên phải biết vận dụng ảnh hưởng này nhằm tạo yên vui cho cuộc sống.
c/Vận mạng ,hạnh phúc của người sống tùy thuộc ảnh hưởng của người chết,tức là Âm trạch.Do vậy người xưa có câu :"Người sống thì xem cái nhà ,người chết thì xem cái mồ ".
3/SỐ :Là những tượng số của Dịch lý(Nghi,Tượng,Quái,Hào).
4/HÌNH :Là hình thể vùng đất,dòng nước,cấu trúc các công trình xây dựng có ảnh hưởng tốt đến mạch khí.
Ngoài 5 thành tố Kim-Mộc-Thủy -Hỏa-Thổ sinh và khắc chế ngự lẫn nhau.Yếu tố được xem là thuận lợi khi nào năng lực của Vũ trụ hòa hợp cùng năng lực của Đất hay còn gọi là sóng điện từ.Chính hai lực này chi phối,ảnh hưởng đến hoạt động của Trường Sinh học con người,nếu hai lực này tương phản thì đem lại kết quả xấu cho con người trong cuộc đất này hay Dương trạch họ đang ở,hoặc Âm trạch táng tử thi.Nếu hai lực kết hợp tốt thì Vận mạng của con người sẽ tốt,sức khỏe dồi dào,kinh tế phát triển lên mãi.
Do vậy,Phong thủy là một bộ môn học thuật dựa trên Minh triết của Âm -Dương-Ngũ hành -Bát quái,là một Huyền môn Khoa học cổ xưa đã có quá trình trải nghiệm trên 5.000 năm.Phong thủy không mê tín mà là một học thuật tối cổ căn cứ vào HÌNH -LÝ-KHÍ-SỐ mà luận đoán theo một quy luật nhất định.
3.PHONG THỦY.
Phong : Là Gió.
Thủy :Là nước.
Hỏa :Là Lửa.
Là tinh túy của Đất,sự lưu chuyển của ba thành phần này nhờ vào Khí.Địa vận có sự dịch chuyển để sinh hóa thì Thiên vận tùy theo nó.Thiên vận có sự biến đổi thì Địa khí tương ứng với nó.Thiên khí vận động ở trên thì Nhân khí tương ứng với nó;Nhân vận động ở dưới thì ở trên Thiên khí sẽ ứng theo.Như vậy chúng ta thấy rằng Tam tài THIÊN ĐỊA NHÂN đều có liên quan lẫn nhau.Hoàng Thạch Công nói :Một Âm,một Dương là Đạo (Nhất âm nhất dương chi vi Đạo ).Một tĩnh ,một động là Khí,một Vãng một Lai là Vận.Hà đồ -Lạc thư hợp thành số lẻ;"Cơ "là Tịnh Dương hay thuần Dương,số chẵn là Ngẫu thì Tịnh Âm hay Thuần âm.
Sách "CHÍNH QUYẾT CHƯƠNG HÌNH KHÍ "của Tiên sinh Tử Linh Thành viết :"Vào thời Phục Hy,Thần nông,Hoàng đế;sông Hoàng hà dịch chuyển từ Long môn đến Lã Lương Sơn,Từ Lã Lương Sơn hướng về Thái hành sơn chảy qua Kiệt Thạch sơn vào biển lớn.Sông Hoàng hà chẩy từ phương Tây chẩy qua phương Nam,rồi từ Nam chuyển hướng lên Đông bắc,Dự châu đóng ở giữa.Hoàng hà chính là dải đai các núi Nhũ nhạc triều bái,thì nơi đây chính là Phong thủy Bảo địa.Cũng là nơi xuất hiện ra các bậc Thánh nhân như vua Ngiêu,Thuấn,Khổng tử.Phía Bắc Hoàng hà ,còn phương Nam là Trường giang,Thái sơn (Tỉnh An huy ) kẹp giữa ;như vậy Thái sơn chính là Can Long từ dải Hoa sơn trở xuống (Vùng đất này ngày xưa là của Việt tộc ).Nhưng rồi Thiên vận hướng Can Long xuôi theo về hướng cực Nam để rồi kết thành một vùng Bảo địa hay Linh địa.Có Linh Tú khí.Quách Đại Quân viết rằng :"Ta xem núi non ở Giao châu phần lớn Long mạch đều xuất phát từ Quý châu,mà Quý châu là phần dư thừa các con sông từ đất Ba Thục;Long mạch chảy qua cuồn cuộn không dừng thẳng đến đất Giao châu,nên nước ấy có Can Long kết thành Linh bảo địa".
Nền Phong thủy của Việt nam chúng ta dựa trên học thuật của Tổ tiên,ông cha truyền khẩu,bao nhiêu sách vở từ xưa đã bị tiêu hủy trong thời chiến tranh bị đô hộ Bắc thuộc.
4.TÍCH ĐỨC HÀNH THIỆN LẬP ÂM CHẤT.
Sách có câu :"Tiên tu nhân lập âm chất,nhi hậu tầm Long ".
Người người đều muốn có được một Địa trạch tốt tươi,nhằm thăng hoa cuộc sống vật chất đầy đủ,công danh hiển hách,vợ đẹp con ngoan,Gia đình hạnh phúc.Sách THÔI QUAN THIÊN viết :"Trong nhà có người đức hạnh cao thượng thì đất đá trên núi gần đó nhất định có Linh khí ".Qua câu nói trên tức là con người làm chủ Linh khí vạn vật do phần Tâm khícủa chính mình.Các Phong Thủy Sư không hiểu điều này thì dủ có Trích Huyệt Tầm Long được Bảo địa cũng chẳng linh nghiệm.
Những việc Tầm Long Địa Huyệt còn phải hội thêm phần cảm ứng tức là Thiên Đạo (Đạo Trời );sự ứng nghiệm của việc hành thiện lập âm chất,tạo nhân quả tốt.Tục ngữ có câu :"Âm địa tốt không bằng Tâm địa tốt ".Do vậy,tìm kiếm chọn lọc được Địa mạch Huyệt vị,Phong Thủy Sư phải tích đức hành thiện làm căn bản.Nếu kẻ nào có phẩm chất cao thượng,thì ắt Thiên cơ sẽ ứng,Địa cơ theo đó mà tăng thêm sự tốt lành cho con cháu đời sau hưởng Phúc.Bởi Tâm địa thiện lương thì tương ứng với Địa mạch cát lợi ,vận Trời ứng cho,chứ chẳng phải chủ quan tâm về hình thức mà quên đi nội dung,cứ tưởng rằng tầm được Long huyệt rồi,con cháu đời sau sẽ được hưởng Phúc,cái gốc chúng ta chẳng lo mà lại đi lo cái ngọn,rõ là ta chẳng biết gì cả.Nếu như các Phong Thủy Sư họ tài giỏi như thế thì ắt họ phải giành những huyệt Đế vương,Công Hầu,Khanh tướng cho con cháu họ,chứ dại gì mà họ chỉ cho ai ?
Ví như Phong Thủy Sư Cao Biền thời Thịnh Đường được Vua cử làm An nam Tiết độ sứ đô hộ nước ta,thấy đất Giao châu kết huyệt Đế Vương rất nhiều nên sai người đắp thành Đại La trên mạch kết của Can Long,sau đó xưng Vương.Cao Biền còn sợ Tú khí Địa linh của nước Việt chúng ta,nên thường cưỡi diều giấy bay khắp nơi yểm Long mạch không cho kết phát ,làm hư hại rất nhiều Long mạch.Nhưng ý người muốn sao bằng Thiên vận (Ý Trời ).Ít lâu sau Cao Biền bị triệu hồi,phải bỏ thành Đại La.Đất Việt là Địa Linh thì tất phải có Nhân kiệt,nối tiếp người xưa đứng lên đánh đuổi ngoại xâm,giành chiến thắng cho dân tộc.
HÌNH -LÝ-KHÍ-SỐ là một nguyên tắc học thuật mà các nhà Nho,Đạo xem đó là căn bản.Do vậy mà họ lấy Tâm làm gốc và đó cũng chính là nội dung của Khí.Khí là hình thức mà cũng chính là sự cảm ứng của Tâm.Trời là Lý mà Lý tự nhiên thì :"Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa..."(Trời chẳng nói gì nhưng sanh hóa hết Vũ trụ),luôn cảm ứng cùng Tâm khí con người.Quách Phác nói :"Cát hung cùng cảm ứng lẫn nhau,họa phúc cũng tự nhiên theo Tâm khí chiêu cảm mà đến ".
Khi táng di hài Tổ tiên,chắc người ta phải chọn Địa huyệt thật tốt mà an táng,song song với việc trên ,người tại tiền phải nỗ lực tu dưỡng thân,tâm cầu lấy gốc rễ của Đạo.Nếu chỉ chú trọng quan sát hình thể Địa huyệt,sẽ cho kết quả trái ngược,làm tổn hại đến con cháu đời sau.
Nếu như có Nhân,tất phải có Quả;nhưng Nhân -Quả thiện ác tùy vào Tâm khi chiêu lấy họa phúc.Cũng như ngày xưa có người chết được Thiên táng hay Địa táng một cách ngẫu nhiên,con cháu sau này phát Đế Vương,Công hầu.Trường hợp như thân Phụ của ông NGUYỄN KIM (Cao tổ của nhà NGUYỄN GIA LONG ),Âm phần phát được 9 đời Chúa và 9 đời Vua...vv.Đó là phần Âm chất đã tích lũy từ nhiều đời nên chiêu tập được Nhân -Quả,được Trời -Đất cho hưởng Phúc,đâu phải tầm Long trích Huyệt mới được.
Triệu Quang viết cuốn :"PHONG THỦY TUYỂN TRẠCH TỰ ",có nói rằng :"Vô phước cho ai không có nhân duyên mà được Huyệt tốt ".Dẫu cái tốt,xấu của Phong thủy Huyệt mộ ảnh hưởng đến cát hung,nhưng Âm đức của con người có thể cải biến được Vận -Mạng.Đến như các bậc Tiền bối Phong thủy như Cao Biền,Quách Phác tài giỏi kinh Thiên động Địa ,nhưng khi gặp Huyệt Đế Vương cũng không dám dành cho mình,bời biết đạt Địa lợi,nhưng Thiên thời và Nhân hội còn khuyết,không dám nghỉ bàn.Tóm lại việc "TIÊN TÍCH ĐỨC,NHI HẬU TẦM LONG " của người xưa dạy quả không sai.
5.PHẦN TẦM LONG -CẮM HUYỆT :
Phong Thủy Sư quan sát Thiên văn,xem tinh tú trên trời.Sao Tử vi ở phương Bắc;Sao Thiên thị ở phương Đông;Sao Thiếu vi ở phương Nam;Sao Thái vi ở phương Tây,nhìn địa đại tìm Huyệt Long mạch trong tám phương.Lấy tứ chánh vị Càn -Khôn -Ly -Khảm làm dương Long,và bốn cung Chấn -Tốn -Đoài -Cấn làm âm Long (Tiên Thiên ).Một ngọn núi nhô lên đơn độc gần một ngôi làng nào đó,thấy cảnh vật xung quanh xinh đẹp,trên núi xuất hiện nhiều kỳ hoa ,dị thảo thì phải biết đó là Long,phải biết phân biệt đầu ,đuôi,Can,Chi,Triền,Giáp,Hộ vệ sơn chạy đến đâu.Đối chiếu xem vì sao nào chủ chiếu cuộc đất này,xem cục thế lớn,nhỏ,tốt xấu.Sau cùng quan sát xem tính tình,ăn ở của dân địa phương nơi đây thì ta mới nhận biết được đó là Chân Long hay giả Long.
Kinh Thư có viết :"Tinh tú trên Trời và Địa thế dưới đất luôn tương hỗ với nhau,Phong thủy Bảo địa tự nhiên sẽ thành...Dương đức sẽ hình thành từ thân thể của ta và Âm đức sẽ hình thành từ vị trí ăn ở cư xử thiện hạnh của ta ".Tóm lại thuật Sư Phong thủy phải tiến hành tính toán,nhìn thấy những điểm then chốt thỉ việc tầm Long mạch ắt phải sáng tỏ.
MINH SƠN BẢO GIÁM chia Long ra làm 12 loại :SINH LONG,PHÚC LONG,ỨNG LONG,ẤP LONG,UỔNG LONG,SÁT LONG,QUỶ LONG,KIẾP LONG,DU LONG,BỆNH LONG,TUYỆT LONG,TỬ LONG.Các tên này nhằm chỉ vào sự tán tụ của chân Khí mà gọi.SINH LONG,PHÚC LONG,ỨNG LONG,ẤP LONG là bốn loại Chân Khí hội tụ,còn tám loại Long kia là tán Chân Khí;hình thể của Long ngắn,gấp khúc ít lần đi lên,xuống hoặc đi lên mà không đi xuống,xuống mà không lên,cho nên nó làm cho mạch Khí thế đi xuống.Còn tụ Chân Khí thì trải dài ,lên xuống theo hình thể nhiều lần.
Tổ tông sơn là nơi xuất phát Long mạch,theo đường hướng mà đi xuống,đoạn ẩn ,doạn hiện hay mọc thêm chân tay nhập thủ đoan chính thì gọi đó là SINH LONG.
Loại có thêm hoành án hai bên như có cánh dơi thì gọi là PHÚC LONG.
Loại Mạch này mà không có Hoành án mà chạy hai bên,ôm vòng trở lại thì gọi là ỨNG LONG.
Long mạch ôm vòng trở lại nhiều lần,khí trùng điệp,hình dáng giao đầu lẫn nhau gọi là ẤP LONG.
Long mạch hình thế hiểm ác,gấp rút,trùng điệp,nhưng không đối xứng chỉnh tề gọi là UỔNG LONG.
Loại này mà trái phải nhô lên cạnh nhọn gọi là SÁT LONG.
Loại phân chi,chia cắt mạch gọi là QUỶ LONG.
Loại chia nhiều tay gọi là KIẾP LONG.
Loại mà Khí lưu ly,tán loạn khắp nơi gọi là DU LONG.
Mạch Khí không lên,xuống,không chuyển động gọi là BỆNH LONG.
Mạch không phát tán hay tụ khí gọi là TỬ LONG.
Mạch nằm riêng biệt không hộ,giáp,triền và không có Khí lực gọi là TUYỆT LONG.
Các Long mạch ứng chuyển thuận khí theo THIÊN -ÐỊA -NHÂN thì tác động cho những âm phần táng trong cuộc đất như :
SINH LONG thì con cháu ðược hưởng Phúc ,Thọ.PHÚC LONG thì con cháu Phú quý.ỨNG LONG thì con cháu giầu có,hiếu thuận.ẤP LONG thì con cháu Lễ ðộ ,nhường nhịn,thuận hòa.
SÁT LONG và KIẾP LONG thì con cháu bị tai họa,chết chóc.QUỶ LONG và BỆNH LONG thì con cháu bị bệnh tật,không an cư,nghèo khổ.DU LONG thì con cháu hoang đàng,dâm loạn.TỬ LONG và TUYỆT LONG thì con cháu bị tử thương,tuyệt tự,không có người nối dõi Tông đường.
12 Long mạch có Linh khí ứng chuyển cát hung cho các âm phần,quan hệ đến người còn tại tiền,nên vì thế khi mai táng cho người chết,không thể không lựa chọn đất cắm Huyệt.
Ngoài ra còn những thế đất của Tứ Linh và có 5 thế núi căn cứ vào hình dáng,tư thế mà chia ra làm 9 RỒNG :
1/XUẤT DƯƠNG LONG.
2/SINH LONG.
3/GIÁNG LONG.
4/PHI LONG.
5/HỒI LONG.
6/NGỌA LONG.
7/ẨN LONG.
8/ÐẰNG LONG.
9/LĨNH QUẦN LONG.
Theo ÐỊA LÝ ÐẠI TOÀN TẬP YẾU :"Phong thủy Ðịa lấy Sinh khí làm chủ,lấy Long Huyệt làm nền tảng,Sa,Thủy làm bổ trợ.Xem Phong thủy chính là quan sát sự thuận ứng nghịch phản của Sơn và Thủy,Khí cứng rắn nhu hòa của Âm Dương,lý Phân ly,hội hợp của tụ và tán. Phong thủy tốt là mạch địa thoạt tiên lên cao,vượt lên,hướng đi của Ðịa mạch hoạt bát như Long,nhấp nhô khộng ngừng, đứt đoạn rồi lại nối liền.Ðịa mạch xuất hiện ở giữa,xung quanh có Sa trướng trùng trùng.Sa trướng của nó có gần có xa,có nghênh có tống,có triền,có hộ vệ.Khi hiệp cốc xuất hiện ,chúng đều thu giữ Ðịa Khí, tựa Phong yêu (Lưng ong ) và Hạc tính (Gối Hạc ) vậy,có nơi tạo ra thế cử đỉnh,có chỗ tạo ra hình Giáp hộ,nơi giao tiếp của Ðịa mạch không bị đứt đoạn,khi Phong suy đi qua hai bên Hiệp cốc ,thì Ðịa mạch lại tựa như hai bên mạn thuyền song song mà ra.Nơi đỉnh và hai bên của Ðịa mạch sáng sủa lại cùng tương ứng với Tinh thần,tựa hồ như sắp có Long có Hổ giáng xuống nơi này.Triều sơn ở xa thì đẹp đẽ,muôn hình vạn trạng.Minh đường rộng rãi bằng phẳng,Thủy khẩu giao kết ,uốn lượn xung quanh,bốn phương tám hướng không có nơi nào bị khuyết hãm.Ðịa Huyệt hạ lạc kết Huyệt ở nơi này,khí Âm Dương phân biệt cùng tiếp,chỗ cao chỗ thấp,lồi lõm rõ ràng, địa hình hai bên như hai cánh tay giang rộng,trên phân ra,dưới hợp lại,Ðịa thế tròn và nhọn cùng đối ứng với Thiên quan Ðịa quỷ.Thủy trong ,Thủy ngoài đều ôm ấp,bao quanh nơi này;Sơn trong Sơn ngoài cùng tụ hội.Nơi được như vậy được xem là đại Phú đại Quý của Phong thủy vậy."
Như vậy chúng ta thấy rằng , việc đầu tiên của một nhà Địa lý - Phong Thủy là phải " cân " được Phúc đức của Gia chủ mà hãy chọn Địa Huyệt cho tương xứng . Nói nôm na là nếu Phúc đức của dòng họ người ta mới như nguồn điện 110 v thì phải đặt vào Địa Huyệt có tầm cỡ 110v , nếu Thày tham hoặc thân chủ tham , chọn Địa Huyệt có năng lượng 220 v , thì lợi thành gia hại , có khi là tuyệt diệt cả dòng họ người ta . Thày thuốc lỡ tay khi mổ bất quá chỉ thiệt hại một mạng người . Thày Địa Lý vì chủ quan hay sơ xuất , thậm chí làm hại cả họ nhà người ta . Do vậy , cả Thày và Gia chủ phải hết sức cẩn thận từng ly từng lý , phải soi cho rõ ngọn nguồn hãy bắt tay vàp Phân Kim , Cắm Huyệt .
6.SƠ LƯỢC VỀ TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI .
Trong các cuộc chiến tranh ngày xưa , người ta rất chú trọng đến việc lập trận . Kể từ những cuộc chiến của thời Tam quốc với những cách Trận đồ Bát quái của Khổng minh Gia cát lượng đến những trận đồ của phương Tây như trong trận OATECLO của NAPOLEON . Như vậy , việc thực hiện Trận pháp là hoàn toàn có thật và đã đạt được những hiệu quả rất cao . Trận pháp là một môn nghiên cứu đỉnh cao của nghệ thuật quân sự hàng ngàn năm nay . Tại Việt nam chúng ta cũng có cuốn sách : Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Hưng Đạo về nghệ thuật quân sự, có lẽ chủ yếu là bày binh bố trận, nhưng đến nay đã bị thất lạc. Ông sưu tập binh pháp các nhà, làm thành bát quái cửu cung đồ, và đặt tên tác phẩm như vậy. Người ta chỉ còn biết được một ít nội dung tác phẩm này, qua lời đề tựa của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư vẫn còn lưu giữ được.
Trong lời tựa của Trần Khánh Dư : " Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết.
Ngày xưa, Cao Dao làm sĩ sư mà không ai dám trái mệnh, đến Vũ Vương, Thành Vương nhà Chu làm tướng cho Văn Vương, Vũ Vương, ngầm lo sửa đức, để lật đổ nhà Thương mà dấy nên vương nghiệp, thế là người giỏi cầm quân thì không cần phải bày trận vậy. Vua Thuấn múa mộc và múa lông trĩ mà họ Hữu Miêu đến chầu, Tôn Vũ nước Ngô đem người đẹp trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở mạnh, phía bắc uy hiếp nước Tấn, nước Tần, nổi tiếng chư hầu, thế là người khéo bày trận không cần phải đánh vậy. Đến Mã Ngập (Sách Tấn thư chép là Mã Long) nước Tấn theo bát trận đồ, đánh vận động hàng ngàn dặm, phá được Thụ Cơ Năng để thu phục Lương Châu. Thế gọi là người đánh giỏi không bao giờ thua vậy.
Cho nên trận nghĩa là "trần", là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, Hoàng Đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế. Gia Cát xếp đá sông làm bát trận đồ, Vệ Công sửa lại làm thành Lục hoa trận. Hoàn Ôn lập ra Xà thế trận có vẽ các thế trận hay, trình bày thứ tự, rõ ràng, trở thành khuôn phép. Nhưng người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm, chưa từng biến đổi. Như Lý Thuyên có soạn những điều suy diễn của mình (sách Thái bạch âm kinh nói về binh pháp), những người đời sau cũng không hiểu ý nghĩa. Cho nên Quốc công ta mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực.
Sách gồm đủ ngũ hành tương ứng, cửu cung suy nhau, phối hợp cương nhu, tuần hoàn chẵn lẻ. Không lẫn lộn âm với dương, thần với sát, phương với lợi, sao lành, hung thần, ác tướng, tam cát, ngũ hung, đều rất rõ ràng, ngang với Tam Đại, trăm đánh trăm thắng. Cho nên, đương thời có thể phía bắc trấn ngự Hung Nô (ám chỉ nhà Nguyên), phía nam uy hiếp Lâm Ấp (Chiêm Thành). "
Trích từ Đại Việt sử ký toàn thư:
" Sau này, con cháu và bồi thần của ta, ai học được bí thuật này phải sáng suốt mà thi hành, bày xếp thế trận; không được ngu dốt mà trao chữ truyền lời. Nếu không thế thì mình chịu tai ương mà vạ lây đến con cháu. Thế gọi là tiết lộ thiên cơ đó. "
Trong cổ thi của Trung quốc có bài BÁT TRẬN ĐỒ của ĐỖ PHỦ ca ngợi Khổng minh như sau :
Bát trận đồ
Công cái tam phân quốc
Danh thành Bát trận đồ
Giang lưu thạch bất chuyển
Di hận thất thôn Ngô
Dịch Nghĩa:
Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba
Nổi danh trận đồ Bát quái
Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển
Để lại hận đă thất kế thôn tính Ngô
Dịch Thơ:
Bát Trận Đồ
Võ công trùm lợp thời Tam Quốc
Danh tiếng làm nên Bát trận đồ
Đá vẫn nằm trơ dòng nước chảy
Hận còn để măi lỡ thôn Ngô
Bản dịch của Trần Trọng San
Tam phân quốc công cao tột bực
Bát trận đồ danh nức muôn đời
Nước trôi đá vẫn không dời
Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời đánh Ngô
Bản dịch của Trần Trọng Kim
Chú thích:
-Bát trận đồ: do Khổng Minh thời Tam quốc dựng thành, ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hăm tại đây, nhưng nhờ được nhạc phụ của Khổng Minh là Hoàng Thừa Nghiện chỉ đường nên ra thoát được
-Tam phân quốc: Khổng Minh chưa ra khỏi nhà đă biết thiên hạ thế chia làm ba, Thục Ngô Ngụy
-Thôn Ngô: Lưu Bị đánh Đông Ngô để trả thù cho Quan Vân Trường, bị thua to về tay Lục Tốn.
Các sách cổ của Trung quốc cũng có rất nhiều tác phẩm viết về cách lập trận như các cuốn : DƯƠNG ĐẨU NGU CƠ , THỦY KINH CHÚ , VŨ LƯỢC CHÍ , QUA KÍP ĐÀN BINH ...
Trong các loại hình thế trận , người ta nghiên cứu phát minh ra nhiều loại trận đồ với nhiều mục đích khác nhau : BÁT QUÁI TRẬN ĐỒ , VIÊN TRẬN ĐỒ , PHƯƠNG TRẬN ĐỒ , TRỰC TRẬN ĐỒ , KHÚC TRẬN ĐỒ , NHUỆ TRẬN ĐỒ TRƯỜNG XÀ TRẬN ĐỒ .....
SỬ DỤNG TẬN ĐỒ BÁT QUÁI :
Người ta có thể dùng TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI vào việc TRẤN YỂM một khu đất hay địa huyệt nào đó với hai mục đích ngược nhau : Làm cho khu vực đó tốt lên hay là triệt phá Long mạch của vùng đất hay Địa Huyệt đó . Đó là hai chiều tương sinh và tương khắc của Ngũ hành - Âm , Dương .
Việc xây dựng một TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI vì mục đích gì đi chăng nữa , người Chủ trận phải hiểu tường tận cách bố trí Trận pháp . Ngoài việc xác định rõ vị trí của Huyệt kết ở đâu , hướng của Long Nhập thủ như thế nào trong 72 Long Thấu Địa , Thiên Môn - Địa hộ ở đâu , Tính chất Âm - Dương ,Ngũ hành của Khí Huyệt như thế nào , người bố trí Trận đồ phải rất giỏi về Ngũ Tử Khí Long ( Phận biệt các loại Khí Hỏa Khanh , Không hư , Bảo Châu ) , phải thành thạo các thuật Toán an Ngũ Thân , Lộc , Mã , Quý , Tứ cát , Tam Kỳ , Bát Môn , an các Thiên Can , Địa Chi lên Bát Quái Đồ Hỗn Thiên . Những thuật này liên quan mật thiết đến Thuật tính Thái Ất , Độn Giáp .
Cũng trong thời gian này , dienbatn có duyên được các huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ và các Huynh Đệ , Tỷ , Muội tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH Phú Nhuận cùng rất nhiều các cao thủ Huyền môn tham dự một cuộc hành hóa khai thông Huyệt Đạo . Xin chia sẻ cùng các bạn.


PHẦN 3 : NHỮNG CUỘC LỮ HÀNH.

( Tưởng nhớ đến công ơn dạy dỗ của Cha nuôi : LÊ VĂN TÌNH – Ông Thày Bảy TÂY NINH đã dìu dắt con những bước đầu vào HUYỀN MÔN ).

Cả 3 người Thày đầu đời của tôi đều có sở học xuất phát từ dãy Tà Lơn bên Kampot . Tuy chung một Thày , nhưng sở trường của 3 người rất khác nhau. Bà Bảy học chuyên về Thư - Ếm – Ngải nghệ;Thày Chàm thì chuyên về Thất sơn Thần quyền. Còn ông Bảy lại chủ yếu đi về Bùa chú Nam Tông . Thày Bảy tính rất điềm đạm, ít nói nhưng đã nói điều gì thường chắc chắn như đinh đóng cột.Riêng đối với một đứa con nuôi như tôi, bề ngoài ông rất lạnh lùng, nghiêm khắc , nhưng tôi biết ông rất thương tôi.Trong nhận thức của riêng mình, nhiều lúc tôi còn thấy ông rất đa cảm nữa là khác.Tính tôi tuổi trẻ, còn nhiều bồng bột , hiếu thắng, lại thêm cái tội muốn biết điều gì thường phải truy đến tận cùng.Chính vì vậy mà trong giao tiếp hàng ngày với các Môn phái khác, tôi hay có thái độ tự phụ, ỉ i là mình có người chống lưng nên nhiều lúc hay gây sự với những anh em của các Môn phái khác.Khi nhận tôi là con nuôi, ông Bảy đổi tên tôi là Lê Văn Hòa, lấy theo họ của ông , với mong muốn tôi sẽ hòa hoãn, kiềm chế sự nóng nảy của mình. Lúc rảnh rỗi, Ông Bảy thường kể cho tôi nghe về những tháng ngày mà ông bà Bảy và Thày Chàm tu tập trên núi Tà Lơn. Ngày xưa ,ông cũng là học trò cưng của Đằng chơn Thánh quân Lê Trung Thừa bên Tà Lơn . Cụ  Đằng chơn Thánh quân Lê Trung Thừa tu tập ở Tà Lơn cùng thời với Sư bà Trúc Lâm Nương. Bà Trúc Lâm Nương, giáo chủ tiên phái Hồng Tâm cũng có thời gian dài tu tập tại Tà Lơn. Trong các thư tịch, kinh sách, lời kể của các  bậc tu hành vùng An Giang cho thấy, Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, Huỳnh Phú Sổ (Đức Huỳnh Giáo chủ), Bổn sư núi Tượng Ngô Tư Lợi, Phật Trùm, Phật sống Cử Đa, Sư vãi bán khoai…. đều có thời gian tu luyện trên đỉnh núi thiêng Tà Lơn.

Núi Tà Lơn ( người Miên gọi là Bokor - tức là con bò ) cách Thị xã Kompot khoảng 10 Km về hướng Tây Nam. Đỉnh cao nhất của Núi Tà Lơn là 1.079m, vào mùa mưa đầy sương mù, cách 5m không nhìn thấy gì. Từ đàng xa chúng ta nhìn thấy núi Bokor giống như hình thể một con voi, chót núi luôn luôn bị mây bao phủ trắng xóa. Núi Bokor được ghép lại bởi ba trái núi, nên đường từ dưới lên đỉnh núi rất xa vì xe phải chạy quanh từ núi này sang núi nọ, hết cả ba núi mới đến nơi.

 Từ Thị xã Kompot có hai con đường đi vòng quanh dãy Tà Lơn : Một rẽ bên phải là đường vào hồ Bokor và lên Chùa 500 vị Phật. Sau đó đi lên Trung Toà, Hàm Long, Cán Dù...

 Đường thứ hai đi theo hướng về Công Pông Chàm, Công Pông Thơm đi khoảng 5 Km rẽ phải vào Núi Năm Thuyền có Chùa Năm Thuyền. Tại đây có pháo đài Bokor, là bộ sưu tập các tòa lâu đài (gồm khách sạn, casino, nhà thờ, cung điện…) được người Pháp xây dựng từ năm 1920.Nơi này , chính phủ Căm Phu chia đang cho xây dựng lại Casino rất lớn .Từ Chùa Năm Thuyền đi tiếp theo đường núi hiểm trở khoảng 32 Km ta có thể đến được khu vực đáng chú ý nhất của dãy núi Tà Lơn - Điện Minh Châu , Điện Bình Thiên, Điện Bàn Ngự, Điện Tứ Giao, Điện Lan Thiên...là nơi các vị Tổ của Huyền Môn , các vị lãnh đạo Đạo giáo ngày trước chọn làm nơi tu luyện.

Trong " Sấm giảng đời người "của Sư Vãi bán khoai có viết :

" Ngày xưa Phật ở nước Tần,

Rồi sau Phật lại đi lần về Nam. "

Câu đó có ý nghĩa về sự chuyển dịch trung tâm Phật giáo từ Tây Tạng sẽ dần chuyển về nước Việt, đồng thời cũng chỉ rõ cho ta biết sự chuyển động và kết tụ của Hymãlạp sơn như thế nào?

 Về kết cấu Địa chất, khu vực Tà Lơn hàng triệu năm trước còn là biển. Qua những kiến tạo địa chất, được dựng lên thành núi cao đến 1079 m. Bằng chứng thấy rõ ràng nhất là bất cứ ai bước chân đến Tà Lơn đều thấy cát ở đây là cát biển trinh nguyên.

 Thời các vị tiền bối đến đây tu tập , Tà Lơn còn vô cùng hoang sơ . Ta có thể hình dung quang cảnh xứ này qua "Bài vè Tà Lơn " trong tác phẩm Thơ Núi Tà Lơn của nhà văn Sơn Nam :

'Tà Lơn xứ rày tạm con ở.

Làm lưới chài ngày tháng náu nương.

Gởi thơ về cho cha mẹ tỏ tường.

Cùng huynh đệ đặng cho hãn ý.

Kể từ thưở bôn trình vạn lý.

Ðến bây giờ hơn bảy tháng dư.

Nghiêng mình nằm nhớ tới mẫu từ.

Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt.

Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt.

Cam phận em ruột thắt từng hổi.

Vận bất tề nên phải nổi trôi.

Thời bất đạt nên con xa xứ.

Xứ lạ lùng con có một mình.

Cơn nguy hiểm lấy ai phò trợ.

Bởi thiếu thốn bao nhiêu đồng nợ,

Nay thân con phải chịu hoành hành.

.............

Việc ăn ở nhiều nỗi đắng cay,

Vái trời phật xin về quê cũ.

Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú,

Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan.

Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn,

Nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc.

Nay con tới nguồn cay nước đục,

Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê,

Giống chằng tinh lai vãng dựa xó hè.

Con gấu ngựa tới lui gần xó vách.

Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc,

Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên.

Trên chót núi, nai đi nối gót,

Cặp giả nhân kêu tiếng rảnh vang.

Ngó sau lưng, con kỳ lân mặt đỏ như vàng,

Nhìn phía trước, ông voi đen huyền như hổ.

Hướng đông bắc, con công như tố hộ.

Cõi tây nam, gà rừng gáy ó o...

Đọc bài thơ đó chúng ta mới hiểu và cảm nhận được hết nghị lực phi thường của tiền nhân chúng ta trong tu tập. Thức ăn chủ yếu của những người tu tập ở đây chỉ là rau rừng và muối, ngoài ra họa hoằn lắm mới có thêm vài ràng bánh tráng, ít nước tương, ít chao và ít đường Thốt nốt. Câu hát Modife “ Đường ,tương chao, đậu hũ, dưa leo/Ai chưa ăn chưa phải Thày chùa “ vẫn là những món ăn xa xỉ lúc bấy giờ. Chính vì vậy mà Thày Bảy nói : các con cúng Tổ của mình chỉ cần ít bông , nhang, trái cây, vài ràng bánh tráng và chai nước tương là đủ.

Ở Tà Lơn có một bông hoa màu vàng từ một chùm dây bò như dây khoai lang, có đuôi phía dưới như đuôi hoa loa kèn, đầu nó giống như đầu dương vật ,thường được gọi là trái nước, bật nắp hoa ra uống nước trong đó và Thày Bảy giải thích thêm cho tôi biết xưa kia Tổ Thầy đi rừng dùng loại nước từ hoa này để giải khát và tăng thêm sức lực, nó là kết tinh của sương và chỉ nên dùng những bông hoa chưa bị bật nắp, cây có tác dụng giải độc gan rất tốt . Như vậy ta thấy rằng : Với sự linh thiêng của Tà Lơn, với sự gian khổ của cuộc đời, với ý chí quyết tâm cao độ, các vị tu tập tại Tà Lơn dễ thành công hơn ở những vùng khác.

Năm 1890, thực dân Pháp truy lùng một số người Việt Nam ẩn cư giữa rừng sâu trên đỉnh núi. Khi đó, họ phát hiện khí hậu vùng hoang sơ này rất lý tưởng cho việc nghỉ mát. Đến năm 1921, sau 9 tháng xây dựng, Pháp biến vùng rừng hoang thành một thị trấn trên núi mang tên tiếng Anh là Bokor Hill gồm: Nhà thờ Thiên Chúa giáo, bưu điện, bệnh viện, khách sạn. Các pháp sư bị nhà cầm quyền cầm tù. Những cái am, những hang động tu luyện của các pháp sư  đều bị bỏ hoang phế. Một số pháp sư chạy sâu vào rừng tìm những hang động vắng tiếp tục tu luyện.

Đến năm 1940, thất trận trước quân đội Nhật hoàng, thực dân Pháp co cụm về Phnôm Pênh, bỏ hoang thị trấn Bokor Hill. Sau năm 1945, khi Campuchia độc lập, nhà vua Shihanuk (cha) đã cho xây một cung điện nghỉ dưỡng ở đây và tái sử dụng các công trình của Pháp. Nhưng đến thời Kh'mer Đỏ diệt chủng, toàn bộ thị trấn nhỏ này bị phá hoang tàn. Khi Campuchia được giải phóng khỏi nạn diệt chủng của Pôn Pốt, người ta đã bỏ quên vùng núi hoang vắng này một thời gian dài. Suốt thời gian đó, chỉ có các pháp sư và tín đồ của họ thỉnh thoảng đi lên núi theo những con đường mòn hiểm trở để cúng bái và truyền phép thuật.

Bất ngờ năm 2001, đạo diễn Hollywood Matt Dillon nghe câu chuyện về Bokor bởi một đạo sĩ người Myanmar đã từng tu luyện nơi đây. Năm 2002, Matt Dillon cùng đoàn phim của ông đến tận Bokor thực hiện bộ phim City of Ghost.

Bộ phim nổi tiếng đến nỗi, từ năm 2003, dân Tây du lịch đến Campuchia đều đòi đến thăm "thành phố ma". Rừng thẳm, non cao của Bokor bị  đánh thức.

Hiện giờ, trên đỉnh Bokor, cung điện Hoàng gia đã được xây dựng lại thành Bokor casino và một cụm phức hợp khách sạn casino Thansur Bokor Highland phục vụ du khách ngoại quốc hoạt động ngày đêm.

Các điểm am, miếu tu luyện của pháp sư thời xa xưa trở thành một quần thể du lịch tâm linh không thể thiếu của Bokor.

Tuy nhiên, theo thông lệ hàng năm, các pháp sư Đông Nam Á vẫn tìm về Bokor đi sâu hơn vào rừng, tìm những hang động hoang sơ để thu nạp tinh - khí - thần của vùng thánh địa. Khi chiến tranh giữa Việt nam và Campuchia xảy ra, bọn Ponpót lùng giết hại người Việt trên toàn lãnh thổ, hai ông bà Bảy kéo nhau về Châu Thành – Tây Ninh sinh sống đến ngày nay.


CẢNH TẠI CHÙA NĂM THUYỀN- BOKOR.

Điện Minh Châu.

Điện Bình Thiên.

Điện Bàn ngự.

Điện Tứ Giao.

Điện Lan Thiên.

Chùa Năm Thuyền

Trong các thư tịch, di ngôn, di tự của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên - Giáo chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương; Bổn Sư Núi Tượng Ngô Tư Lợi - Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Phật Trùm, Phật sống Cử Đa, Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, Phật sống Trúc Lâm Nương, Trịnh Công Hương v.v… cho thấy các vị này đều đạt chánh quả, đắc đạo ở ngôi chùa Năm Thuyền này.

Những pháp sư nổi tiếng trước năm 1960 ở miền Nam như Thợ Đức Lỗ Ban; Ông Ba "bùa gồng"; tướng cướp Đơn Hùng Tín; Đông Cung Phan Xích Long và rất nhiều vị đại pháp sư khác cũng đã từng sang khu vực Năm Thuyền luyện phép.

Những pháp sư nổi tiếng trước năm 1960 ở miền Nam như Thợ Đức Lỗ Ban; Ông Ba "bùa gồng"; tướng cướp Đơn Hùng Tín; Đông Cung Phan Xích Long và rất nhiều vị đại pháp sư khác cũng đã từng sang khu vực Năm Thuyền luyện phép.

Theo các tài liệu của các Pháp sư Việt thì đó là một ngôi am nhỏ do Vua Monivong xây cất vào năm 1924 cho Hoàng tử Pre Thoong đến tu luyện. Pre Thoong được một đại pháp sư người Việt có tên thường gọi là Ba Gang hướng dẫn vào đây luyện phép tiên. Do nơi đây có 5 tảng đá hình chiếc thuyền nên được gọi là Năm Thuyền. Ông Ba Gang và Cử Đa là hai phó tướng của Quản cơ Trần Văn Thành - người chỉ huy cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bảy Thưa trong giai đoạn chống thực dân Pháp  (1867 -1868). Sau khi kháng địa bị thất thủ, Quản cơ Trần Văn Thành tử trận, Cử Đa và Ba Gang về núi Tà Lơn tu luyện phép thuật chờ thời cơ. Lần lượt họ viên tịch tại nơi này và được dân địa phương đúc tượng phong thánh.

Ngày nay, Năm Thuyền không còn là ngôi chùa hoang vắng, u tịch. Nhà đầu tư đã xóa hầu hết dấu tích người Việt và "cải biên" thành một khu du lịch tấp nập người. Họ đã biến tượng Cử Đa và tượng Ba Gang thành "Phật Kh'mer". Ông "lục cả" trụ trì ngôi chùa là người Việt Nam cũng không còn.

Ngài Cử Đa trước kia có để lại trong cuốn “Giảng Tà Lơn” của mình là:

LAN THIÊN một kiểng chép chơi.

Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng:

Hiu hiu gió thổi đùng đùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai,

Mùa xuân tới kiểng lầu đài,

Tháng giêng mùng chín thi tài hùng anh,

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cảnh hữu danh tư bề”.

Nơi mọi người tu tập là tại gần Chùa Bình Thiên (nay đã bị tàn phá chỉ còn lại dấu tích cái mái). Nơi đây có 2 con suối lớn chảy cuồn cuộn, tung bọt trắng xóa , cùng với màn sương dày đặc gần như suốt năm.Gần đó là nơi Cổng Bàng Ngự (hai cột đá có hình như cái trụ) và Ruộng Năm Dây (những hòn đá màu đen to ước nặng hàng tấn ở đây có hình như chiếc bánh xu, xếp thành năm hàng, khi Đức Thầy – Đức Huỳnh Giáo Chủ đi ngang đây đã đặt cho nó cái tên là Đàn năm dây). Băng theo đường mòn trong rừng là đến Tứ Giao Điện (nơi ông Cả – Thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ tu tập và NGỘ đạo) .Tứ Giao Điện là một tảng đá tự nhiên rất lớn bằng phẳng được chống bởi các hòn đá tự nhiên khác tạo thành một cái động đá có 4 cửa ra vào. Cũng không xa là hồ sen bằng đá (nói là hồ chứ thật ra là cả thiên bàn đá xanh đen hay xanh xám hình lá sen to như những chiếc bàn dài khoảng một thước, rộng 4 hay 5 tấc đặt trên ao – “sàn đá”).

Từ xa xưa, Tà Lơn trong mắt mọi người là chốn rừng thiêng nước độc, non cao hiểm trở cùng sự ngự trị của muôn loài thú dữ, là nơi trùng trùng nguy cơ chỉ một sơ sẩy là coi như lành ít dữ nhiều. Thế nhưng với giới Đạo sĩ, những cao nhân tu hành và những người muốn khẳng định tài năng, sức mạnh thì vùng núi hiểm này là nơi lý tưởng, bởi nơi đây được cho là tập trung Linh khí đất trời, hội đủ yếu tố thích hợp để tu hành, rèn luyện nâng cao công lực, giác ngộ đắc đạo.

Người Việt vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng Thất Sơn tin rằng, ai đã tu luyện ở Tà Lơn đều là kỳ tài, có năng lực phi thường, đẳng cắp tối thượng, từ những danh y, vị chân tu đến pháp sư, đạo sĩ. Nhiều tài liệu và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian cho rằng, từ trăm năm trước nhiều người Việt tu luyện tại Tà Lơn, có người mất trên núi được phong Thánh, lại không ít người hoàn thành tu luyện, thăng cấp Đại sư về sau khai Môn lập Đạo, trở thành Giáo chủ của nhiều Tôn giáo, Đạo giáo ở miền Nam Việt Nam, được đông đảo tín đồ và người đời kính ngưỡng.

Theo đó, ảnh hưởng tâm linh của Tà Lơn từ hàng trăm năm trước đã vượt ra khỏi lãnh thổ Campuchia, được đông đảo đồ đệ các môn phái Huyền thuật các nước trong khu vực tìm đến tu luyện, hoàn thành các thử thách để trở thành Đại sư. Tà Lơn cũng là nơi nhiều môn phái lựa chọn làm nơi khảo nghiệm đệ tử sau thời gian học tập, rèn luyện ở bản doanh.

Ngày nay một số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo ở Tịnh Biên, An Giang mỗi năm đều dẫn đoàn hành hương đến Tà Lơn tu luyện, giao lưu với các vị chân tu nơi này. Theo nhiều người tu hành, trong thế giới tu hành không có khoảng cách địa lý, không gian, mà mọi người chỉ biết hội tụ về nơi có oai linh để tinh tấn tu hành. Không chỉ các vị tu hành người Việt Nam, mà các vị tu hành người Thái Lan, Myanmar…cũng hay lui tới đây.

Theo lời một pháp sư, đường lên đỉnh Tà Lơn hầu như ai cũng biết, nhưng đường đến nơi tu luyện của các pháp sư chỉ có những người thuộc đẳng cấp nhất định mới có quyền biết. Trên núi có quần thể hang động luyện phép thuật, ẩn dưới những khối đá xếp tầng xếp lớp, các hang động sâu hun hút, vô số khối đá hình thù kỳ dị và hang, khe sâu tạo nên những hệ thống như mê cung. Tùy vào năng lực và đẳng cấp của từng đạo sĩ, pháp sư mà phải lựa chọn nơi tu luyện thích hợp.

Có những bãi hang động dành cho những pháp sư lần đầu chân ướt chân ráo đến tu luyện. Tuy nhiên cũng có những hang động nằm sâu dưới thung lũng, cạnh vực thẳm sâu hun hút với vách núi dựng đứng, nơi này chỉ dành cho những pháp sư cao tay ấn luyện. Những người chưa đủ trình độ năng lực muốn vào những nơi bí hiểm này phải có thầy đi kèm, nếu liều lĩnh vào những nơi vượt quá năng lực chịu đựng thì lành ít dữ nhiều. Các vị tổ từng lui tới nơi này có tài hơn người, oai lực hơn người, từ thầy thuốc trị bệnh, vị chân tu hay ông thầy bùa, thầy ngải…khi đã lên Tà Lơn tu luyện thì luôn được nể phục. Trải qua hàng thế kỷ, câu chuyện về Tà Lơn vẫn luôn là huyền bí với chôn dân gian.

Các pháp sư hay về Tà Lơn luyện phép mùa “Vặt Sa” (mùa tu hành giống như mùa kiết hạ đạo Phật), cũng có giáo phái sau khi tu luyện ở quê nhà thì hẹn mùa về Tà Lơn để vượt qua “Sát hạch” trước khi được chứng nhận lên bậc “đại sư”. Ngoài ra, các thầy bùa, thầy ngải…khắp nơi cũng hay lui tới thu nạp “thần khí” cũng như cúng bái các vị tổ sư để nâng cao nghiệp Tổ.

Giới huyền thuật Cao Miên ở Lục sơn (Hà Tiên đi qua) có tục lệ mổi năm ngày lể tắm Phật của họ thì họp nhau lại thử tay nghề bùa ngải coi ai cao hơn ai ! Nười này năm nay có gì đặc sắc hơn , người nọ luyện được môn gì mới chăng ? v.v.....cách thức họ thi tài không phải là từng cá nhân với nhau mà do các vị Lục cả cao niên trụ trì các chùa , các sóc địa phương đó đứng ra tổ chức giám sát . những vị này tài phép cao cường , ai cũng 4, 5 mươi năm trì kinh niệm chú , bùa phù , ngải nghệ họ thuộc về đại cao thủ . các Đại sư này đã làm phép tom trấn 1 số các hang động từ trước ngày thi trên lưng chừng núi và dần lên đỉnh núi , càng lên dần trên núi thì bùa phép trấn ếm càng mạnh dần , mạnh dần . Khởi đầu thi là bất kỳ ai ghi danh cũng được , không phân biệt chủng tộc Xiêm , Miên ,Lèo hay Hồi giáo , Việt nam v.v.....theo lệ (không phải luật) chỉ cần nói được tiếng Khơ-me là có thể dự thi ! và dỉ nhiên tất cả những kẻ dự thi đều phải biết mật tông , bùa phép (đa số là đang hành nghề ).Thoạt đầu cứ 1 tóp 10 người (lấy theo số 10 vị bo-rờ mây) mang theo cơm vắt muối ớt và nước đủ dùng cho 5, 7 ngày vô chung 1 hang động , trong đó mọi người có thể trao đổi tuyệt kỷ cùng nhau hay người này dạy người kia , hoặc cũng có thể vì ân oán lâu năm trước đây giờ gặp nhau giải quyết âm thầm , miển là không làm phiền tới những người xung quanh đồng cư đồng cảnh !
Bởi trong động đã dược các Lục sư cao tay yểm trấn nên người có bùa phép tại thân vào đó thường chỉ 1 vài tiếng là có phản ứng ngay . Người thì nóng mặt , nóng lổ tai Điển chạy rần rần , kẻ thì ớn lạnh nổi da gà dọc xương sống lên tới ót , cũng có người xuất hạn mồ hôi dầm dề , như ngộp thở v.v.....đủ các hiện tượng . Khi đêm đến khoảng giờ Tý thì càng khủng khiếp , có ông thấy mặt chằng mặt xanh nanh bạc bằng cái nia chần dần trưóc mặt mình , phà hơi lạnh buốt , có thầy thấy cục lửa to như bánh xe bò từ xa bay tới lao thẳng vào mình , những kẻ trong động như đã nói qua dỉ nhiên đã là dân trong nghề , người nào ít nhất cũng 5, 3 năm xuất sư làm thầy rồi , đương nhiên họ trước đó đã dụng pháp tom trấn , kiết giới hộ thân . Ông thì dùng 4 cục đất sên phép Pali Ngũ phương chư Phật trấn 4 góc mình ngồi , có vị triệu thỉnh Tứ đại Kim cang giáng đan` hộ thân , như mấy thầy Tàu Triều châu (sống bên Miên)chuyên về Mao sơn thuật thì thỉnh lục đinh , lục giáp thần , Mao sơn sư chủ đáo tạ hộ kỳ . tất cả họp lại tạo ra bầu không khí rất là huyền bí , ly kỳ và ngoạn mục .
Mặc dù dã lập trận kiết giới vậy mà cứ độ 5, 3 tiếng hoặc nửa ngày là có ông chịu không nổi ôm đầu bỏ chạy ra khỏi hang (người đó kể như thua đành chờ năm sau thi tiếp) , nhiều khi có thầy tay ôm ấn mà xỉu luôn trong hang . Tiếng thần chú rì rầm của nhiều ngưòi vang trong không gian hẹp nhỏ thiêú ánh dương quang và dưởng khí càng thêm công phạt vào tâm thức những huyền thuật gia đó .

Những vị Lục sư Cao miên lập trận trong các hang động đó thuần tuý là mật giáo Nam tông , đôi khi có chen vào vài đàn pháp theo n độ giáo thời vương quốc Phù nam xa xưa ở xứ Chua` tháp . công lực khổ hạnh tu trì và căn cơ của các vị Lục cả đó cao thâm khó lường , nên các vị thí sinh kia sau vài ngày chưa đến 1 tuần là hầu như rớt đài hơn 2 phần 3 !
Sau đó những người còn trụ được trong động đúng 10 ngày sẽ được mời ra nghỉ bên ngoài 1 ngày , để rồi lên phía trên triền núi cao hơn , có động khác cũng đã được phù phép trấn áp đặc biệt " dử" hơn nữa để thi tài cao hạ tiếp tục , và cũng với con số 10 người vào 1 hang như vòng 1 vậy . và thức ăn cũng chẳng có gì hơn ngoài cơm và muối , ai chịu khó hơn thì cũng chỉ chuẩn bị thêm được
1 ống tre nước thốt nốt giải khát mà thôi !
Xin nói vài điều về ý nghỉa cuộc thi này : Đối với số người tu luyện bùa phép ở đất Miên và dân chúng bổn đạo (Phật giáo nguyên thuỷ ) địa phương nơi đó rất quan trọng và vinh dự nếu đoạt được danh hiệu đệ nhất, ví như bên Trung hoa mà thi đậu vỏ Trạng nguyên vậy ! Được tăng thống Cao miên cấp bằng huyền thuật đệ nhất trong năm quý hơn vàng bạc , thời đó chiến tranh nên phương tiện đi lại thường bị quan binh xét hỏi rất gắt gao . vậy mà kẻ nào có tấm chứng chỉ ấy trong tay đưa ra là các cơ quan công quyền Cambodia ok liền , còn hơn là sự vụ lịnh khẩn cấp nữa ! vì ở Cao miên đạo Phật là Quốc giáo nên chử ký của Tăng thống (Vua sãi) rất có giá trị , Quốc vương Shihanuk khi gặp ngài mà còn phải quì mọp đảnh lể như tế sao vậy .
Theo lời kể của ông Bảy Thới ở Tịnh Biên, hai đệ tử của Đức cố Quản (Quản cơ Trần Văn Thành) là Ba Gang và Cử Đa, khi khởi nghĩa Láng Linh – Bảy Thưa chống Pháp thất bại, Quản cơ tử trận thì hai ông về Tà Lơn, ở chùa Năm Thuyền tu luyện chờ thời cơ, dân làng ở chân núi tôn hai ông là pháp sư đắc đạo, họ gởi con lên núi, trong đó có nhà vua Monivong gởi hoàng tử Pre Thoong cho hai ông tiếp dẫn đạo tu hành. Tượng của hai ông vẫn được vị lục cả người Việt thờ cúng từ lâu ở chùa này nhưng tiếc rằng, vị lục cả không còn, tượng hai ông được biến hóa theo kiểu Khmer.

Thày Bảy về văn hóa chắc chỉ khoảng lớp 3,lớp 4 vì tôi nhìn chữ ông viết trông như gà bới. Tôi hay đùa ông bữa nào thiếu gà cứ bảo ông viết ra mấy chữ là ăn gà mệt nghỉ. Tuy nhiên ông lại rất rành các loại chữ bùa, từ chữ bùa Pàli đến chữ bùa Phạn, bùa Lèo, bùa Năm Ông, bùa Lục Sơn (chữ Kh'mer cổ)… Ông đã từng hội ngộ với rất nhiều đại pháp sư khu vực Đông Nam Á tại đỉnh núi Tà Lơn. Những lần hội ngộ như vậy, ông và các đại pháp sư khác quốc tịch, dị biệt ngôn ngữ phải nói chuyện với nhau bằng "tiếng bùa" và "bắt ấn quyết" (tức ra dấu).Trình độ văn hóa của ông Bảy là con số không nhưng trình độ về bùa, chú, ngải thì thuộc đẳng cấp "đại sư". Ông Bảy khẳng  định, ai cũng biết đường lên đỉnh Tà Lơn nhưng đường đến nơi tu luyện của các pháp sư thì chỉ có giới pháp sư thuộc đẳng cấp trung sư mới có quyền biết. Đó là những địa điểm bí ẩn chưa có trên bản đồ. Ngoài dấu tích chùa Năm Thuyền, tại đỉnh Bokor còn rất nhiều địa chỉ mang tên thuần Việt như điện Minh Châu, điện Bình Thiên, điện Bàn Ngự, điện Tứ Giao… Đó là dấu tích của những người Việt xưa tu luyện phép thuật nơi này. Ngày nay, những cái tên đó đều được người bản địa "Kh'mer hóa" thành Mik Clau (Minh Châu), Bin Thi (Bình Thiên).

Cho đến tận bây giờ, người Kh'mer vẫn tin rằng, những "lục tà" người Việt có công khai mở thánh địa phép thuật vẫn còn "trụ trì trong không gian". Còn các pháp sư khu vực Đông Nam Á vẫn chọn nơi đây làm "trường thi tốt nghiệp" hàng năm.

Đối với giới pháp sư, ngoài chuyện Tà Lơn là nơi có dấu tích những bậc Phật, thánh đạt chánh quả, còn có yếu tố "chính huyệt" của khu vực Đông Nam Á. Họ cho rằng, nơi đây là điểm tập trung linh khí trời đất nên con người dễ hấp thu đầy đủ tinh, khí, thần của vũ trụ. Vì những yếu tố đó, các sư phụ luôn đưa đệ tử lên đây để kiểm tra khả năng tu luyện. Nếu vượt qua được kỳ vặt sa, kể như đạt cấp đại sư, đủ trình độ làm thầy. Với những người đạt bậc đại sư cũng đến đây để tôi luyện một món "đồ" (Bảo bối có ẩn chứa phép thuật) hoặc nâng cấp một tuyệt kỹ phép thuật nào đó.

Thông thường, những người dự hội mời một vị cao tăng Campuchia (nước chủ nhà) đứng ra chủ trì "trường thi". Trước khi vào hội, các pháp sư tự chọn và đánh dấu một cái hang rồi mời vị cao tăng chủ trì đi từng hàng làm phép trấn ếm. Sau khi trấn ếm xong các hang, vị cao tăng này phối hợp cùng các sư phụ cộng lực, đồng loạt bày trận địa phù phép, "giăng lưới" khắp bầu trời để truy tìm những ác quỷ, yêu tinh ẩn nấp, "trói" lại nhốt chung vào một cái chum sành có nắp. Vị chủ trì sẽ đem cái chum đó về chùa của mình làm "chiến lợi phẩm". Đám ác quỷ, yêu tinh sẽ được vị cao tăng đó trì chú đến khi thuần phục mới được thả ra làm ôsin "phần âm" cho chùa.

Khi đã trấn ếm an toàn, các sư phụ lùa đệ tử vào từng hang bắt đầu tu luyện. Mỗi đệ tử chỉ được phép mang theo 1 lít nước và một số củ ngải làm thực phẩm. Trong thời gian 45 ngày, nếu bước ra khỏi động, xem như bỏ cuộc thi và bị đánh rớt. Người nào vượt qua được, xem như "tốt nghiệp". Người nào hóa điên được cao tăng chủ trì rước về chùa nuôi suốt đời để trục vong. Họ cho rằng, người yếu tay ấn sẽ bị ác quỷ, yêu tinh nhập vào người khiến điên loạn. Người nào chết luôn trong động, xem như đã đạt cực đỉnh thông tuệ. Cả hội xúm lại trì chú tôn người chết làm thánh, thần.

Kết thúc hội Vặt sa, người nào "tốt nghiệp" sẽ được cao tăng chủ trì trao một "ấn vật" và một giấy chứng nhận có con dấu của Tổng hội Phật giáo Vương quốc Campuchia. Với giấy chứng nhận đó, pháp sư sẽ trở thành thượng khách của bất kỳ ngôi chùa nào trên đất Thái Lan, Myanmar, Campuchia,… trừ Việt Nam và Lào.

Trên núi Tà Lơn có 36 ngôi mộ nằm thành 3 cụm riêng biệt nhưng gần nhau. Cụm trong cùng nằm lưng chừng thung lũng có 4 ngôi mộ nằm thành 2 lớp. Lớp trong, sát vách đá có 1 ngôi mộ, phía ngoài là 3 ngôi mộ. Cách đó không xa là một cửa động, trên vách đá có chạm một hàng chữ Hán "Động Kim Quang".

Tất cả các ngôi mộ đều phủ những phiến đá đánh dấu. Có một ngôi mộ chất đá rất sơ sài không bia mộ. Ông Bảy cho biết, vào khoảng năm 1970, những người luyện phép đến đây đã phát hiện một bộ xương khô vẫn còn ngồi trong tư thế thiền. Họ để nguyên tư thế của người chết rồi phủ đá lên.

 Trong số 36 ngôi mộ chỉ có một vài ngôi được dựng bia khắc chữ. Số còn lại, chết trong các hang đá, không danh tính nên những người đến sau chôn cất phủ đá đánh dấu.

Ở một số hang đá dưới sâu tận cùng đáy vực vẫn còn chứa một số xương cốt người tu luyện chết rũ không được chôn cất, không được nhang khói. Vậy mới biết các Thày lên Tà Lơn kiếm được giấy tốt nghiệp Vặt Sa để khẳng định đẳng cấp của mình thật khó hơn lên Trời.

Ta cũng thử tìm hiểu một chút về Phong thủy của dãy Tà Lơn – Bokor này .

 KHÁI QUÁT MỘT ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐỊA MẠCH.

 

Theo sử sách còn truyền lại,từ khi Phục Hy lập ra Bát quái định Thiên đồ,xa thì trông Thiên văn,đại Địa,gần thì trông ở người,vật,toàn đồ Vũ trụ quan bao gồm Thiên -Địa -Nhân.
THIÊN :Tinh ba là Nhật -Nguyệt -Tinh.
ĐỊA :Tinh ba là Thủy -Phong -Hỏa.
NHÂN :Tinh ba là Tinh -Khí -Thần.
Tất cả các thành phần trên gọi chung là Đại đạo,mỗi thành phần đều sống động.
THIÊN ĐẠO :Là sự vận hành các phần tử Thiên hà,Thiên hệ,Tinh tú châu lưu an toàn trong khoảng không theo một trật tự nhất định.
ĐỊA ĐẠO :Thủy -Hỏa-Phong châu lưu khắp nơi nhằm sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật.
NHÂN ĐẠO :Là cái đức lớn của Thiên -Địa,Tinh khí tươi nhuận thì Thần mới minh.Vũ trụ toàn đồ luôn sống động,nếu ngưng ,nghỉ tức là hoại ,là diệt.
Một Cảnh giới hài hòa tạo được sự an lạc,hạnh phúc cho mọi người tức là cả ba thành phần phải tốt tương ứng thể hiện đủ đức tính của Đại đạo.Vì thế ,các bậc Tiền nhân luôn có ước muốn tạo cho mình và cộng đồng một Cảnh giới Chân -Thiện -Mỹ,họ chiêm nghiệm ,học hỏi từ Thiên nhiên địa vật,tạo nên nền tảng Kiến trúc .Nhân giới luôn hài hòa với Tam tài (Thiên văn,Địa thế,Nhân sinh ),nên gọi là thuật Phong thủy

Trong thuật Phong thủy,Khí là một hiện tượng rất khó giải thích ,nhưng nó là một khái niệm cơ bản của thuật Phong thủy.Nhận định đúng về khí là chỉa khóa mở vào lý thuyết cốt yếu của Phong thủy.Theo quan niệm Á đông,Khí ẩn tàng làm động lực cho Trời đất vạn vật.Khí không những hội tụ trong các vật thể hữu hình mà còn tản mát vô hình sau khi vật thể tan rã để tạo thành những thể rất Linh thiêng gọi là Linh của Vũ trụ.Người xưa có câu :Tụ là hình tán là Khí .Ngày nay Khoa học phát hiện được một vài dạng của Khí,gọi là Plasma sinh học.các dạng đó có thể đo,đếm được.Theo định nghĩa của môn Phong thủy Long mạch xuất phát từ những dặng núi cao.Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn.Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn.Ta cũng biết rằng Thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống ,các đỉnh núi cao là những Antena tiếp thu sinh khí.Theo ÐỊA LÝ ÐẠI TOÀN TẬP YẾU :"Phong thủy Ðịa lấy Sinh khí làm chủ,lấy Long Huyệt làm nền tảng,Sa,Thủy làm bổ trợ.Xem Phong thủy chính là quan sát sự thuận ứng nghịch phản của Sơn và Thủy,Khí cứng rắn nhu hòa của Âm Dương,lý Phân ly,hội hợp của tụ và tán. Phong thủy tốt là mạch địa thoạt tiên lên cao,vượt lên,hướng đi của Ðịa mạch hoạt bát như Long,nhấp nhô khộng ngừng, đứt đoạn rồi lại nối liền.Ðịa mạch xuất hiện ở giữa,xung quanh có Sa trướng trùng trùng.Sa trướng của nó có gần có xa,có nghênh có tống,có triền,có hộ vệ.Khi hiệp cốc xuất hiện ,chúng đều thu giữ Ðịa Khí, tựa Phong yêu (Lưng ong ) và Hạc tính (Gối Hạc ) vậy,có nơi tạo ra thế cử đỉnh,có chỗ tạo ra hình Giáp hộ,nơi giao tiếp của Ðịa mạch không bị đứt đoạn,khi Phong suy đi qua hai bên Hiệp cốc ,thì Ðịa mạch lại tựa như hai bên mạn thuyền song song mà ra.Nơi đỉnh và hai bên của Ðịa mạch sáng sủa lại cùng tương ứng với Tinh thần,tựa hồ như sắp có Long có Hổ giáng xuống nơi này.Triều sơn ở xa thì đẹp đẽ,muôn hình vạn trạng.Minh đường rộng rãi bằng phẳng,Thủy khẩu giao kết ,uốn lượn xung quanh,bốn phương tám hướng không có nơi nào bị khuyết hãm.Ðịa Huyệt hạ lạc kết Huyệt ở nơi này,khí Âm Dương phân biệt cùng tiếp,chỗ cao chỗ thấp,lồi lõm rõ ràng, địa hình hai bên như hai cánh tay giang rộng,trên phân ra,dưới hợp lại,Ðịa thế tròn và nhọn cùng đối ứng với Thiên quan Ðịa quỷ.Thủy trong ,Thủy ngoài đều ôm ấp,bao quanh nơi này;Sơn trong Sơn ngoài cùng tụ hội.Nơi được như vậy được xem là đại Phú đại Quý của Phong thủy vậy. Kinh Thư có viết :"Tinh tú trên Trời và Địa thế dưới đất luôn tương hỗ với nhau,Phong thủy Bảo địa tự nhiên sẽ thành...Dương đức sẽ hình thành từ thân thể của ta và Âm đức sẽ hình thành từ vị trí ăn ở cư xử thiện hạnh của ta ".

A/LONG MẠCH TỔ :Trong hình phía trên là một tổ Rồng (Long mạch ).Long mạch lớn nhất có hình được tô mầu chính là Tổ Long - Dãy Hymalaya (Còn gọi là Hy Mã Lạp sơn ).Dãy Hymalaya tạo nên một vòng cung dài trên 2400 Km qua các nước :Pakistan,Kashmir,Ấn độ,Tây tạng,Nepal,Sickim,Bhutan bao bọc một vùng rộng gần 600.000 Km vuông.Đây chính là Tổ Sơn của cả Thế giới.Nước Việt nam ta chỉ nằm ở phía đuôi con Rồng này.

Từ đỉnh Everest trên dãy Hymalaya cao 8.880 m so với mặt biển, có đường kinh mạch linh thiêng trông giống hình con Rồng lớn, đi từ nóc nhà thế giới là cao nguyên Tây Tạng dọc theo biên giới Ấn Độ, xéo qua cao nguyên Vân Nam, đến đỉnh Panxipang cao 3.143 m của dãy Hoàng Liên Sơn tỉnh Lao Cai, rồi toả ra trên Đồng bằng Bắc Bộ nước ta và chui xuống biển sâu ở Vịnh Hạ Long, cuối cùng đường kinh mạch kết thúc ở Vịnh Mindanao - Philippines ở đáy Đại dương sâu 10.800 m. Đây là “con Rồng” lớn nhất thế giới. Những nhà nghiên cứu phong thuỷ đã phát hiện ra đường kinh mạch này và cho rằng, đây là đường kinh mạch quan trọng quyết định vận mệnh của quốc gia Việt Nam.

Theo ĐOÀN VĂN THÔNG chép lại theo cuốn HUYỀN DIỆU THIÊN THƯ của một dị nhân ẩn danh vùng Thất sơn.
"Khoa Địa lý dạy rằng :Hễ một dòng sông bắt nguồn từ nơi đất địa hiển linh,núi cao ngàn năm không người tới ở,rừng rậm ngàn năm không ai tới lui,phóng lượn sóng nghêng ngang ngàn thu không cạn,thì con sông ấy sẽ kết tụ nơi Huyệt "Long đảnh ",một địa linh rất Linh hiển,phì nhiêu về vật chất,cao siêu bội phần về tinh thần.Ngọn CỬU LONG giang là một dòng Bảo giang oanh liệt,oai nghiêm,vừa tạo thành nên vóc vạc hoàn toàn lối 100 năm nay.Liên kết với các núi,Cửu long giang xuất hiện ra 12 HUYỆT huyền diệu,chấm đậm néthùng vĩ trên quả Địa cầu này.
"Bắt đầu khởi kết tụ ngươn khí âm dương xây nên Địa Huyệt thứ nhất tại THẤT SƠN (Châu đốc ).Chỗ ấy ba Huyệt Tiên thiên hiệp lại làm Nê hườn cung ,xuất hiện đúng ngày linh hiển TAM HUÊ TỤ ĐẢNH mùi hương lạ kỳ- bí mật bay ra từ núi Sam đến núi Tượng.Chỗ ấy là cân não,cốt tủy của Cửu long.Tên nó được hưởng ứng theo luồng điện Thiên nhiên,oai nghiêm,từ bi,hùng vĩ,đời sau gọi là KIM THÀNH HUYỆT.Đó là Huyệt dương đã xuất hiện ,Cửu long kết lần với hai dãy núi âm phong cô độc ,liên hiệp thành cặp mắt HÀ TIÊN và PHÚ QUỐC là THỦY TRUNG HUYỆT.TÂY NINH ,núi ĐIỆN BÀ là HUỲNH MÔN HUYỆT,hai đảnh núi ấy thuộc về Âm kết tụ ngươn khí tại Trung ương tạo nên ẤN ĐƯỜNG HUYỆT (Dương )để khai mở luồng điển quang cho các Huyệt kia vừa ngưng tại lối miệt Long xuyên,Bình mỹ (Một dãy cù lao lớn chạy dài từ Bình mỹ xuống gần đến Cần thơ ).
Từ Kim thành Huyệt phóng thẳng xuống mũi Cà mau và núi KỲ VÂN ,hai Huyệt dương nữa ,một bên thì thành sống mũi Cửu long chấm đến Cà mau (Tức là LÂM HUYỀN HUYỆT ),một bên thì Hàm Rồng tại KỲ VÂN (Tức BÍCH NGỌC HUYỆT ).Đồng cân với hai Huyệt âm(THỦY TRUNG HUYỆT VÀ HUỲNH MÔN HUYỆT ),hiện ra một Huyệt thứ sáu (BÌNH NAM HUYỆT ),tại núi Côn nôn là chót lưỡi của Cửu long.
Sáu Huyệt âm dương vừa kết tụ ,thì tại Trung ương Huyệt,yết hầu Cửu long ,vừa khai mở gần Cần thơ bây giờ ,gọi là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT.Lần lần ba cửa mở ra :cửa Đại,Tiểu...v v vừa thành tựu(Năm Nhâm Thìn 1892 ),khiến cho ba nguồn Thủy dựng tại Bình Nam châu chuyển động (Lưỡi Cửu long ),làm cho các miền ở chánh cửa khẩu phải bị nạn lụt(Vàm cỏ,Gò công,Bến tre và các cù lao nhỏ...) ba ngày ba đêm.Đó là bảy Huyệt LINH THIÊNG ,CHÁNH GỐC của xứ VIỆT NAM mới ngưng kết được lối 100 năm nay.Đứng giữa Hoàn cầu,sự Linh thiêng tân tạo là đầu Cửu long giang,một nguồn Bảo giang Thiên cơ đã định phải chói rạng sự Huyền diệu,nhứt hạng khắp bốn bể,năm Châu.Vì Địa linh ấy mới sanh Nhơn kiệt,các vị Thánh tổ kim thời hễ thuộc mạng âm thì phải xuất hiện (Chứ không phải Giáng sanh ),dạy đời trong ba Huyệt âm (THỦY TRUNG HUYỆT,HUỲNH MÔN HUYỆT và BÌNH NAM HUYỆT ).,còn thuộc Dương thì phải xuất hiện ở Thất sơn,KỲ VÂN và CÀ MAU (KIM THÀNH HUYỆT,BÍCH NGỌC HUYỆT và LÂM HUYỀN HUYỆT ).
(Dật sĩ và NGUYỄN VĂN HẦU -THẤT SƠN MẦU NHIỆM ).

B/ LONG MẠCH CỦA TÀ LƠN :

Ta đã nhận biết khá rõ long mạch Tổ chạy từ Dãy Hymalaya (Còn gọi là Hy Mã Lạp sơn ),kết phát nên những địa huyệt tại miền Bắc cũng như tại miền Nam Việt nam. Tuy nhiên, Long mạch kết tụ tại Tà Lơn ( Bokor) lại là một nhánh khác của Long mạch Tổ, không cùng đường dẫn Long của Việt Nam. Dãy Hymalaya (Còn gọi là Hy Mã Lạp sơn ).Dãy Hymalaya tạo nên một vòng cung dài trên 2400 Km qua các nước : Pakistan,Kashmir,Ấn độ,Tây tạng,Nepal,Sickim,Bhutan bao bọc một vùng rộng gần 600.000 Km vuông.Đây chính là Tổ Sơn của cả Thế giới. Vùng địa huyệt Tà Lơn ( Bokor) chính là được kết tụ bởi vòng cung dài trên 2400 Km qua các nước : Pakistan,Kashmir,Ấn độ,Nepal,Sickim,Bhutan , Cam Pu Chia và kéo xuống vùng biển Thái Lan .


C/ ĐỊA THẾ TÀ LƠN ( BOKOR).

Núi Tà Lơn ( người Miên gọi là Bokor - tức là con bò ) cách Thị xã Kompot khoảng 10 Km về hướng Tây Nam. Đỉnh cao nhất của Núi Tà Lơn là 1.079m, vào mùa mưa đầy sương mù, cách 5m không nhìn thấy gì. Từ đàng xa chúng ta nhìn thấy núi Bokor giống như hình thể một con voi, chót núi luôn luôn bị mây bao phủ trắng xóa. Núi Bokor được ghép lại bởi ba trái núi, nên đường từ dưới lên đỉnh núi rất xa vì xe phải chạy quanh từ núi này sang núi nọ, hết cả ba núi mới đến nơi. 

 Từ Thị xã Kompot có hai con đường đi vòng quanh dãy Tà Lơn : Một rẽ bên phải là đường vào hồ Bokor và lên Chùa 500 vị Phật. Sau đó đi lên Trung Toà, Hàm Long, Cán Dù...

 Đường thứ hai đi theo hướng về Công Pông Chàm, Công Pông Thơm đi khoảng 5 Km rẽ phải vào Núi Năm Thuyền có Chùa Năm Thuyền. Tại đây có pháo đài Bokor, là bộ sưu tập các tòa lâu đài (gồm khách sạn, casino, nhà thờ, cung điện…) được người Pháp xây dựng từ năm 1920.Nơi này , chính phủ Căm Phu chia đang cho xây dựng lại Casino rất lớn .Từ Chùa Năm Thuyền đi tiếp theo đường núi hiểm trở khoảng 32 Km ta có thể đến được khu vực đáng chú ý nhất của dãy núi Tà Lơn - Điện Minh Châu , Điện Bình Thiên, Điện Bàn Ngự, Điện Tứ Giao, Điện Lan Thiên...là nơi các vị Tổ của Huyền Môn , các vị lãnh đạo Đạo giáo ngày trước chọn làm nơi tu luyện.

Trong " Sấm giảng đời người "của Sư Vãi bán khoai có viết :

" Ngày xưa Phật ở nước Tần,

Rồi sau Phật lại đi lần về Nam. "

Câu đó có ý nghĩa về sự chuyển dịch trung tâm Phật giáo từ Tây Tạng sẽ dần chuyển về nước Việt, đồng thời cũng chỉ rõ co ta biết sự chuyển động và kết tụ của Hymãlạp sơn như thế nào?

 Về kết cấu Địa chất, khu vực Tà Lơn hàng triệu năm trước còn là biển. Qua những kiến tạo địa chất, được dựng lên thành núi cao đến 1079 m. Bằng chứng thấy rõ ràng nhất là bất cứ ai bước chân đến Tà Lơn đều thấy cát ở đây là cát biển trinh nguyên.

C/ DẤU VẾT CỦA CÁC ÔNG ĐẠO TẠI TÀ LƠN( BOKOR ) TRONG LỊCH SỬ.

1/ Huỳnh Giáo Chủ :

Mùa Thu năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ đi viếng các am động miền Thất Sơn (phiá Tây Nam-Việt) đặc biệt là núi Tà-Lơn (Bokor) nằm trên địa phận tỉnh Cần-Giọt ( Kampot ) thuộc đất Cao-Miên, giáp giới Hà Tiên, Ngài hốt nhiên tỏ ra đại ngộ. Và ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 4 tháng 7 năm 1939 dl.), Ngài chánh thức khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo, một nền Đạo dân tộc đã tạo ra những thay đổi lớn lao trong xã hội miền Nam và đóng một vai trò vô cùng quan trọng không những trong sinh hoạt tín ngưỡng mà còn trong lịch sử đấu tranh của Dân tộc. Đúng như lời Ngài viết trong bài “Thay Lời Tựa” (tức Sứ mạng của Đức Thầy): “Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão vì thời cơ đã đến, lý Thiên Đình hoạch định…” hoặc “ Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh…Ta chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế”. Vì vậy, việc giáng sanh của Ngài không phải do ngẫu nhiên mà là do sự sắp xếp từ nơi Thiên đình thượng giới, như lời Ngài tiết lộ :

 Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn.

Khắp Hạ giái truyền khai Đạo pháp”.

(Diệu pháp Quang minh - tr.28).

Đăng sơn kỳ nhứt. - Lần đầu tiên nầy Đức Thầy đi núi Tà-Lơn với Đức Ông để cho Đức Ông đảnh lễ chư-vị Phật, Tiên và cảm thấy sự linh-thiêng huyền-diệu của chư-sơn liệt vị, và cũng để cho Đức Ông hoàn-toàn tin-tưởng rằng: Đức Thầy là một bực siêu-nhân chớ không phải thượng xác cỡi đồng như trước kia đã tưởng…

Núi Tà-Lơn (Bokor) nằm trên địa-phận tỉnh Cần-Giọt (Kampot) thuộc xứ Cao-Miên, giáp giới Hà-Tiên. Từ trước đến giờ Đức Thầy chưa hề có dịp bước chơn đến vùng nầy. Thế mà khi còn ở tại nhà, Đức Thầy đã kể cho Đức Ông nghe cuộc hành-trình phải từ đâu đến đâu. Đức Thầy cũng biết từ chặng nào tới chặng nào phải trả bao nhiêu tiền xe hơi hay xe ngựa.

Đăng sơn kỳ thứ tư - Lần ầy Đức Thầy đi núi Tà-Lơn và dẫn theo có một mình ông Ngô-thành-Bá tức Biện Đài ở Hòa-Hảo .

Khởi hành ngày mùng 6 tháng giêng năm Canh-Thìn (1940), hai Thầy trò được chở đưa bằng xe đạp đến vàm Cái-Đầm. Sau khi đò cập bến nhà

chơn núi hồi 8 giờ, hai Thầy trò xuống suối tắm rửa, thay đổi quần áo, mỗi người mặc một bộ đồ dà.

Tiến theo con đường « cam chại » (đường đi non) Thầy trò tới Trung-Tòa (hay là Long-Thuyền) lúc 1 giờ trưa, ghé vào một ngôi chùa nhỏ và tặng mấy nhà sư trong chùa 3 cuốn giảng của Đức Thầy (quyển thứ nhứt, thứ nhì và thứ ba) rồi từ-giã ra đi.

Đến ngả tẽ, Đức Thầy bảo đi qua diện Cô Nhứt (gần hơn một phần ba đường lên điện Minh-Châu). Đường đi dốc ngược, gập-ghềnh bước tới muốn sụt lui, nên 3 giờ chiều mới đến điện Cô-Nhứt. Lối 5 giờ chiều, Thầy trò đi ngang qua lộ lớn (bề ngang trên 4 thước) rồi đi lần tới điện Cao-Vân. Đêm đó đoàn lữ-hành nghỉ trên một tảng đá cao khỏi đầu, rộng bằng 2 bộ ván ngựa, mặt bằng phẳng.

Sáng ngày mùng 9, Thầy trò đi lên « Ruộng Năm dây ». Tại đây có đường mòn đi qua Bà-Ngự, nơi ông Cử đắc Đạo.

Rồi Thầy trò đi lần lên tới « Châu-Thiên », một cảnh thiên-nhiên tuyệt đẹp nhờ tòng bá lộn chen không cao không thấp. Khi còn cách « Tứ Giao điện » lối 100 thước, mặt trời vừa chen lặn. Đức Thầy dừng chơn bảo đừng nói chuyện. Chẳng có một bóng người ! Chỉ có chén bát, tương chao và những chiếc đủa nằm bừa-bãi trên bàn.

Sẳn có nồi nước tại đó và vì đói quá, ông Đài hốt cơm khô đeo theo bỏ vào nồi đun lửa nấu. Theo lời ông Đài thì bữa cơm ấy ông ta ăn ngon nhứt trong đời mặc dù thực-đơn chỉ gồm có một dĩa đọt khoai lang luộc.

Đêm ấy, Đức Thầy lên nóc điện thắp nhang đèn cầu nguyện, cúng lạy. Ngài nói với ông Đài: « Thầy đây chỉ lạy Phật-Tổ thôi kỳ dư các bực khác Thầy được miễn ».

2/ Ông Cử Đa.

Năm 1873, sau khi nắm rõ tình hình nghĩa quân, Trần Bá Lộc dẫn quân Pháp đánh vào Bảy Thưa. Ông Trần Văn Thành tử trận. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Quân Pháp tàn sát, giết hại, đốt làng của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ông Ngô Lợi thoát nạn, sau này quay trở về Láng Linh tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân dưới danh nghĩa tôn giáo chờ thời cơ. Khi quân Pháp càn quét vào vùng căn cứ, một trong những đệ tử của Bổn sư Ngô Lợi đã dùng một chiếc ghe nhiều mái chèo theo sông Cái ra biển đào thoát về tận vùng núi Long Sơn ở Bà Rịa lập nên đạo Ông Trần.Riêng ông Cử Đa cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Có lúc ông phái lánh sang Campot,Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia).

Đến năm 1896, ông Cử Đa mới dám trở về vùng núi Cấm lập am ẩn danh. Năm 1896, khi rời Campuchia về nước, ông Cử Đa tìm gặp Đức Bổn sư Ngô Lợi để bàn chuyện tiếp tục đánh Pháp. Nhưng vị tu sỹ này từ chối do chưa đến thời cơ. Thất chí Cử Đa về vùng rừng Tri Tôn lập chùa Năm Căn qui ẩn.

...Riêng ông Cử Đa cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Có lúc ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia). Đến năm 1896, ông Cử Đa mới trở về vùng núi Cấm lập am ẩn danh.

Mặc dù thất vọng, Cử Đa vẫn tụ tập lực lượng kéo đánh đồn Cây Mít của Pháp ở mé kênh Vĩnh Tế. Binh ô hợp, vũ khí thô sơ nên thất bại. Buồn bã, ông không về núi Tượng, cũng không trở lại núi Cấm mà đi thẳng lên núi Tà Lơn, trên đất Cao Miên.

....Tục truyền, Tết năm Giáp Tuất (1934), nhà văn Phan Khôi đã kỳ ngộ với Cử Đa ở chợ Bến Thành (Sài Gòn). Cử Đa bấy giờ đã đắc đạo thành tiên, và trong các cuộc cầu cơ, ông thường giáng đàn cho thơ với đạo hiệu ''Hư Không...''

Cử Đa truyền cho đời bài ''Vãn núi Tà Lơn'' và tập ''Lan Thiên'', đều viết bằng thơ lục bát.

3/ NGÔ VĂN CHIÊU

Trung tuần tháng 6-1928 (cuối tháng 4 Mậu Thìn), Ngô tiền bối xin nghỉ việc sáu tháng để đi du lịch Cam Bốt (thăm núi Tà Lơn,[12] Đế Thiên Đế Thích…) theo lịnh của Đức Cao Đài. Lúc này số môn đệ Chiếu Minh tháp tùng theo tiền bối có khoảng ba mươi người. Khởi hành ngày thứ Tư 13-6-1928.

Thứ Tư 30-3-1932 (24-02 Nhâm Thân), Ngô tiền bối đi thăm núi Tà Lơn lần thứ nhì. Người tỏ ý sẽ thoát xác nơi đây. Các môn đệ đi theo hết sức khẩn khoản, tiền bối mới bằng lòng trở về Cần Thơ.

 Xin theo dõi tiếp BÀI 32, dienbatn.

 MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 30.

11/10/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 30.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. 
PHẦN 3 : NHỮNG CUỘC LỮ HÀNH.

Hai hôm sau , Thầy trò tôi đã có mặt tại Sài Gòn . Thày Chàm dẫn tôi đi thăm những người bạn già của Thày tại đây . Tại Sài Gòn có rất nhiều cao thủ Huyền môn đang sinh sống và tu luyện . Thông thường các Thày sau khi tu luyện trên núi , khi Hạ sơn thường chọn Sài Gòn làm nơi hành nghề và đón tiếp , giao lưu với các cao thủ của môn phái khác . Chúng tôi đến một quán Càfe tại Xóm Củi quận 4. Nơi đây là nơi tụ tập của các “ Linh Căn – Linh cẳng” của cả Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Ông chủ quán cũng là người trong Huyền môn. Quán này chỉ có Càfe và mì chay nhưng ngày nào cũng có vài chục vị “ Linh Căn – Linh cẳng” ngồi đồng. Các vị “ Linh Căn – Linh cẳng” này rất lạ, thường thì ngồi im , ngó mông lung người qua người lại , hoặc trò chuyện những chuyện chẳng ăn nhập gì đến Huyền môn cả.  Tuy nhiên , những người trong Huyền môn sẽ biết rõ họ là ai ,có thể tìm ở đâu ? và họ có thể làm gì. Hai Thày trò chúng tôi chọn một bàn nơi góc khuất và kêu 2 cái Bạc sửu . Vừa ngồi xuống ghế , tôi bất chợt thấy Thày Chàm cười nhạt một tiếng và giơ ngón tay trỏ vẽ một vòng tròn trước mặt rồi thản nhiên bê ly Bạc sửu nhấp một hụm. Cũng gần như ngay lập tức , tôi thấy những làn sóng xung kích ào ạt tràn tới khiến như muốn ngộp thở.Nhớ lời Thày dạy, tôi cung tay lẩm bẩm câu Chú tấn công địch thủ có Bùa : “ Ý sơn nhơn ý thá má tế ma tha hét thét gần măng lầy căn hăng á “ . Hàng loạt tiếng cười ầm ĩ nổi lên khắp quán. Nhướng mắt nhìn xung quanh, tôi thấy một vị còn khá trẻ ngồi ngay cửa quán mắt trợn ngược , xùi bọt mép ra. Thày Chàm chạy lại vỗ lên đỉnh đầu anh ta mấy cái , lập tức anh ta tỉnh lại. Lúc này , mọi người mới xích ghế ngồi quanh bàn càfe chúng tôi ngồi , cười nói vui vẻ, hỏi chuyện Thày Chàm. Chuyện thường ngày ở Huyện. Tuy hình dong , bộ dạng và hành động của họ có vẻ cổ quái , nhưng khi tiếp xúc nói chuyện với họ , dienbatn thấy họ vô cùng dễ mến và đáng tin cậy.Trong số những người này , đa phần là những vị hành nghề , soi căn , coi bói , giải thư ếm , chữa bệnh bằng bùa phép , Thày Ngải , làm phong thủy nhà cửa , đất cát ….Trong buổi sáng hôm đó , Thày Chàm giới thiệu cho dienbatn làm quen và kết giao được với một số đồng Đạo mà về sau này , trên con đường Thiên lý của mình , dienbatn được họ trợ duyên hết sức hiệu quả . 
Chiều đó, chúng tôi đến thăm các vị tu tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH . Đây là nơi thờ tự và tu luyện của các vị bên phái Thiên Khai Huỳnh Đạo của Đạo Cao Đài. Theo lời dạy của các vị tu tại đây thì Thiên Khai Huỳnh Đạo Theo chu kỳ của Tạo hóa, nay buổi tàn ngươn mạt pháp, Tam giáo thất chơn truyền, nhân tâm ly tán, Tam ngươn một thuở Thượng đế ban truyền Huỳnh Đạo để mở lại một cuộc tuần hoàn dài 12 vạn 9 ngàn 6 trăm năm.Thượng đế thương xót nhân loài trong cơn điên đảo vì văn minh vật chất và dục vọng đa đoan, nên Đức Thượng Đế ban truyền đây là thời kỳ Đại xá và độ tận chúng sanh (nghĩa là chọn lọc bậc hiền nhân đức độ, phân tà lọc chánh để phán xét Đại đồng ở ngày Long Hoa đại hội, đại xá nghĩa là tất cả tội lỗi xưa kia đều xóa bỏ, không phân biệt kẻ hiền, kẻ dữ, ai cũng có thể được nghe những chơn lý đạo đức hầu hướng về con đường thiện).
Đạo Cao Đài được Đức Ngọc hoàng Thượng Đế khai sáng từ năm Bính Dần (1926) với lời tiên tri 36 năm thành Đạo. Nhưng đến 36 năm (1962), vì cảnh khảo đảo của Ma Vương, Đạo Cao Đài chỉ thành về mặt vô vi với Huỳnh Đạo ra đời tiếp nối.
Vì kỷ nguyên Đạo Vàng đệ nhứt,
Nối Cao Đài lãnh vực phổ hoằng,
Tam kỳ chiếu diệu hạ tầng,
Thiên Khai Huỳnh Đạo chuẩn thằng Ngũ châu.
Sau đó do lời cầu xin của Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn ban hồng ân cho “Tam niên đại xá”.
Vì thế tuy đã ban sơ từ Hội Thánh Cao Đài Nhị Giang 1959 rồi về Long Vân Đại Pháp Nam Thành Thánh Thất ( Đường Nguyễn Cư Trinh Quận 1 ) và Long Vân Đại Đàn cuối năm 1961 nhưng mới được Đức Thượng Đế chánh thức ban truyền bắt đầu từ năm Nhâm Dần (1962).
Do Thiên cơ biến chuyển, từ năm Nhâm Dần đến nay là 11 năm, Huỳnh Đạo gồm có nhiều giai đoạn như sau:
1/ Tam niên Đại xá:
Đó là bắt đầu năm 1962, Đức Diêu Trì Kim Mẫu khải tấu với Đức Thượng Đế xin “Tam niên ân thọ” để cho các nguyên căn linh vị trường chay, luyện pháp hầu trở về ngôi vị ngàn xưa khỏi sống lộn với thú cầm.
Lòng từ bi của Đức Mẹ đã thể hiện:
“Ba sáu năm khai tuồng Đại Đạo,
Để ngày nay hoài bão nhuyên nhân,
Hai phen nhập hóa thức thần,
Thiên Khai Huỳnh Đạo chuyển trần Tam Niên”
2/ Ngũ niên Chuyển xá:
Bắt đầu từ tháng 8 năm Giáp Thìn (1964). Vì chánh pháp chưa minh, Đức Thượng Đế và Đức Diêu Trì Kim Mẫu gia ân thêm “Ngũ niên chuyển xá” do sự cầu nguyện của chúng sanh và Thánh Thần Tiên Phật khải tấu. Và kể từ đó Đức Di Lặc được sắc chỉ lâm phàm tái tạo Thượng ngươn.
Những phần minh chứng điều này như sau:
“Từng cao vòi vọi lưới Trời,
Thầy minh còn rõ những lời Phật Tiên.
Ân từ Điệp sắc “Ngũ niên”
Là phần Di Lặc quản quyền mà thôi”
Như vậy, Ngũ niên chuyển xá là hồng ân đại xá và quản quyền của vị Đương lai Giáo chủ Long Hoa Hội Thượng là Di Lặc Phật Vương Thiên Tôn vậy.
3/ Tứ niên tuyển pháp:
Sau 5 năm ân xá là “Tứ niên tuyển pháp” mà Đức A Di Đà Phật đã hội chung Tam giáo cầu xin Thượng Đế gia giảm nhân loài để tuyển quy hàng Tam công hầu dự hội Long Hoa.
4/ Tứ niên hậu xá:
Lòng từ bi vô lượng, trước Tòa Tam giáo, kể từ năm Nhâm Tý (1972) Đức Hồng Quân Thượng Tổ ban ân cho “Tứ niên hậu xá” hầu kết thúc cơ Long Hoa diễn biến.
Thầy đã dạy rằng:
“Truyền Tam giáo ân hồng Nhâm Tý
Kể từ nay là kỷ nguyên hòa,
‘Tứ niên hậu xá’ Long Hoa
Của Thầy lập pháp gọi là cho chung”
1/ Căn bản:
Thiên Khai Huỳnh Đạo đặt trên căn bản “Nhân, Nghĩa, Thành, Tín”
a) Nhân: là tình thương, lòng từ ái không giới hạn trong không gian và thời gian.
- Đối nội: (với mình) tự mình phải rèn luyện một tinh thần đạo đức nghĩa là phải có lòng khoan hồng, bác ái, việc gì cũng thuận theo lẽphải.
- Đối ngoại: có lòng nhân đối với người nghĩa là cái gì mà bản thân mình mong muốn thì đem ra thi hành cùng với mọi người và không bao giờ bị tư ý ràng buộc.
b) Nghĩa: là định rõ các phận cho điều hòa để xử sự bất kỳ trong mọi trường hợp cho phải lẽ và hợp lý. Nghĩa với gia đình, nghĩa với xã hội nước non, thấy điều bất công mà ra tay tế độ là người thi nghĩa vậy.
c) Thành: là sự thành thật không sai ngoa, dốc lòng tin tưởng vào một việc gì. Có câu rằng: “Đạo gốc bởi lòng thành, tín hiệp” nghĩa là Đạo, cái bổn gốc của nó là do tâm thành khẩn và lòng tin tưởng mới có mà thôi.
d) Tín: là do sự tin tưởng mà người khác đặt vào mình. Tín là điều kiện thiết yếu để thắt chặt tình bằng hữu và có sự tin cậy lẫn nhau.
2/ Tôn chỉ: Trên mọi phương diện hành Đạo, Huỳnh Đạo đặt tôn chỉ là “Từ bi, Bác ái, Công bình”
- Từ bi: thấy sự khổ đem lòng nhân, lòng hiền mà thương xót.
- Bác ái: lòng thương vô cùng rộng lớn.
- Công bình: không vị nể, thiên lệch.
Phải thể hiện đức từ bi rồi đi lần đến bác ái, công bình, vì có từ bi rồi mới thương chung muôn loài vạn vật thực hiện đức bác ái, và từ đó mới rõ lẽ công bình.
3/ Mục đích:
a) Cứu thế lập đời: Trong thời mạt pháp, Huỳnh Đạo có sứ mạng độ dẫn nhân sanh hướng thiện hầu lập lại đời Thánh Đức thượng ngươn.
b) Thống Ngũ chi, Quy Tam giáo: Nghĩa là Huỳnh Đạo sẽ quy Ngũ chi và Tam giáo gom về một mối là Trung ương, vì Huỳnh Đạo chính là Vô vi Đại đạo dùng sắc Huỳnh nơi Trung ương Mồ Kỷ Thổ.
c) Đoạt cơ siêu thoát: Những Thiên phong Huỳnh Đạo sẽ dùng Tam Thiên Bí Pháp (nam) và Di Đà Mật Chỉ (nữ) rèn luyện thành Kim Thân Thánh Thể giải thoát trở về nguyên vị và ứng trợ cơ Long Hoa` “đại vận sát”.
Chơn truyền của Huỳnh Đạo là chơn truyền của Tam giáo, đầy đủ và trọn vẹn hơn gồm ba đặc điểm về Sự, Lý, Pháp.
a) Về Sự: Huỳnh Đạo hiểu theo lẽ cao nhiên chứ không tầm thường như thế nhân thường hiểu.
- Như về hiếu, không phải chỉ chăm nom phụng dưỡng mà phải trọn dạ thương yêu khi sanh tiền cũng như lúc quá vãng, nghĩa là cứu vớt linh hồn Cửu Huyền Thất Tổ bằng cách lập công bồi đức vẹn vẽ tu hành.
- Như tín, giữ chữ tín vì do lòng thương yêu sợ người khác đợi chờ, nghĩa là vì người chứ không vì bản ngã cá nhân.
b) Về Lý: Với lý siêu từa, Huỳnh Đạo quan niệm cái lý trường miên thoát tục chớ không ngắn ngủi trong vòng trăm tuổi. Quan niệm về thân tứ đại, không phải quá vì thân này mà cũng không ép mình khổ hạnh thân xác. Đó là lú siêu nhiên của Huỳnh Đạo: “chơn và giả phải đi đôi với nhau”.
c) Về Pháp: Huỳnh Đạo không chấp ở hữu hay vô mà cả hữu vô trọn vẹn, gồm Tiên Thiên và Hậu Thiên ứng hóa, không nhắm vào một sự ứng nghiệm, một huyền linh nhất thời nào về hữu hình hay vô hình mà Huỳnh Đạo chỉ nhắm vào cái lẽ miên trường, vĩnh cửu nơi cõi Thượng Thiên an nhàn tự toại.
Tóm lại, với tôn chỉ và mục đích rõ ràng, Huỳnh Đạo không những là cơ Đạo thuần túy dân tộc, lấy đức từ bi chan rãi cho tất cả nhân loài, dụng lòng vị tha và xả kỷ để độ khắp trần ai lánh mê giải khổ (tìm về con đường giải thoát siêu linh), mà Huỳnh Đạo còn là cơ duyên đại kiếp, là cơ sảy sàng tuyển trạch những nguyên căn linh vị. Ai hữu phước, hữu duyên nhứt lòng vì Thầy, vì Đạo thì sẽ được ân hồng trong kỳ ba mạt pháp, lãnh bí truyền do chính ơn trên truyền dạy để hiển đoạt thần thông hầu quy hồi cựu vị. Còn người vì chốn mê đồ, danh bả thì ngày phán xét cuối cùng sẽ tường minh phận số.
Thời kỳ này là thời mạt pháp, bao cảnh tang thương bao hồi ly tán, Đức Thượng Đế vì lòng hiếu sinh ban rãi cho nhân sanh mối Đạo Vàng thâm diệu, thì nhân sanh sau khi đã am tường thấu đáo những yếu lý cao siêu của Huỳnh Đạo hãy cố gắng hồi đầu hướng thiện học chữ tu hành, trước là tự cứu bản thân, sau là độ rỗi linh hồn Cửu Huyền Thất Tổ được siêu thăng tịnh độ.
Nam mô Huỳnh Đạo cứu đời,
Thuấn Nghiêu tái lập ơn Trời nhuận ban.
Trong Thiên Khai Huỳnh Đạo , khi đặt Pháp danh , đàn ông lấy chữ Thiên , Đàn bà lấy chữ Diệu làm tên đầu Pháp danh .
Tại đây  , dienbatn làm quen và rất mến với hai huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ . Huynh Thiên Bảo trạc ngoài 70 tuổi , trông mình mai xương hạc , Phong Tiên Đạo cốt . Huynh Thiên Nhiên Kỷ khi viết bài trên Tuvilyso lấy bút hiệu DaoKy. Sự hiểu biết và kiến thức về Huyền môn , về các tông phái Đạo giáo của hai Huynh hết sức sâu rộng . dienbatn gặp được hai Huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ thật vui và học thêm được rất nhiều kiến thức mà mình còn khiếm  khuyết.
Thày Chàm cũng dẫn tôi về thăm Tổ Đình Quốc Tổ Lạc Hồng tại Nguyễn Thái Sơn – Gò Vấp.
Tổ Đình Quốc Tổ Lạc Hồng tọa lạc tại số 94 đường Nguyễn Thái Sơn Quận Gò Vấp Thành Phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng từ năm 1962 (lúc này tên đường là Phan Thanh Giản) là nơi để người Việt tưởng nhớ Tổ Tiên, nguồn cội.
Vào năm 1962, ông kiến trúc sư Võ Văn Tần đã hiến 600m2 đất tọa lạc trên gò mả đường Phan Thanh Giản (nay là đường Nguyễn Thái Sơn) cho ông Phan Công Khâm dùng để làm nơi thờ tự dưới danh nghĩa Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo.
Đầu năm 1963, ông Phan Công Khâm, pháp danh Sơn Hồng Đăng (Pháp chủ Huỳnh Đạo lúc bấy giờ), cùng với ông Ngô Hoàng Dư (Chưởng giáo Huỳnh Đạo) đã qui tụ số đông bô lão trí thức yêu nước thành lập ngôi thờ tự dưới tên gọi Bửu Tòa Di Lạc. Thành phần ban phụng tự lúc này do ông Ngô Hoàng Dư làm trưởng ban cùng với một số tri thức cùng nhau cai quản ngôi thờ tự.
Ngôi Bửu tòa Di Lạc được hoàn thành vào năm 1964 thờ phật Di Lạc trên tầng gác, chánh điện thờ Vua Hùng Vương, bên trái chánh điện thờ Lạc Long Quân Phụ, còn bên phải thì thờ Hồng Bàng Tiên Mẫu. Vào mùng 10 tháng 3 âm lịch – ngày giổ tổ Hùng Vương và mùng 5 tháng 5 âm lịch – lễ Hồng Bàng Tiên Mẫu có đông đảo đồng bào qui tụ về lễ bái trang trọng. Ngoài những ngày lễ thì ngày rằm và mùng một hàng tháng cũng thường xuyên có khách thập phương về đây dâng hương.
Đến năm 1969, ông Ngô Hoàng Dư qui liễu. Ông Sơn Hồng Đăng và các bô lão vẫn tiếp tục thờ cúng, tu bổ ngôi Bửu Tòa.
Đến năm 1975, ông Sơn Hồng Đăng về sinh sống ở Cần Thơ và gửi cho ông Nguyễn Văn Bửu pháp danh Thiên Án làm trụ trì, trông coi hương hỏa. Đây là thời gian mà Thiên Khai Huỳnh Đạo hoạt động rất rầm rộ.
Đến năm 1993, ông Thiên Án qua đời, ông Sơn Hồng Đăng trở lại tiếp tục tiếp quản Bửu Tòa, giải tán Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo, và dẹp bỏ những lễ nghi không phù hợp với việc thờ Quốc Tổ. Theo lời di huấn của các bậc tiền nhân gửi gắm, ông Sơn Hồng Đăng đã chính thức chuyển đổi ngôi Bửu Tòa Di Lạc thành Tổ Đình Quốc Tổ Lạc Hồng, hướng về nguồn cội, thờ phụng tổ tiên theo nguồn gốc lịch sử dân tộc. Thời gian này , việc thờ cúng Quốc Tổ Hùng Vương chưa được công nhận nên mọi hoạt động còn bị ngăn cản rất nhiều từ phía chính quyền.
Như vậy, qua bao thăng trầm đổi thay của thời cuộc, vào đầu thập niên cuối thế kỷ XX, Tổ Đình Quốc Tổ Lạc Hồng đã chính thức ra đời ở ngay trung tâm phía Nam của tổ quốc.
Từ ngã năm công viên Gia Định đi theo đường Nguyễn Thái Sơn không xa, một ngôi Tổ Đình trang nghiêm mang tên “Quốc Tổ Lạc Hồng”. Cửa chính đi vào là điện thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, trên bệ cao tượng Mẹ Âu Cơ, được đúc bằng đồng từ những năm 70 của thế kỷ trước theo hình vẽ của họa sỹ Thụy Lam, dáng đứng thẳng, mắt nhìn về phương Nam. Tay phải, Mẹ cầm bó lúa, tay trái vuốt nhẹ đầu rồng, hai bên có cặp hạc đứng trên lưng rùa chầu Quốc Mẫu. Hai bên vách trước điện có đôi câu đối “Trông biển nhớ ơn Cha”, “Nhìn non thương nghĩa Mẹ” như nói hộ tấm lòng của hàng triệu đồng bào tri ân Quốc Mẫu.
Tầng gác phía trên điện Quốc Mẫu là nơi thờ Quốc Phụ Lạc Long Quân, sừng sững ngay chánh điện là pho tượng Cha Lạc khoát áo Long Mã Phù Đồ tay trái cầm khúc tre, tay phải cầm bụi lúa, ngồi xếp chân, cặp mắt to nhìn thẳng có thần sắc uy nghi mà ai mới nhìn lần đầu cũng khép mình tôn kính.
 Đi vào bên trong là Hùng Vương Bửu Điện thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Pho tượng Vua Hùng, từ trước tới nay không thay đổi, uy nghi đứng trên quả địa cầu có năm rồng chầu. trên tay trái của Vua cầm kim ấn thể hiện vương quyền và trên tay phải cầm thánh chỉ như răn dạy cháu con noi theo di huấn.
Phía trước Vua Hùng là cặp hạc đứng trên lưng  rùa ngẩng cao đầu chầu Quốc Tổ, được đặt giữa chánh điện là phiên bản trống đồng ngọc lũ, một trong những quốc bảo của nhà nước Văn Lang, để khách viếng thăm chiêm ngưỡng.
Trong các bức tường phía ngoài cổng đi vào , treo các tranh đề thơ của nhiều ẩn sĩ viết tặng Tổ Đình.
Chối từ trung hiếu với Trời xanh.
Còn kiếp nào đâu để tựu thành.
Sự sống thời gian là hiện tượng.
Giác là vô diệt – Ngô vô sanh.
THRT.
THỜI GIAN CÓ TRƯỚC CÓ SAU.
GIÁC NGỘ KHÔNG SAU , KHÔNG TRƯỚC.
Có những niềm vui rất lạ thường,
Chìm trong ý niệm , niệm không vương.
Biến thành năng lực vô sanh , diệt.
Mở khiếu Đồ thơ , xóa ngục đường.
THRT.
Một dân tộc mất đi nền Văn minh mẹ đẻ thì sớm bị nô lệ, muộn sẽ đồng hóa tiêu vong.
Hãy nhớ tương lai nhiều biến đổi ,
Nhưng không đổi biến được hồn thiêng.
LẠC LONG QUÂN PHỤ -ÂU CƠ MẸ,
Chờ đợi vung tay Quốc lệnh truyền.
THRT.
Muốn thoát ra ngoài phải vào trong,
Chưa thành Tiên , Phật chớ quên lòng.
Hạt sen chẳng bám nơi bùn , bụi.
Thì đến muôn đời chẳng trổ bông.
Công Hầu Khanh Tướng thủa nào đây ?
Cùng một lần qua ở lối này.
Thế hệ đổi thay người cũ mới,
Mà mây còn trắng vẫn còn bay.
………………………………..
Có phải Hồn thiêng của núi sông,
Mất đi từ thủa mất cha ông ?
Nay ta dựng dậy Hồn sông núi,
Để trả Hồn thiêng lại núi sông.
THRT.
Một cuộc chia tay rất diệu huyền,
Của Cha và mẹ rất thiêng liêng.
Vì con trăm trứng thời gian biến,
Quên cả tư tình , hạnh phúc riêng.
………………………………….
Trải bao thế hệ vẫn oai cường,
Dựng nước Vua Hùng mở sử cương.
Hào kiệt , Anh thư thề nối nghiệp,
Từ trong bọc trứng nở yêu thương.
Vì Thày Chàm có việc phải về ngoài miền Trung nên dienbatn ở lại Thành phố Sài Gòn tranh thủ thăm hỏi và giao lưu với các Huynh đệ , tỉ muội ở đây .
Hai huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ trong thời gian này giành rất nhiều thời gian và công sức , truyền đạt lại những hiểu biết về Thiên Khai Huỳnh Đạo cho dienbatn . Vào một ngày đẹp trời , tại Liên Hoa Cửu Cung Thủ Đức , hai huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ làm lễ Quán đảnh và nhập môn phái Thiên Khai Huỳnh Đạo cho dienbatn. Từ nay trong Thiên Khai Huỳnh Đạo , dienbatn có Pháp danh là Thiên Hùng.
Cũng cần nói thêm một chút về Thiên Khai Huỳnh Đạo . Lịch sử của đạo Cao Đài gắn liền với sự phổ biến Cơ bút tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Có thể nói, Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút.
Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) của Allan Kardec đến từ Pháp, và Đại ngọc cơ (大玉機) xuất xứ từ Trung Quốc.
Thiên Khai Huỳnh Đạo là một nhánh của cao Đài  cũng sử dụng Cơ bút là chính . Nhánh này có nhiều đóng góp trong việc giải khai những Huyệt Đạo bị  Trấn Ếm trên toàn cõi Việt Nam .


Bát quái Thiên đồ trận tại Liên Hoa Cửu cung – Thủ Đức .
Từ ngày nhập môn theo phái Thiên Khai Huỳnh Đạo , dienbatn được các huynh Thiên Bảo và Thiên Nhiên Kỷ dẫn đi hành lễ nhiều nơi , nhưng chủ yếu tại Liên Hoa Cửu cung – Thủ Đức và tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH Phú Nhuận . Biết rằng các Huynh Đệ, Tỷ Muội của phái Thiên Khai Huỳnh Đạo thường đi giải khai Huyệt Đạo bị  Trấn Ếm trên toàn cõi Việt Nam , một bữa , dienbatn hỏi Huynh Thiên Nhiên Kỷ : Anh có rành về thuật Phong thủy – Địa lý không ? Rất ngạc nhiên , Huynh Thiên Nhiên Kỷ hỏi lại : Thế đệ cũng biết về Phong thủy – Địa lý hay sao ? dienbatn liền kể về gia đình mình đã mấy đời làm Địa lý ở Hà Nội và đã được ông nội và cha dạy cho môn này từ hồi còn rất nhỏ . Tuy nhiên vì trình độ rất hạn hẹp nên còn vô số những yếu quyết được truyền dạy mà không hiểu được . Suy nghĩ một lúc Huynh Thiên Nhiên Kỷ nói : Để ngày mai Huynh sẽ dùng Cơ bút chép lại cho đệ một số kiến thức cơ bản về thuật Phong thủy – Địa lý nhé. 
Quả nhiên , chỉ 2 ngày sau , Huynh Thiên Nhiên Kỷ đưa cho dienbatn một sấp giấy dày ghi dày đặc chữ . Huynh nói : Đệ về xem và chịu khó suy nghĩ nhé.
Ngay đêm đó , dienbatn đọc ngấu nghiến những trang giấy mà Huynh Thiên Nhiên Kỷ đưa cho . Quả thật là một chân Trời mới rộng mở trước mặt . Nhân đây cũng xin chia sẻ với các bạn một chút hiểu biết về Phong thủy  - Địa Lý mà Huynh Thiên Nhiên Kỷ nhận Điển giao cho. Cũng xin đốt một nén Tâm hương tưởng nhớ về một người anh lớn đã đưa dienbatn những bước chân đầu tiên vào Thiên Khai Huỳnh Đạo .
Xin theo dõi tiếp bài 31. dienbatn.

MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 29.

11/03/2017 |
CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. BÀI 29.
NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN.
Từ phần này trở đi có tên gọi là NHỮNG NĂM THÁNG HỌC HUYỀN MÔN. Đó là những tháng ngày vô cùng vất vả, trải nghiêm đủ Hỉ- Nộ- Ái - Ố của dienbatn . Cũng đã qua từ lâu rồi , xin kể lại để các bạn cùng chiêm nghiệm . Thân ái. dienbatn. Loạt bài này đã đăng trên báo giấy : Tuổi trẻ và Đời sống .
Giỗ Tổ phái TSTQ rằm tháng chạp Ất Mùi.
Tư liệu thứ 3.
Một huyền thoại về môn phái võ Thất Sơn Thần Quyền .
          Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là "võ bùa" hay "thần quyền". Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch... Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự "truy sát" ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật.
Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang "tái xuất giang hồ". Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này.
Cao nhân ẩn tích
Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên "chốn giang hồ". Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?
Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh "chánh phái" nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành "vuông", người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín "cụt".
Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành "vuông" tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín "cụt", tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào.
Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thuở trước Chín "cụt" có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng tại một hội khỏe năm 1986.
Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được "cao nhân" ẩn tích bấy lâu nay – ông Chín.
Phận duyên tiền định
Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn Thần Quyền với ông như có duyên trời định.
Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem "mặt mũi" thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp.
Sau nhiều lần hò hẹn, "thằng cha" đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần "tỉ thí", Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua.
Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần Quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy.
Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi.
Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hy vọng của mình.
Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ... khó tính, anh lại lóc cóc tìm về.

Đi cùng anh lần này có cả Thành "vuông", một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: "Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!". Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. "Đau" hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành "vuông", lại được sư phụ thu nạp.
Uất ức, trước khi ra về anh... thề: "Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!". Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 25 cây số từ ga Phú Thọ sang, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy.
Võ phái kỳ lạ.
"Ngày tốt" ấy là ngày 09/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình.
Theo lời thầy Lộc thì "thủ phủ" của Thất Sơn Thần Quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học Thần Quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành (có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn).
Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này.
Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những "thông số", "mật mã" riêng của môn phái.
Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hòa vào nước cho người mới nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước.
Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần. 
Thần chú vào... võ công ra .
Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền.
Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú "nhập" đến đâu thì công phu tự khắc... ra đến đó.
Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu.
Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã... hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thầy không chỉ bảo được.
Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để... gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân.
Chín kể, khi đã "nhập đồng", cứ thấy nhẹ bên tay nào là "chưởng" đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết.
Tỉ thí tranh tài .
Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra "trình độ".
Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy "cao tay" hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, nhà ở gần bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 15 cây số. Thần Quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy.
Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn "khẳng định thương hiệu" của riêng mình thì đều phải đánh với hai "cây đấu" ấy.
Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú "thôi sơn" khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động.
Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín.
Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát, Huế) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình.
Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần Quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên...
Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú "thiết cước" vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp.
Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh.
Dựng nghiệp bất thành .
Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn Thần Quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái.
Để khẳng định sức mạnh của Thần Quyền, Hội khỏe Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi. 
Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục Thần Quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người.
Sau màn ra mắt, được sự "chỉ đường mách lối" của cố võ sư Đỗ Hóa, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái "phát dương quang đại". Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn Thần Quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực.
Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi.
Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục Thần Quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia.
Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã xin thôi và không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai...
Lời thề của môn phái Thất Sơn Thần Quyền:
Một lòng hiếu thảo với cha mẹ; Không phản môn phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Coi bạn như anh em ruột thịt; Không cưỡng bức kẻ yếu; Không làm điều gian ác; Không ham mê tửu sắc;Không nản chí khi luyện tập; Không thoái lui lúc nguy hiểm; Luôn bảo vệ kẻ yếu; Nhịn kẻ mất lòng ta; Thi hành nghiêm chỉnh những lời thầy dạy; Ôn hòa trong tình bạn; Không tự cao tự đắc; Cứu người trong lúc nguy nan...
Theo: www.nhantrachoc.net.vn.
Nguyễn Minh Huệ nói...
" Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Tình Cương là một trong những “cái nôi” của phong trào tập luyện võ thuật theo phái Thất Sơn Thần Quyền (dân gian gọi là “võ bùa”). “Vị tên Cư” trong bài viết này tên thật là Nguyễn Phong Cư, sinh năm 1950, nhà ở chỗ lưng chừng dốc Chủ Chè, làng Tình Cương, xã Tình Cương. Từ năm 1980 – 1985 cao thủ Nguyễn Phong Cư đã huấn luyện được một số “đệ tử”, trong đó có 12 “môn sinh” đã có đẳng cấp khá cao (7 người ở Cẩm Khê, 3 cán bộ công an, 1 bộ đội và 1 ở Hải Phòng). Theo những người rành về môn này cho biết: “Thầy Cư” theo học “Thầy Cảo” (Nguyễn Văn Cảo, ở Huế) từ năm 1976 khi ông còn là công nhân xây dựng cầu đường ở miền Trung. Sau khi “đắc đạo”, Nguyễn Phong Cư về quê Tình Cương sinh sống và góp phần truyền bá môn “võ bùa” này cho khá nhiều người.
Một vị cao thủ thứ 2 ở Tình Cương tên là Nguyễn Trần Cương, nhà ở xóm Chùa, làng Tình Cương, xã Tình Cương (kém ông Cư vài ba tuổi, nhà ở phía sau Tổ Đình Long Khánh hiện nay). Ông Cương khá kín tiếng và cũng đã chiêu nạp được một số “đệ tử” rồi huấn luyện “võ bùa”, ngồi thiền,… 
Những năm 1985 – 1986, có khá đông người từ khắp các nơi tụ tập về Tình Cương theo học môn Thất Sơn Thần Quyền do ông Cư và ông Cương hướng dẫn. Bên cạnh “cái được” của Thất Sơn Thần Quyền ở Tình Cương là xây dựng được phong trào tập luyện võ thuật nâng cao sức khỏe, tu thân tích đức,… thì cũng xuất hiện “cái chưa được” đó là “làm ảnh hưởng đến sản xuất và phong trào xây dựng nếp sống mới, gây mất trật tự an ninh ở địa phương”. Tháng 6 năm 1986, Công an huyện Cẩm Khê cho gọi 7 người có mặt ở các xã trong huyện đã vào “hội võ bùa” đến để giáo dục, kiểm điểm và cam kết từ bỏ. Phong trào tập luyện “võ bùa” từ đây không còn tấp nập như trước.
Ngày nay, thầy Nguyễn Văn Cảo cũng đã “ra đi cùng tiên tổ”, môn Thất Sơn Thần Quyền có còn hoạt động ở Tình Cương nữa hay không, có lẽ chỉ có ông Nguyễn Phong Cư và ông Nguyễn Trần Cương đều ở làng Tình Cương, xã Tình Cương mới chọn được câu trả lời chính xác.".
“ Phụng thỉnh năm non , bảy núi. Phụng thỉnh núi Sam, núi Sập, Núi Cấm , núi Két , núi Tô, núi Tổ . Phụng thỉnh Tà Lơn – Thất Sơn. Phụng thỉnh chư vị Phật Tổ. Phụng thỉnh Phật ông , Phật bà. Phụng thỉnh Phật Thầy , Phật cô. Phụng thỉnh bà Tổ , mẹ Tổ. Phụng thỉnh 5 ông Tổ . Phụng thỉnh Tam Giáo Đạo Sư . Phụng thỉnh tiền Tổ hậu Tổ . Phụng thỉnh thập nhị Tiên khai. Phụng thỉnh 12 vị Tổ. Phụng thỉnh Thiên binh , Thiên tướng . Phụng thỉnh thập nhị Sơn Thần. Phụng thỉnh 12 vị quan Tà á rặc. Phụng thỉnh Tà Muôn, Tà Bạch , Tà Gầm , Tà Hầm,  Tà Há , Tà Sấm , Tà Sét , Tà Két , Tà Rắn , Tà Hồng , Tà Sanh , Tà Sấm , Tà Sét , Tà Gầm , Lục Tặc Tà Hom , Tà Lơn ,Thất Sơn , Ông Lục Tà Rù , Ông Chúa lèo , Ông Tà Đỏ.Phụng thỉnh 12 đạo binh rừng, binh rú, binh mọi, binh rợ, tướng Lèo hồi cung thanh thỉnh. Hộ độ cho đệ tử tên … tuổi …được thành công đắc đạo.
Nam mô a di đà Phật.Hắc tô hắc nây – Ô ta thia ly âm.Cà thăn săn – rặc rặc ơ.Mơn mơn lừng lừng che.”
12 VỊ THẦN TÀ : 
Ông Tà có nguồn gốc từ kho tàng văn hóa của người Khmer. Đó là một vị thần mang tên Neak-ta, có quyền năng cai quản trong phạm vi phum sóc hoặc một khu vực rộng lớn hơn. Người Khmer cho rằng những thiên tai, bệnh tật đều do sự bất kính của con người đối với ông Tà. Mỗi lần đi ngang qua miễu ông Tà, họ đều giở nón, lột khăn và kính cẩn nghiêng mình.
Thần Neak-ta khi đi vào cách phát âm của người Việt đã được biến âm thành “Tà”, “ông Tà”. Té ra là vậy, khỏi phải suy nghĩ méo mó.
Theo khảo cứu của cụ Vương Hồng Sển, “Neak-ta có nhiều cấp bậc. Có những ông Tà được thờ nơi góc giường, chuyên lo chuyện trong nhà ngoài cửa. Có những ông lại lo việc cứu người bị rắn cắn. Lại có những Neak-ta có miếu thờ đàng hoàng ở các ngã ba, ngã tư đường hoặc đầu gành cuối bãi, trách nhiệm và địa vị cũng giống như thổ địa của người Việt”.
Trong quá trình cộng cư ở miền Tây Nam Bộ, người Việt, Khmer, Hoa đã có sự giao thoa văn hóa với nhau. Tục thờ ông địa và thần tài của người Việt xuất phát từ người Hoa, còn thờ ông Tà là của người Khmer.
Trong cuốn Nửa tháng trong miền Thất Sơn, tác giả Nguyễn Văn Hầu có đoạn ghi: “Ông Tà của người Miên cũng như ông thần của mình. Người ta tin rằng ông thần đã nhập vào viên đá mới xui khiến cho ai đó bắt gặp được mà đem về thờ. Bao giờ thần không muốn ở nữa thì bỏ mà đi và viên đá tự nhiên mất tích”. Tương truyền tại vùng biên giới Tây Nam, xưa kia có một cái miễu ông Tà rất linh, nhiều người thường mang tiền và lễ vật đến cúng, đặt trước các viên đá rồi bỏ về nhưng không ai dám trộm cắp vì sợ thần bẻ cổ.
Về lai lịch của ông Tà xưa nay có rất nhiều giai thoại thật huyền bí và hấp dẫn. Có người đồn rằng ông Tà được thờ trên bọng cây, nếu có ai đó bướng bỉnh, chơi cắc cớ đem ném xuống ruộng, nhất định vài hôm sau ổng sẽ trở về chỗ cũ.
Để có được một chỗ thờ trang nghiêm, bà con chọn một gò đất thật cao, xung quanh vắng vẻ để dọn nền cất miễu thờ ông Tà. Cạnh bên miễu thường trồng cây đa, cây xộp hoặc bụi tre để tạo bóng mát.
Với người Việt, bà con chấp nhận tục thờ ông Tà cũng giống như tục thờ thổ thần hoặc thần tài và ông địa, bởi vì ai cũng muốn trong nhà ngoài ngõ luôn có một vị thần trông coi việc gia cư, định đoạt phúc họa và mang lại an cư lạc nghiệp cho xóm làng. ( HOÀI VŨ ).
Thấm thoắt thời gian một tháng đã trôi qua trên đỉnh Cô Tô. Thày Chàm và các đồng Đạo đã làm lễ Hạ sơn cho tôi . Một chiếc bàn Tổ được bày ra trên sân tập, vài cái ghế cho các vị Sư phụ ngồi xung quanh, trầm hương, đèn nhang được đốt lên . Sau khi bày hương án, 4 vị chức sắc cao cấp nhất trong các vị Sư phụ làm chủ tế đồng loạt đốt hương khấn thỉnh rồi xin keo. Keo là 2 miếng gỗ hình móng ngựa tượng trưng cho lưỡng nghi âm dương. 4 vị Sư phụ ném keo xuống nền sân. Nếu cả 2 miếng keo cùng nằm sấp hoặc cùng nằm ngửa tức "Thần" chưa về. Nếu 1 miếng keo nằm sấp và 1 miếng nằm ngửa là "Thần đã về". Khi đã có tín hiệu báo Thần đã về , một vị Sư phụ vung dùi đánh 3 hồi trống "lệnh khai hội".
Tiếng trống "lệnh khai hội" vừa dứt, tôi đột nhiên rơi vào trạng thái vô thức nhập xác lên đồng. Ngay lập tức tôi như bay như lượn trên sân, phóng ra những đường quyền như vũ bão. Hết bay, nhẩy, đấm , đá liên tục , tôi tự nhiên phóng mình lên một cây mít nài cạnh đó và chỉ một cú vả, một đám to vỏ của cây mít Nài đã bị xé toạc ra, để lộ lõi gỗ trắng phếu. Trong đầu tôi tự nhiên những câu chú chạy qua chạy lại như điện xẹt : Xin na ca đi ;  Phúc di tô mi na da sử ; Nắc mô buốt thia dắc - Quýt tho gia ba phốp - Ca giá ba tích ming săn ăn ạ út…………..
Một loạt tiếng vỗ tay bất chợt nổi lên, tôi vội đọc Búp Tha để dừng quyền . Đứng trước bàn thờ Tổ , tôi nghiêm trang và dõng dạc đọc to lời thề của bản môn đã được học trước đó : 
16 ĐIỀU NGUYỆN TRỌN.
1/ Con nguyện hết lòng hiếu thảo với cha mẹ,
2/Con nguyện không phản lại môn phái Thất sơn Thần quyền.
3/Con nguyện không phản Đạo.
4/ Con nguyện không phản Thày.
5/ Con nguyện không ham mê tửu sắc.
6/Con nguyện không phản bạn , coi bạn như anh em ruột thịt.
7/ Con nguyện không ỷ mạnh hiếp yếu.
8/ Con nguyện hết lòng hiệp nghĩa .
9/ Con nguyện không cưỡng bách những người đã có chồng con.
10/ Con nguyện không làm điều gian ác.
11/ Con nguyện không tháo lui trước nguy hiểm , luôn bảo vệ kẻ yếu.
12/ Con nguyện không nản chí khi luyện tập học hành.
13/ Con nguyện nhịn kẻ mất lòng ta, ôn hòa trong tình bạn.
14/ Con nguyện không tự đắc , tự cao, tự đại.
15/ Con nguyện cứu người lúc lâm nguy.
16/ Con nguyện thi hành nghiêm chỉnh lời dạy của Thày.
Mười sáu lời thề trên con xin ghi khắc sâu vào trong lòng , chịu sự phanh thây , đui mù hai mắt nếu con không làm tròn . Con xin Thiên linh cái môn phái chứng cho.
Nam mô Quán thế âm Bồ tát ( 16x ).
Thề xong cầu các vị Thần về chứng giám :
+ Chơn Thần Thiên tự ( Chứng cho ).
+ Bắc sơn Đạo trưởng ( chứng giám ).
+ Chơn Thần Điện Bà - Thiên tự Đạo trưởng  ( chứng giám ).
+ Chơn Thần Lục hải Thiên tự  ( chứng giám ).
+ Chơn Thần Thất sơn - Đạo Thần Thiên tự  ( chứng giám ).
+ Chơn Thần 10 phương chư Phật  ( chứng giám ).
Nam mô Quán thế âm Bồ tát ( 16x ).
Cầu chứng cho con tên ....tuổi .....quê quán .....
Thày Chàm đưa cho tôi mấy lá Bùa để uống .
Luyện bùa xuất sư.
* Chế na nô thăn ngăn thăng măng a mọc măng. 
* Chế cà nô xa xa tế.
Đọc 3 thổi 1x 7 lần vào bùa cả 2 câu uống sống 30 ngày.
Sau đó một vị Sư phụ trong ban giám khảo quàng vào cho tôi một chiếc khăn đỏ xuất sư và ôm lấy tôi rất trìu mến. 
Ngày mai, hai Thày trò chúng tôi lại xuống núi trở về Tây Ninh . Mới có 1 tháng trên đỉnh Cô Tô này mà tôi có cảm giác vô cùng thân thương với từng gốc cây tảng đá . Tôi chợt lẩm nhẩm mấy câu thơ của Chế Lan Viên : 
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
                     Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
         Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”
Theo chân những đoàn quân của các Chúa Nguyễn, những nhà truyền giáo, các Pháp sư, Phù thủy từ miền Bắc Việt Nam mang theo những bí thuật Huyền môn của mình kết hợp với Huyền môn bản địa mà tạo ra những trang sử huy hoàng của giới Huyền môn Việt Nam.
Như vậy ta thấy rằng , kể từ 1558, khi Chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu Nam tiến , Phật pháp và Huyền môn Việt Nam đã vận động được một vòng tròn hoàn chỉnh . 
Do tiếp nhận những kiến thức của rất nhiều vùng địa lý, của nhiều dân tộc mà Huyền môn có nhiều chi phái khác nhau , mang nhiều tên gọi khác nhau. Tuy nhiên ta có thể thấy về Phật quyền và Thất sơn thần quyền có nguồn gốc xuất xứ khác nhau nhưng có những điểm chung về nguyên tắc cơ bản như sau :
1/ Tuy là một môn võ có những đòn thế siêu đẳng, nhưng Phật quyền và Thất sơn thần quyền các môn phái này chủ yếu là để tự vệ ,không được đánh người ,không được ngạo mạn ỷ lại hiếp đáp người cô thế .Luật của các phái cũng hết sức nghiêm minh ,ai vào thọ giáo phải đứng trước tổ thầy đọc các lời thề về giử gìn đạo đức và tôn kính Trời Phật Thánh Thần , rất nguy hiểm khi có đệ tử nào vi phạm thì khó tránh khỏi kiếp nạn do chính mình chọn ra. Ngoài ra còn phải kiêng cử trong ăn uống tuỳ theo môn phái bùa có quy định, như : Chó ,Trâu ,Mèo là phải kỵ tuyệt đối , còn nhiều thứ khác phải kiêng kỵ tuỳ theo môn phái của mình.
2/ Trước khi tập thì môn sinh đều phải cầu Thầy Tổ về trợ giúp. các Thày Tổ ở đây với mỗi một môn sinh là khác nhau, không ai giống ai cả. Theo hiểu biết của dienbatn thì những Thày Tổ này là những vị Thày Tổ từ nhiều căn kiếp trước đã từng dạy cho người đó, nay cầu về, các ngài tiếp tục dạy hay trực tiếp phát công , phát ra những thế đánh của bản môn Thầy Tổ đó .
3/ Trong Phật quyền và Thất sơn thần quyền : Quan trọng nhất vẫn không phải học quyền mà là .... học Đạo . Trong việc học Đạo, ngoài các Giáo lý nhà Phật ra, môn sinh đều có những bài tập về đọc chú ,  luyện khí, luyện gồng, luyện một số công năng đặc di khác .
4/ Theo các vị sư phụ của dienbatn truyền lại, Phật quyền và Thất sơn thần quyền ngày xưa có tới 7 nhánh : Tuy cùng là thờ các vị chư Phật, chư Bồ tát nhưng 7 nhánh này chia ra luyện chuyên sâu theo từng vị Phật mà chi nhánh đó nhận làm Tổ . Các nhánh đó lần lượt nhận các chư Phật sau làm Thầy Tổ :
* Đức Di Lặc Phật Vương, 
* Đức Tây phương cực lạc A Di Đà Phật.
* Đức Phật Quán thế âm Bồ tát.
* Đức Đại Phổ hiền Bồ tát.
* Đức Đại Thế chí Bồ tát.
* Đức Phật mẫu Chuẩn đề vương Bồ tát.
* Đức Bồ tát tôn giả Mục Kiền Liên.
Trải qua nhiều thăng trầm của thời gian, ngày nay ta chỉ còn thấy nhiều nhất là hai nhánh võ phái nhận Thày Tổ là : Đức Phật Quán thế âm Bồ tát  và Đức Phật mẫu Chuẩn đề vương Bồ tát. Riêng phái nhận  Đức Đại Thế chí Bồ tát chỉ còn tại một vài nơi hẻo lánh và có môn quy rất nghiêm ngặt hầu như những người lạ khó xâm nhập vào được.
5/ Cũng theo những gì dienbatn được truyền lại : Khi điểm Đạo cho học trò Phật quyền và Thất sơn thần quyền , các vị chân sư phải truyền dẫn nội công , khai mở 7 luân xa  :
1. Luân xa thứ Nhất: Muladhara chakra (sanskrit). Vị trí nằm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục, tương đương với huyệt Hội Âm là hội hiệp các âm linh của châm cứu học. Nó được biểu hiện bằng một bông sen bốn cánh màu đỏ, chủng tự tiếng sanskrit của nó là LAM. Luồng hỏa hầu Kundalini nằm phục ở đây. khi thành tựu phép quán tưởng luân xa này, sẽ làm chủ được địa đại, tiêu trừ nghiệp quá khứ, biết được ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, thọ hưởng niềm hoan lạc tự nhiên.
Ở đây Ngài A Di Đà làm chưởng Quản tiếp dẫn những giác linh, chơn linh, hương linh, vong linh về cảnh giới của Ngài, ngài cho xuất gia.
2. Luân xa thứ Hai: Svadhisthana chakra. Vị trí nằm dưới rốn chừng bốn ngón tay, tương đương với huyệt Đan Điền , biểu hiện bằng bông sen sáu cánh màu cam, chủng tự là VAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này sẽ làm chủ được thủy đại và các giác quan, biết được cảnh Trung giới (monde astral).
Chưởng quản ở đây là ngài Cam Lồ Vương Như Lai, khi chúng ta đến cảnh giới nầy thì chúng ta sẽ được học phép thắng tất cả: Tham ái, giận hờn, ngã mạn, ganh tỵ và các phiền não khác đều được tiêu trừ. Vượt thoát tử thầncủa các cõi. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng hai nầy lảnh sắc lệnh lên tầng thứ ba.
3. Luân xa thứ Ba: Manipura chakra. Vị trí ở giữa rốn tương đương với huyệt Thần khuyết. Biểu hiện bằng bông sen mười cánh màu vàng, chủng tự là RAM. Chưởng quản ở đây là Ngài Ly Bố Úy Như Lai, ở đây Chúng ta học phép thành tựu phép làm chủ hỏa đại, không còn sợ lửa thiêu đốt, hoàn toàn thoát khỏi ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng ba nầy lảnh sắc lệnh lên tầng thứ tư.
4. Luân xa thứ Tư: Anahata chakra. Vị trí ở giữa ngực, tương đương với huyệt Ðản trung. Biểu hiện bằng bông sen mười hai cánh màu xanh lá cây, chủng tự là YAM. Chưởng quản ở đây là Ngài Quảng Bác Thân Như Lai, ở đây ngài dạy chúng ta học phép Thành tựu làm chủ phong đại, tùy ý bay lượn trong không gian hoặc chui nhập vào thân người khác, đầy đủ đức tính của chư thiên và tình thương vũ trụ. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng bốn nầy lảnh sắc lệnh lên tầng thứ năm
5. Luân xa thứ Năm: Visuddha chakra. Vị trí ở ngay dưới cổ, tương đương với huyệt Thiên đột. Biểu hiện bằng bông sen mười sáu cánh màu xanh da trời. Chủng tự là HAM. Chưởng quản ở đây là ngài Diệu Sắc Thân Như Lai, ở đây chúng ta được học phép Thành tựu làm chủ không đại, thân thể không bao giờ tàn hoại, ngay cả khi thế gian bị tiêu diệt, đạt được trí huệ thông suốt tất cả kinh điển vô tự và ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng năm nầy lảnh sắc lệnh lên tầng thứ sáu
6. Luân xa thứ Sáu: Ajna chakra. Vị trí ở giữa hai chân mày nơi mà huyền môn thường gọi là con mắt thứ ba, tương đương với huyệt Ấn đường. Biểu hiện là bông sen hai cánh màu xanh nước biển, chủng tự là A. Chưởng quản ở đây là Ngài Bảo Thắng Như Lai ở đây chúng ta được học phép trở thành người hoàn toàn giải thoát liền đắc cái trí bửu pháp tánh bực vô thượng. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng sáu nầy lảnh sắc lệnh lên tầng thứ bảy
7. Luân xa thứ Bảy: Sahasrara chakra. Vị trí ngay trên đỉnh đầu, tương đương với huyệt Bách hội. Biểu hiện bằng bông sen ngàn cánh màu tím, trắng, vàng. Chủng tự là OM. Khi luồng hoả hầu Kundalini chạy lên tới đây, Chưởng quản ở đây là Ngài Đa Bảo Như Lai , ở đây chúng ta được học phép trở thành một bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Hòa đồng Vũ Trụ gọi là Đạo. lúc nầy chúng ta chứng quả thượng thừa của tầng bảy nầy lảnh sắc lệnh ra ngoại Càn Khôn Vũ Trụ.
" Có một cấp bậc điểm đạo tối cao siêu đẳng mà người môn đồ khi đã đạt tới trình độ đó không chỉ được tạm thời giải thoát khỏi thể xác vật chất để chứng minh sự tồn tại của linh hồn, mà còn được đưa lên những cảnh giới thanh cao nhất, hòa nhập hoàn toàn với đại thể của vũ trụ. Kinh nghiệm huyền diệu đó giúp phá vỡ sự cố chấp hữu hạn của con người và do đó mới có thể tiếp xúc với sự hiện hữu chân thật trường cửu của hết thảy mọi sinh thể. Trong một thời gian ngắn, người môn đồ được cảm thông trong im lặng và một cách thần diệu với thực thể của muôn loài; sự tiếp xúc tuy ngắn ngủi, nhưng giây phút cảm thông huyền diệu đó cũng đủ làm cho người ta thay đổi hoàn toàn quan điểm đối với cuộc đời. Người môn đồ ấy đã chia sẻ một phần cái ân huệ thiêng liêng nhất mà con người có thể nhận được. Người ấy xem như đã khám phá được cái ánh sáng huyền diệu thiêng liêng, là cái tinh hoa rốt ráo vi diệu của bản thể, mà so với nó thì thể xác vật chất này chỉ là giả tạm và vô nghĩa. Vì thế, người môn đồ sau khi được điểm đạo đã thật sự được hồi sinh trở lại, theo đúng ý nghĩa cao cả nhất của danh từ này. 
Như thế, cuộc điểm đạo là sự đạt tới một viễn cảnh mới của cuộc đời, cái viễn cảnh tâm linh mà nhân loại đã đánh mất trong thời dĩ vãng xa xăm, khi rơi từ “Thiên đàng” xuống cõi vật chất. Khoa huyền môn giúp ta thực hiện sự trở về nguồn cội ngay từ bên trong, và đưa ta đi tuần tự từ bước một đến sự giác ngộ hoàn toàn. Khoa huyền môn hé mở cho ta thấy trước hết là những cảnh giới tâm linh huyền bí vượt ngoài giới hạn nhận biết trong cõi vật chất của trần gian, và sau đó tiết lộ cho ta những điều huyền diệu rốt ráo và tính chất thiêng liêng của tâm thức con người. Khoa huyền môn giúp cho người môn đồ nhìn thấy được những cảnh giới dường như địa ngục âm ty để thử thách tâm trí và lòng kiên quyết, cũng như để người ấy được có dịp học hỏi và mở rộng tầm nhận thức. Kế đó, người môn đồ được nhìn thấy những cảnh giới Thiên đàng tốt đẹp để khuyến khích và ban ân huệ. Nếu khoa huyền môn vẫn phải dùng đến phương tiện đồng thiếp thì điều đó không có nghĩa là không còn phương pháp nào khác. Đó chỉ là một phương tiện được áp dụng, nhưng cảnh giới tâm linh có thể được đạt tới bằng nhiều phương cách khác nữa, và không cần phải áp dụng phương pháp xuất thần. 
Tuy nhiên, lịch sử của nhân loại luôn luôn theo định luật chu kỳ, những gì đã từng xảy ra, sẽ tái diễn trở lại. Một lần nữa, con người đã trải qua một thời kỳ hỗn loạn và hắc ám, trong khi đó lại cảm thấy một sự băn khoăn bất mãn do nhu cầu tự nhiên của bản tính con người là muốn lặp lại sự giao tiếp với cảnh giới tâm linh huyền diệu huy hoàng. Bởi vậy, tôi hy vọng rằng những điều kiện sẽ có thể được tạo nên, những hoàn cảnh thuận tiện sẽ đến và những nhân vật đủ thẩm quyền và khả năng sẽ xuất hiện, để nhờ đó mà một lần nữa trên địa cầu này sẽ được tái lập tổ chức huyền môn, dưới những hình thức hoàn toàn mới mẻ tân kỳ, để cho được phù hợp, thích ứng với thời đại tân tiến hoàn toàn khác hẳn với thời đại cổ xưa. "
" Những vị đạo đồ trong khoa huyền môn thời cổ phải long trọng tuyên thệ là không bao giờ tiết lộ những gì xảy ra bên trong thánh điện thâm nghiêm huyền bí. Ta nên nhớ rằng, dù sao thì lễ điểm đạo cũng chỉ được cử hành mỗi năm cho một số rất ít môn đồ. Sự hiểu biết giáo lý mật truyền không bao giờ được ban bố cho nhiều người cùng một lúc. Bởi lẽ đó mà không một nhà văn thời cổ nào đã đưa ra được một tường trình đầy đủ và mạch lạc về những gì được gọi là giáo lý huyền môn, vì các vị môn đồ luôn giữ đúng lời cam kết một cách chặt chẽ. 
Những chân lý được truyền dạy trong các đạo viện huyền môn là do sự tiết lộ mà các đấng thánh nhân dành cho nhân loại từ lúc phát sinh những nền văn minh cổ xưa nhất, và nay giáo lý huyền môn cần được giữ gìn nguyên vẹn để duy trì sự tinh khiết của nó. Như thế, người ta hiểu tại sao khoa huyền môn được ẩn giấu cẩn mật và giữ gìn chặt chẽ ngoài tầm tay của kẻ thế nhân phàm tục. 
Tại sao những vị đạo trưởng lại có một sự dè dặt vô cùng chặt chẽ như thế? Đó là vì những lý do mà chỉ có các ngài mới có thể biết được. Dù sao, các ngài hẳn là thấy cần phải loại những kẻ hoài nghi và bỡn cợt ra ngoài những kinh nghiệm thần bí dẫy đầy nguy hiểm cho tánh mạng của người thí sinh. Người ta không trao những viên ngọc quý cho kẻ tầm thường. 
Ngoài ra, rất có thể là có nhiều người, vì không đủ sự chuẩn bị sẵn sàng cho một kinh nghiệm như thế, sẽ trở nên điên cuồng hoặc thiệt mạng sau cuộc thử thách. Bởi đó, lễ điểm đạo luôn luôn chỉ là đặc ân dành cho một số ít người xứng đáng. Nhiều người đã gõ cửa cầu xin điều đó ở các đền huyền môn nhưng vô ích. Những người khác, bị đặt dưới hàng loạt những cuộc thử thách sơ đẳng mỗi lúc một khó khăn hơn, không có đủ sự gan góc cần thiết để tiến xa hơn nữa, hoặc cảm thấy lòng ước muốn điểm đạo nguội bớt dần. 
Về sau, sự sa đọa vật chất của con người đã làm cho các vị đạo trưởng chân chính của thời xưa dần dần biệt tích hoặc rút lui ra ngoài vòng thế tục, và thay chân các ngài là những kẻ phàm phu mê muội, làm hoen ố và hạ thấp khoa huyền môn cao cả. Những kẻ bất chính, có tham vọng đạt được những phép thần thông của bàng môn tả đạo, sau cùng đã chiếm ưu thế để giành quyền kiểm soát các đạo viện huyền môn ở Ai Cập và những nơi khác. 
Những gì từ lúc nguyên thủy vốn là thiêng liêng, chỉ dành cho những người chọn lọc nhằm mục đích duy trì ngọn lửa thiêng tinh khiết của sự sống tâm linh cho được trường cửu trong nhân loại, đã lọt vào tay những kẻ tà tâm, buôn thần bán thánh. Đó là những sự kiện lịch sử, làm cho cái kho tàng tâm linh quí báu của nhân loại thời cổ xưa đã trở nên suy tàn. " -( Theo Ai Cập huyền bí ).
Chính vì vậy ngày xưa Thầy Tổ có truyền lại :
" Một đêm nọ Thày tôi đã dặn:
Này Chân sư , Pháp sư con nghe ta dạy,
Ấn tướng và Pháp chú - Là bí mật hiển vi.
Của Phật , Hiền, Thánh chúng.
Có cảm thì có ứng,
Và không thể giải thông.
Cũng không thể tạo khuôn,
Đệ tử muốn gia trì,
Hoặc truyền Đạo đại chúng.
Nên nhớ là lúc tập và lúc niệm,
Năng tinh tấn chuyên cần.
Và hành nơi vắng lặng.
Không cho ngoại Đạo niệm.
Bởi ấy sinh lòng tà,
Khinh khi hoặc khích nhiễu.
Đây là một nghiêm luật.
Đệ tử chiếu phụng hành . " 
LỜI KẾT.
Bùa chú là khoa học của người xưa đã được loài người tin dùng và lưu truyền trong chốn nhân gian  tại các Quốc gia cho tới ngày hôm nay. " Cái gì tồn tại lâu dài , dai dẳng - Tự bản thân nó đã có lý " . 
Những kẻ ác tâm thì thường thích học Bùa ếm , còn những người thiện tâm hay cầu học Bùa giải. Hai mặt ÂM - DƯƠNG cùng tồn tại trong một thể thống nhất của Vũ trụ. " Nhất âm - Nhất Dương chi vi Đạo " ( Một Âm - Một Dương mới là Đạo ). Nếu biết dùng Bùa ếm để trấn ếm kẻ tà tâm , độc ác , bắt họ phải hồi tâm , phục thiện , làm  việc nhân đức thì cái ác đó không hẳn là ác. Đó là cái Đại Hùng, Đại Lực của những người thay Trời hành Đạo . Ngày nay những người không được chân truyền , lợi dụng danh nghĩa Bùa chú làm những điều sai trái đạo đức , khiến cho dân lành gặp nhiều khốn khó, dư luận lên án , xã hội chê cười . Chính vì vậy khi nghe tiếng Bùa chú người ta thường dị ứng với điều đó.
 Thất sơn Thần quyền nói chung và Thần quyền lục pháp nói riêng ít được phổ biến vì chưa tìm được những người có tâm linh đạo đức tốt để truyền dạy. Các Đấng chân Sư có lời than rằng : Những môn học về thần bí sau này , chỉ lưu lại rất ít trong sách vở hay được các học trò cất giữ trong lòng ...thật đáng tiếc và buồn thay cái vốn quý báu của ông cha dần dần bị mai một và quên lãng.
" Mọi người nên tìm hiểu đạo lý chân chánh của Bùa chú để kẻ tà tâm không còn cơ hội lừa bịp ".
Đó cũng chính là mục đích của dienbatn khi đăng tải loạt bài này. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã theo dõi.
Loạt bài này còn khá nhiều phần nữa về các dòng phái Huyền môn Nam tông tại Việt Nam . Hẹn các bạn khi nào có dịp, dienbatn xin tiếp tục.
Thân ái . dienbatn.
PHẦN 3 : NHỮNG CUỘC LỮ HÀNH.
Xin theo dõi tiếp bài 30 sắp tới , dienbatn.

MỤC LỤC BÀI CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC PHÁP SƯ VÀ HAI CÕI ÂM DƯƠNG. 

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_05.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4448.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3025.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3780.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_06.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_39.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3191.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6505.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_5240.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3794.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_4349.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_6589.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-1.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2010/03/nhung-nam-thang-hoc-huyen-mon-bai-2.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_25.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_71.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/10/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_14.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_1.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_51.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_3.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_85.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_46.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_80.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_40.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_67.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_88.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_10.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_72.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_11.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2017/11/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi_19.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/07/cuoc-chien-giua-cac-phap-su-va-hai-coi.html

 

 

 

 

 

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *