GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 4.

6/22/2020 |
GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. 
BÀI 4.
I. NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH KHỞI PHÁT CỦA 9 ĐỜI CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.

1/KHÁI NIỆM VỀ LĂNG TẨM VÀ LĂNG MỘ :
Lăng nghĩa đen là cái gò cao, như trong mấy chữ “ như cương như lăng “của thơ Tiểu Nhã trong Kinh Thi vậy. Chữ  “Lăng “ trong danh từ Lăng tẩm có nghĩa là Mộ. Sách Quốc Ngữ , phần Tề ngữ có câu : “ Lăng chi vi chung “ , nghĩa là làm mộ để chôn cất. Sách Thủy kinh Vị thủy nói : Đời Tần gọi mộ Vua là Sơn , đời Hán gọi là Lăng ( Tần danh Thiên tử chủng viết Sơn , Hán viết Lăng ). 1. gò, đồi.2. mộ của vua .3. bỏ nát .Mả vua. Nhà Tần 秦 gọi mả vua là “sơn” 山, nhà Hán 漢 gọi là “lăng” 陵.lăng tẩm” 陵寢.
Về sau chữ Lăng chỉ riêng mộ Vua , Chúa , như nhà Minh có Thập tam Lăng , ở phí Bắc châu Xương Bình , nhà Thanh có Đông Lăng Tây lăng ở tại Huyện Tuân Hóa phía Đông và phía Tây Bắc Kinh  và tại Lại Thủy , cách Vạn lý trường thành 50 dặm. Những “ Sơn Lăng “ , “ Lăng viên” , “ Lăng tẩm “ đều chỉ vào các mộ Vua. Tẩm nghĩa đen là ngủ , là nghỉ ngơi hay phòng ngủ.Nó lại có nghĩa là cái phòng để bài vị người chết. Phòng ấy được chia làm 2 phòng nhỏ , phòng bên ngoài gọi là Miếu , có cửa thông vào phòng bên trong đóng kín .
Chữ Tẩm dùng đi đôi với chữ Lăng , còn có nghĩa là ngọi nhà dững gần bên mộVua để làm nơi thờ phượng. Sách Sử Ký nói : Đến đời nhà Tần mới xây dựng Tẩm một bên mộ , nhà hán cũng theo nhà Tần chế cũng có những viên tẩm ( Chi Tần thỉ xuất Tẩm khởi ư mộ trắc . Hán nhân Tần chế, Thượng Lăng gia hữu viên Tẩm ).
 Lăng Tẩm là nơi xây nhiều miếu , điện , lầu , gác , đình tạ...để nhà Vua lúc còn sống , thỉnh thoảng rời bỏ Hoàng cung lên đây để tiêu khiển. Có thể xem khu vực Lăng Tẩm như một hành cung hay Hoàng cung thứ 2 của ông Vua đang tại vịKhi Vua băng hà , tất cả những công trình kiến trúc trong khu vực Lăng Tẩm phải bảo lưu nguyên vẹn để thờ phụng đấng Quân Vương. Xem như Vua vẫn còn sống và đám phi tần trong Hoàng cung phải lên đây ăn ở để hương khói , phụng sự cho đến trọn kiếp. Như vậy sau khi Vua băng hà Lăng Tẩm và Lăng Mộ mới trở thành cõi riêng của người đã chết.
2/VÀI NÉT VỀ LONG MẠCH KHU MỘ 9 ĐỜI CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.
Sông Hương hay Hương Giang (Hán Nôm 香江) là con sông chảy qua thành phố Huế và các huyện, thị xã: Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang đều thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam.
Sông Hương có hai nguồn chính đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn.Dòng chính của Tả Trạch dài khoảng 67 km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Đông, ven khu vực vườn quốc gia Bạch Mã chảy theo hướng tây bắc với 55 thác nước hùng vĩ, qua thị trấn Nam Đông rồi sau đó hợp lưu với dòng Hữu Trạch tại ngã ba Bằng Lãng (khoảng 3 km về phía bắc khu vực lăng Minh Mạng). 
Sông Tả Trạch là phụ lưu hợp thành của sông Hương, chảy ở tỉnh Đà Nẵng và Thừa Thiên-Huế, Việt Nam .Sông có chiều dài khoảng 70 km, chảy qua và làm một đoạn ranh giới tự nhiên giữa các huyện, thị Phú Lộc, Hương Thủy và Hương Trà. Sông bắt nguồn từ dãy Bạch Mã ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang, Đà Nẵng . Đoạn từ thượng nguồn đến xã Hương Lộc có tên gọi sông Ba Ran, chảy theo hướng Tây vào Huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế. Đến địa phận thị trấn Khe Tre, Nam Đông sông đổi hướng chảy theo hướng Tây Bắc qua huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Hương Trà và hợp lưu với sông Hữu Trạch tại xã Hương Thọ, Hương Trà đổ vào sông Hương .
Hữu Trạch dài khoảng 60 km là nhánh phụ, chảy theo hướng bắc, qua 14 thác và vượt qua phà Tuần để tới ngã ba Bằng Lãng, nơi hai dòng này gặp nhau và tạo nên sông Hương. Sông bắt nguồn từ xã vùng núi A Roàng, huyện A Lưới. Từ đây sông chảy theo hướng Đông đến địa phân tiếp giáp với thị xã Hương Thủy, đổi hướng sang hướng Bắc chảy đến xã Bình Thành (thị xã Hương Trà) đổi sang hướng Đông và hợp lưu với sông Tả Trạch tại xã Hương Thọ thị xã Hương Trà thành sông Hương .
Từ Bằng Lãng đến cửa sông Thuận An, sông Hương dài 33 km và chảy rất chậm (bởi vì mực nước sông không cao hơn mấy so với mực nước biển). Khi chảy quanh dọc chân núi Ngọc Trản, sắc nước sông Hương xanh hơn – đây là địa điểm Điện Hòn Chén. Tại đây có một vực rất sâu.
Sông Hữu Trạch: Bắt nguồn từ nơi có độ cao khoảng 500m ở vùng núi thấp phía Đông A Lưới - Nam Đông, chảy theo hướng Nam Bắc cho đến Bình Điền, từ Bình Điền sông đổi sang hướng Tây Nam - Đông Bắc và cuối cùng hội nhập với sông Tả Trạch ở ngã ba Tuần. Tính đến ngã ba Tuần chiều dài dòng chính là 51km, diện tích lưu vực là 729km2 và độ dốc bình quân lòng sông chính là 9,8 m/km.
Sông Tả Trạch: Là nhánh sông chính bắt nguồn từ vùng núi trung bình huyện Nam Đông với độ cao tuyệt đối 900m. Sông chính chảy theo hướng chung Nam Đông Nam - Bắc Tây Bắc cho tới ngã ba Tuần thì hội nhập với sông Hữu Trạch và trở thành sông Hương. Từ đây sông Hương uốn lượn quanh co qua kinh thành Huế và đến Bao Vinh lại chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc để rồi sau đó hội lưu với sông Bồ tại ngã ba Sình trước khi đổ ra phá Tam Giang và chảy ra biển theo hai cửa Thuận An và Tư Hiền. Tính đến Dương Hoà, chiều dài dòng chính là 54km, diện tích lưu vực là 717km2 và độ dốc bình quân lòng sông chính là 16,5m/km. Nếu tính đến nơi đổ ra phá Tam Giang, sông chính có chiều dài là 104km, diện tích lưu vực là 2.830km2 và độ dốc bình quân lòng sông là 8,65m/km.
Ta hãy quan sát các bản đồ vệ tinh sau sẽ thấy sức mạnh của Long mạch chảy theo 2 con sông Tả - Hữu Trạch đổ vào sông Hương :
Đầu nguồn sông Hữu Trạch:




Đầu nguồn sông Tả Trạch:




Đầu nguồn sông Tả - Hữu Trạch:
Tả - Hữu trạch nhập chung thành sông Hương.
Chùa Thiên Mụ là nơi trấn giữ khúc Long mạch đi ngang ( đại cuộc đất là Hoành Long.)




Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.
Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía Kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có Án, có tả Thanh long, hữu Bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.
Phong thủy vùng Kim Long .
Quốc sử quán triều Nguyễn chép: vào năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan (tức chúa Thượng) thấy đất Kim Long là nơi “có địa hình tốt đẹp” nên đã dời dinh đến đó và Kim Long trở thành thủ phủ đầu tiên đóng bên bờ tả ngạn sông Hương. Nhìn qua bên kia hữu ngạn thấy đồi Long Thọ hiện lên với thế núi đặc thù “khóa giữ thượng lưu sông Hương và được các nhà địa lý gọi là kiểu đồi “thiên quan địa trục” – nghĩa là trổ cửa lên trời và là trục xoay của các vùng đất (Đại Nam nhất thống chí).
Địa thế phong thủy ấy cũng được học giả Cadìere ghi nhận khi ông đứng từ kinh thành Huế nhìn xa xa tới đường chân trời phía nguồn sông Hương thấy những ngọn đồi và đỉnh núi dãy này nối tiếp dãy kia trùng điệp vắt ngang tầm mắt, màu sắc thay đổi theo từng ngày nắng, ngày mưa, khi thì nâu nhạt, lúc xanh thẫm, tựa hồ bức tranh bốn mùa sinh động.
Giữa bức tranh cẩm tú mênh mang ấy là một con sông chạy đến gần đất Huế, trải mình ra giữa hai ngọn đồi: “một bên là ngọn đồi Thiên Mụ (Hà Khê) với tháp Phước Duyên, bảy tầng ngất ngưỡng như chọc thủng trời xanh để đưa xuống những nguồn phúc lộc, và bên kia hữu ngạn là mô đất Long Thọ – trường sinh bất tử. Mô đất này cũng có những đặc tính nhiệm màu kỳ lạ mà sau này các thầy địa lý của triều đình Việt Nam cũng công nhận. Vì nó án ngữ nguồn chảy của sông Hương, tưởng như nó đang gối đầu lên dòng nước và nghiêng nghiêng đối diện với đồi Thiên Mụ tạo thành một thế phong thủy gọi là cánh cửa thông thiên và trục xe địa phủ” (Đỗ Trinh Huệ dịch).
Như vậy, đồi Long Thọ (hữu ngạn) cùng đồi Hà Khê (tả ngạn) nhô lên khỏi đất bằng để ôm lấy dòng nước sông Hương đang êm đềm đổ xuống, tạo nên cảnh trí thơ mộng cho các vùng đất hai bờ, trong đó có Kim Long. Xét sách địa lý gia truyền của cụ Tả Ao, thì: có núi mà không có nước sẽ thành cảnh “cô sơn” – ngược lại có nước mà không có núi sẽ thành “cô thủy” (Hữu sơn vô thủy, vị chi cô sơn – Hữu thủy vô sơn, vị chi cô thủy).
Tốt nhất vừa có núi vừa có sông nước liền nhau để núi nghênh thủy (sơn cố thủy) và thủy in bóng núi (thủy cố sơn) mới thật là đất tốt (dung kết chi địa dã). Vậy Kim Long có đủ yếu tố “sơn thủy” như cụ Tả Ao nêu. Mà thủy ở đây với thế “tĩnh” và “tụ” nên sinh ra người trong vùng thanh lịch, giàu có (thủy tĩnh nhân tú - thủy tụ nhân phú) khác với chỗ nước xoáy xô bồ ào ạt, hoặc nước chảy rì rào như tiếng khóc tỉ tê suốt ngày sẽ sinh ra kẻ bần tiện, đói nghèo (thủy trọc nhân mê – thủy khứ nhân bần). Thật vậy, cuộc đất Kim Long từ khi trở thành thủ phủ. Sau này, khi thủ phủ dời về Phú Xuân (cũng nằm bên tả ngạn sông Hương), Kim Long vẫn để lại các tên đất gợi nhớ thời lập phủ như: Thượng Dinh, Trung Dinh, Hạ Dinh, Cồn Kho, Mô Súng, vườn Nghênh Hôn … Và vua Thành Thái đã đến đó góp một trang “tình sử”.
Địa thế phong thủy cùng tài năng chúa Nguyễn đã đưa Kim Long thành trung tâm hành chính, quân sự của đất Nam Hà một thời. Để tìm hiểu điều ấy, thiết tưởng chúng ta hãy xem qua những ghi chép khách quan của người châu Âu đương thời từng đến đó. Chúng tôi muốn nhắc đến học giả, nhà truyền giáo dòng tên (Jésuite): Alexandre de Rhodes – đã có mặt tại Kim Long khoảng những năm 1640 – 1645 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan. Ông là tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, biên soạn sau ngày đến Kim Long, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa của người Việt thế kỷ 17. Chính ở Kim Long, Alexandre de Rhodes yết kiến chúa Nguyễn Phúc Lan và tận mắt nhìn thấy sinh hoạt trong phủ chúa cũng như ngoài dân chúng và kể lại trong một cuốn sách xuất bản tại châu Âu.
Trong tác phẩm đó, ông mô tả quang cảnh Kim Long như một “thành phố lớn” (cette grande ville) với đông đúc dân cư, nhà cửa, phố xá, chợ búa, bến nước và buổi lễ đón tiếp những người Tây Ban Nha, những nữ tu và ông vào buổi chiều tháng 2.1645 bên bờ sông Hương: “Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) và phu nhân trong trang phục quý phái, lộng lẫy cùng đông đảo các vị quan lớn trong phủ Kim Long có mặt tại buổi đón tiếp. Có ngót 4000 lính chia làm 4 đội sắp hàng chỉnh tề, khéo léo, không che khuất chỗ chúa Thượng và phu nhân đang đứng. Những đội cận vệ đứng sát để bảo vệ chúa, ai nấy đều cầm trong tay một thanh đao có gắn chuôi bằng bạc và mặc áo bằng nhung màu tím có thắt đai vàng ngang bụng, đứng nghiêm chỉnh và im phăng phắc. Khi đoàn Tây Ban Nha đến, chúa cho phép hết thảy binh lính của mình ngồi xuống đất, xếp bằng lại để buổi lễ bắt đầu. Chúa sai mang đến cho mỗi người một phần trà đựng trên các khay sơn son thếp vàng bóng loáng”.
Chúa Thượng cũng mời Alexandre de Rhodes và những người trong đoàn bữa tiệc theo cung cách cung đình với rất nhiều món ăn sang trọng. Yến tiệc được bày ra với các vũ nữ Kim Long vây quanh biểu diễn các điệu múa điêu luyện khiến những người Tây Ban Nha có mặt phải trầm trồ khen ngợi. Mãi đến khi trời sập tối, chúa ra lệnh thắp đuốc sáng rực khắp dinh. Các dịp tiếp theo, chúa Thượng đã cho diễu binh trên bộ với khoảng 6000 binh lính và dân chúng tham gia đi rợp cả “thành phố lớn” Kim Long. Cùng lúc dưới nước chúa cho tập trận với 20 chiến thuyền lướt như bay trên mặt sông Hương.
Sau này vị trí của thủ phủ Kim Long mà Alexandre de Rhodes ghi lại được nhiều nhà nghiên cứu định vị, chẳng hạn: “có lẽ thủ phủ của chúa Nguyễn lúc ấy tọa lạc tại vùng đất từ chợ Kim Long lên đến gần làng Xuân Hòa (…) đã được sông ngòi bao bọc cả 4 bề: trước mặt là sông Hương, bên trái là sông Kim Long, bên phải và phía sau là sông Bạch Yến” (Phan Thuận An). Một tác giả khác, nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải, trong tài liệu về “Thủ phủ Kim Long và diện mạo của Huế trước 1687”in trong tuyển tập Cố đô Huế xưa và nay (NXB Thuận Hóa 2005) nhắc đến 4 lần chúa Nguyễn dời dựng, thay đổi vị trí thủ phủ trước khi chuyển đến Kim Long, đó là Ái Tử (1558 – 1570), Trà Bát (1570 – 1600), Dinh Cát (1600 – 1626), Phước Yên (1626 – 1636) và nhận định:
“Địa danh Kim Long mà chúng tôi nói ở đây là làng Kim Long (chứ không phải phường Kim Long) có diện tích tổng cộng chừng 130ha, nằm ở tả ngạn sông Hương, một vùng đất trù phú màu mỡ, vị trí thuận lợi, cảnh sắc trữ tình. Căn cứ vào các nguồn tư liệu, nhất là gia phả của các dòng họ lâu đời ở Kim Long, thì làng đã được thành lập cách đây trên dưới 400 năm và là kết quả của việc mở rộng và tách ra từ làng Hà Khê (nơi có chùa Thiên Mụ và long mạch nhà Nguyễn) (…) Trong địa phận của làng Kim Long, ngoài sông Hương ở phía Nam còn có sông Kim Long (tức sông lấp) ngăn cách làng Phú Xuân và Vạn Xuân, và sông Bạch Yến chảy ngang qua giữa làng. Cả hai con sông này đều là các chi lưu của sông Hương, chúng vừa tạo nên vẻ đẹp trữ tình của vùng đất này, vừa tạo nên địa thế rất “đắc lợi” của Kim Long là “tứ thủy triều quy”…
Nghĩa là bốn dòng nước tụ về dưới chân những trái núi quanh cuộc đất Kim Long phù hợp với điều cụ Tả Ao giảng giải về thế sơn thủy: sơn làchồng, thủy là vợ, khi chồng xướng xuất việc gì thì vợ sẽ phụ theo (sơn vi phu, thủy vi phụ, phu xướng phụ tùy), cùng nghĩa ấy: núi là “trống”, nước là “mái” – núi chạy đến đâu thì nước theo đến đó (sơn vi hùng, thủy vi thư – hệ sơn tắc thủy tòng). Mà sơn mạch chạy từ dãy Trường Sơn hùng vĩ tách nhánh ra đến đất Kim Long được dòng sông Hương, sông Bạch Yến theo về “hợp hôn” – sinh ra một vùng nước xanh thơ mộng – thủ phủ của Nam Hà, cũng là thủ phủ của tình yêu một thuở.
( Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Gia Tiến, Tư liệu).
VUA NHÀ NGUYỄN ĐI TÌM LONG MẠCH.

Câu chuyện tìm long mạch được các vị vua của triều đại nhà Nguyễn đặc biệt chú trọng. Trong 13 vị vua của vương triều này, có tới 7 vị vua có lăng tẩm riêng, mỗi lăng tẩm lại có vị thế, kiến trúc đặc biệt, ứng với phong cách và con người của vị vua đó.

Nhưng điểm chung của các lăng tẩm này đều sở hữu địa thế vô cùng đắc lợi, nằm nơi núi non trùng điệp và không gian vừa hoang sơ, vừa thiêng liêng, hai trong số đó là Thiên Thọ Lăng (lăng tẩm của Vua Gia Long) và Hiếu Lăng (lăng tẩm của Vua Minh Mạng).

Địa bàn xã Hương Thọ ở bờ bắc thượng nguồn sông Hương, ranh giới được phân định từ núi Ngọc Trản, nơi có điện Hòn Chén, lên tới làng Định Môn chính là nơi có lăng tẩm của Vua Gia Long. Vùng đất này nằm ngay nơi ngã ba hai nhánh sông Tả Trạch và Hữu Trạch của sông Hương hội tụ, tạo nên vùng sơn thủy hữu tình và xưa kia cũng được Vua Gia Long xác định là vùng long mạch.
Theo ghi chép của triều Nguyễn, năm 1814, sau khi Thừa Thiên Cao hoàng hậu mất, Vua Gia Long đã sai người đi tìm vùng đất có long mạch để làm lăng tẩm cho vợ và cũng là nơi yên nghỉ của mình sau này. Vua sai đại thần Lê Duy Thanh, người rất am hiểu và tinh thông địa lý, phụ trách việc tầm long điểm huyệt.
Sau khi Lê Duy Thanh tìm được vị trí đất đẹp, Vua Gia Long địch thân cưỡi voi đến xem. Vua sau lại chọn một vùng đất khác, cách đó không xa, tự mình xem xét, gieo quẻ, rồi trách đại thần rằng: “Xét về long mạch và cuộc đất cát tường thuận theo cung mệnh đế vương thì nơi đây mới hợp, lẽ nào khanh không biết mà lại lại chọn cho trẫm một nơi không thuận hợp như trước kia. Hay là khanh đã biết mà muốn dành để cải táng hài cốt cha ông mình vào đó”?
Đó chính là vùng đất tại xã Hương Thọ ngày nay. Theo nhiều nhà phong thủy, thế đất này rất đẹp, có Long nhập thủ từ phương Cấn đến, tả có Thanh Long, hữu có Bạch Hổ bao bọc, trước mặt có một hồ nước lớn làm minh đường với phương thủy tụ là Khôn sơn. Phía bên kia hồ lại có ngọn núi Thiên Thọ làm tiền án, nước chảy tới minh đường rồi uốn lượn mà chảy tiêu ở thủy khẩu Tuất phương. 
Đến đời Vua Minh Mạng, vị vua được mệnh danh là người có nhiều phi tần và con cháu nhất trong triều đại nhà Nguyễn, công cuộc tìm long mạch để xây lăng tẩm cũng được ông dành hàng năm trời để tìm hiểu. Bảy năm sau khi lên ngôi, tức năm 1826, Vua đã lập tức cho người tìm vùng đất đẹp, làm nơi kết phát để làm lăng mộ cho chính mình sau này.
Vua Minh Mạng dụ cho văn võ đình thần đi tìm hai ngôi đất là “Vạn niên đại cát địa” và “Vạn niên cát địa”, trong chỉ dụ, Vua viết: “Các thánh đế minh vương đời xưa muốn cầu nhiều phước đều có dự định đất tốt vạn niên để mong trời cho cơ đồ dài lâu. Kể từ đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta khôi phục miếu xã, xây dựng các lăng, lại dự kế cất để nghìn muôn năm, năm Gia Long đã từng hạ sắc cho bầy tôi tìm kiếm ngôi Vạn niên cát địa.
Nay trẫm kính lo đường kế thuật, may gặp buổi thái bình, việc phần mộ không thể không dự tính trước. Vậy hạ lệnh cho đình thần cùng với Khâm thiên giám đi đến miền núi thuộc các xã Kim Ngọc, Định Môn, lựa trước ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi “Vạn niên cát địa”, cho được gần chốn khí thiêng mà để lại phước ấm về sau. Các khanh đều nên hết lòng nhận kỹ, cốt cho thoả hợp, rồi vẽ địa đồ dâng trình, đợi trẫm thân đến lựa chọn”. 
Hành trình tìm đất long mạch của nhà vua cũng mất tận 14 năm bao gồm cả việc  tìm kiếm, cân nhắc nhiều ý kiến và nhiều sự lựa chọn. Sau, Vua cũng quyết định lựa chọn núi Cẩm Kê, thuộc xã An Bằng để dựng lăng tẩm, làm đất phát nghiệp ngàn năm.
Theo “Đại Nam thực lục”, khi đến xem đất Vua bảo rằng: “Núi này thực phong thủy tốt, nơi này chưa ai xem ra, nay xem được chỗ đất tốt, thật đáng vui mừng”. Khu vực này gần với nơi hợp lưu của hai con sông Tả Trạch và Hữu Trạch, cách kinh thành Huế 12km, là vị trí đặc địa để xây dựng lăng tẩm, điều này khá tương đồng với việc chọn đất của Vua Gia Long.
Công trình lăng tẩm trong quá trình xây dựng có lúc bị gián đoạn do không đúng ý Vua, sau Vua Minh Mạng lại qua đời khi đang xây dựng dang dở, công trình này tiếp tục được hoàn thành ở đời Vua Thiệu Trị. Ngày nay, nhiều người đánh giá lăng Minh Mạng là một công trình kiến trúc đẹp, cân bằng đối xứng trên diện tích 18 ha, một trong những điểm du lịch rất thu hút du khách trong quần thể kiến trúc cung đình, lăng tẩm xứ Huế.
( Tài liệu sưu tầm trên internet ). Ảnh dienbatn lấy trên Googmap.
Xin theo dõi tiếp BÀI 5. dienbatn.

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN.

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_21.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_22.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_23.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_25.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_56.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_26.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_27.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_28.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_29.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_30.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_11.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_12.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_13.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_14.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_15.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_16.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_77.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_17.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_20.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_18.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_98.html

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Bài 14.

https://www.youtube.com/watch?v=NxvotFedTRI

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Nhà Nguyễn Với Thành Hà Nội. Một Nghiên Cứu Lịch Sử Chuyên Sâu Về Sự Chuyển Biến Của Kinh Thành Cũ Qua Các Tư Liệu Cổ.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2026/01/nha-nguyen-voi-thanh-ha-noi-mot-nghien.html

Chuyên Khảo: Giám Mục Bá Đa Lộc Và Lăng Cha Cả – Vòng Xoay Của Lịch Sử, Văn Hóa Và Ký Ức Sài Gòn.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2025/09/chuyen-khao-giam-muc-ba-loc-va-lang-cha.html

ĐÁM TANG CỦA VUA GIA LONG .

https://dienbatnblog.blogspot.com/2024/03/am-tang-cua-vua-gia-long.html

 

 

Xem chi tiết…

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 3.

6/21/2020 |
GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. 
BÀI 3.
Miếu Triệu Tường.
BÀI 3.
I. NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH KHỞI PHÁT CỦA 9 ĐỜI CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.
1.TƯ LIỆU :
Nguyễn Kim là người đặt nền móng cho các chúa Nguyễn sau này. Sinh thời ông không tự xưng danh chúa nhưng được con cháu chúa Nguyễn sau này tôn miếu hiệu Triệu Tổ và được phong thụy hiệu Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương xem như là chúa. Tuy nhiên ông không được xem là vị chúa Nguyễn đầu tiên. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế (貽謀垂裕欽恭惠哲顯祐宏休濟世啟運仁聖靖皇帝).
Năm 1545, khi Nguyễn Kim mất được đưa đến án táng tại núi Thiên Tôn. Năm 1803 vua Gia Long cho xây gần đó một miếu 3 gian 2 chái thờ Nguyễn Kim và để thờ vọng Nguyễn Hoàng (1558 – 1613). Miếu được đặt tên là Nguyên miếu (sau còn gọi là miếu Triệu Tường). Cạnh đó còn có miếu thờ Trừng Quốc Công thân phụ Nguyễn Kim. Năm 1808, Gia Long đặt tên cho khu mộ Nguyễn Kim là lăng Trường Nguyên (lăng này không có dấu vết rõ ràng nên chỉ xây nên một nền vuông để bái yết và cúng tế).
Làng Gia Miêu trước kia thuộc huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay) là quê hương gốc rể cội nguồn của Hòang tộc Nguyễn ở Thanh Hóa. Vì tính chất thiêng liêng đặc biệt ấy nên nhà Nguyễn gọi Gia Miêu là đất Quý Hương (tên Nôm gọi là Bái Đền), gọi huyện Tống Sơn là Quý Huyện.

Lăng Triệu Tường. - Tên lăng chính thức là Trường Nguyên. Lăng tọa lạc tại vùng núi Triệu Tường nên thường gọi là lăng Triệu Tường, nơi hợp táng ông bà Nguyễn Kim (tức Triệu Tổ Tĩnh Hòang Đế và Hòang hậu triều Nguyễn - thân sinh và thân mẫu của chúa Tiên Nguyễn Hòang).

Khu Lăng miếu Triệu Tường (ảnh tư liệu).
Miếu Triệu Tường.- Với các vua nhà Nguyễn, có lăng (nơi chôn) luôn có miếu (nơi thờ) kèm theo. Đã có lăng Triệu Tường thì phải có Miếu Triệu Tường. Lăng và miếu thường xây dựng gần nhau, cùng trong một khu vực. Nhưng không hiểu sao, lăng Trường Nguyên (lăng Triệu Tường) táng trong vùng núi Triệu Tường còn Miếu Triệu Tường lại xây dựng ở cánh đồng tại thung lũng chân núi, cách khu vực lăng trên dưới 1 km, sát con đường Thành phố Thanh Hóa đi huyện miền núi Thạch Thành.
Hình ảnh miếu Triệu Tường trước năm 1945.
Trục Thần đạo Lăng Triệu tường.
Miếu Triệu Tường đã được quy hoạch, phục dựng lại.
Lăng Trường Nguyên - nơi an táng Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim.
Trừng Quốc Công miếu (miếu thờ Trừng Quốc Công): Ở ngay phía tả nguyên miếu. Nhà chính và nhà ngoại đều 3 gian. Gian chính giữa thờ Trừng Quốc Công (là con của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế), quay về hướng nam. Gian tả phối (thờ phụ thêm) Lỵ Nhân Công, quay về hướng tây. Hàng năm tế lễ theo như Nguyên miếu. Miếu này dựng lên từ năm Gia Long thứ ba"
Như vậy, Nguyên miếu là nơi thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế) và Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim - tức Gia Dụ Hoàng Đế), còn Trừng Quốc Công miếu là nơi thờ Nguyễn Hoằng Dụ - thân phụ Nguyễn Kim và Nguyễn Văn Lang - thân phụ Nguyễn Hoằng Dụ (tức Lỵ Nhân Công).
Di tích Lăng miếu Triệu Tường được vua Gia Long cho xây dựng năm 1803, tại thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, là nơi phát tích của 9 chúa, 13 vua triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc tưởng niệm - miếu thờ của vương triều Nguyễn, được xây dựng với quy mô lớn, có giá trị đặc biệt về kiến trúc và nghệ thuật trang trí điêu khắc. Trải qua những biến động của lịch sử, Lăng miếu Triệu Tường đã bị san phẳng, nay chỉ còn dấu tích nền móng. Qua các cuộc khai quật thám sát khảo cổ đã cho cái nhìn tổng thể về quy mô, loại hình, kiểu kiến trúc cũng như diện tích xây dựng của khu di tích. Điều đó giúp công tác tôn tạo, phục dựng lại di tích có đầy đủ cơ sở khoa học trả lại cho di tích có được hình hài vốn có của nó.
9 ĐỜI CHÚA NGUYỄN.
Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
9 chúa nhà Nguyễn cùng an giấc nghìn thu ở một xã.
Xã Hương Thọ (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế) là nơi được người xưa chọn đặt lăng của 9 chúa Nguyễn và 2 vị vua triều Nguyễn.
1.     Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên hay Tiên vương (1525–1613), con út của Triệu Tổ Nguyễn Kim, xưng chúa năm 1558, có 10 con trai và hai con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế. Ông là vị chúa Nguyễn đầu tiên.Lăng của Chúa Nguyễn Hoàng ở làng La Khê – Huyện Hương Trà – HUẾ. Lăng Trường Cơ (chữ Hán: 長基陵), tức lăng của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế - Nguyễn Hoàng, là vị chúa Nguyễn đầu tiên của 9 đời Chúa Nguyễn. Gia Long hoàng đế đã truy tôn ông và xây dựng lăng tẩm. Lăng thuộc địa phận xã La Khê, huyện Hương Trà (nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Nguyên trước lăng được lập ở núi Thạch Hàn, huyện Vũ Xương, tỉnh Quảng Trị, về sau mới dời đến vị trí này. Lăng nằm bên tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông chừng 300m, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10 km đường chim bay về phía Tây- Nam.
Lăng Trường Cơ của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng (1525-1613), nằm tại trung tâm thôn La Khê.Lăng cách bờ sông Hương chừng 300 m, xoay mặt về hướng chính Bắc.

Toàn cảnh công trình lăng chúa Nguyễn Hoàng được trùng tu - Ảnh: P.T.H
2.  Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi, Chúa Bụt hay Sãi vương (1563–1635), con trai thứ sáu của chúa Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có 11 con trai và bốn con gái. Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc". Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc". Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hy Tông Hiếu Văn hoàng đế. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời năm 1635, ở ngôi chúa 22 năm, hưởng thọ 73 tuổi. Ban đầu, ông được an táng tại Sơn Phận, huyện Quảng Điền, sau được cải táng về vùng núi Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên (nay thuộc thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế). Tên lăng là Trường Diễn. Đời vua Gia Long, ông được truy tặng miến hiệu Hy Tông.

Lăng Trường Diễn của Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế - Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635), nằm ở thôn Hải Cát.Lăng ở phía tả ngạn sông Hương, cách bờ sông khoảng 350m, xoay về phía Tây Nam.




3.     Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng hay Thượng vương (1601–1648), con trai thứ hai của chúa Sãi, kế nghiệp năm 1635 vì anh trưởng chết sớm, có ba con trai và một con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế.Cuộc chiến lần thứ 4 với quân Trịnh, Chúa Phúc Lan đã phải tự cầm quân ra hỗ trợ. Sau Chúa thấy trong người không được khỏe, mới trao binh quyền cho con trai là Nguyễn Phúc Tần và tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ huy còn mình thì rút về. Ðến phá Tam Giang thì Chúa mất, hưởng thọ 48 tuổi. Lăng mộ táng tại làng Chiêm Sơn, gò Cốc Hùng, Quảng Nam. Tên lăng là Vĩnh Diên.Con trai ông là Nguyễn Phúc Tần lên kế nghiệp, tức Hiền vương.
Lăng Trường Diên của Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng Đế Nguyễn Phúc Lan (1601-1648), nằm ở thôn La Khê Trẹm.Lăng nằm gần phía dòng Hữu Trạch của sông Hương, cách bờ sông khoảng 300 m, xoay mặt về hướng Bắc. Hiện lăng Trường Diên xuống cấp nghiêm trọng, bờ thành ngoài bị vỡ, bên trong cây cỏ mọc um tùm.
4.   Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền hay Hiền vương (1620–1687), con trai thứ hai của chúa Thượng, kế nghiệp năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có sáu con trai và ba con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế. Lăng được đặt tên là Trường Hưng lăng (長興陵), thụy hiệu của ông là Công Cao Đức Hậu Dũng Triết vương (功高德厚勇哲王). Vào đời Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, ông được tặng miếu hiệu là Nghị Tổ (毅祖), thụy hiệu cải thành Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Chánh Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết vương (宣威建武英明莊正聖德神功孝哲王).
Lăng Trường Hưng của Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), dân gian quen gọi là lăng Chín Chậu, nằm ở thôn Hải Cát.Lăng ở tả ngạn sông Hương, cách bờ sông khoảng 800 m, xoay mặt về hướng Đông Bắc.

5.     Nguyễn Phúc Thái tức Chúa Nghĩa hay Nghĩa vương (1650–1691), con trai thứ hai của chúa Hiền, kế nghiệp năm 1687 vì anh trưởng chết sớm, có năm con trai và năm con gái. (Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì chúa Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái, còn Nguyễn Phúc Trăn không có, mà chỉ có Nguyễn Phúc Trân, em kế của chúa tức Cương quận công). Chúa Nghĩa là người dời đô đến Huế. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế. Mùa xuân năm 1691, chúa Nghĩa ốm nặng, ông triệu thế tử là Tộ Trường hầu Nguyễn Phúc Chu đến và căn dặn: "Ta vâng theo mối trước, vẫn mong sao nối theo được chí, làm theo được việc. Con nay kế nghiệp, nên noi công đức của tổ tông, cầu hiền đãi sĩ, yêu dân thương quân, đừng tin lời nói gièm pha, đừng bỏ những người ngay thẳng, để xây dựng nghiệp lớn, đó là điều đại hiếu". Cùng ngày, chúa Nghĩa qua đời, thọ 42 tuổi.  Lăng mộ táng tại núi Kim Ngọc (Định Môn, Hương Trà, Thừa Thiên). Tên lăng là Trường Mậu. Thế tử Phúc Chu lên kế nghiệp, tức Chúa Minh.Sau này, Nhà Nguyễn truy tôn ông miếu hiệu là Anh Tông, thụy là Thiệu Hư Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Huệ Từ Tường Hiếu Nghĩa hoàng đế.
Lăng Trường Mậu của Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thái (1650-1691), nằm ở thôn Kim Ngọc.Lăng ở phía tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông chừng 1,5 km, trên một quả đồi cao, xoay mặt về hướng bắc, trước mặt lăng có hồ rộng.
6.     Nguyễn Phúc Chu  tức Chúa Minh hay Minh vương (còn gọi là Quốc chúa, chữ Hán: 國主) (1675–1725), con trai trưởng của chúa Nghĩa, kế nghiệp năm 1691, có 38 con trai và bốn con gái. Chúa Minh là người đầu tiên sai sứ sang nhà Thanh để xin phong vương nhưng không được công nhận vì nhà Thanh vẫn xem vua Lê của Đàng Ngoài là vua của toàn xứ Việt lúc đó. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế. Lăng mộ táng tại Kim Ngọc, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Thanh .Về sau, nhà Nguyễn truy tôn ông là Hiển Tông, thụy là Anh Mô Hùng Lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh hoàng đế.
Lăng Trường Thanh của Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), nằm ở thôn Kim Ngọc. Lăng ở tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông 800 m,  xoay mặt về hướng Đông Nam, trước mặt là đồng ruộng.

7.     Nguyễn Phúc Chú  tức Chúa Ninh hay Ninh vương (1697–1738), con trai trưởng của chúa Minh, kế nghiệp năm 1725, có ba con trai và sáu con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế. Ở ngôi chúa 13 năm, chúa Nguyễn Phúc Chú qua đời vào ngày 20 tháng 4 năm Mậu Ngọ (7 tháng 6 năm 1738) lúc 42 tuổi.Chúa Ninh được an táng tại lăng Trường Phong nằm trong khu Thiên Thọ Lăng (Lăng Gia Long) ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Triều thần dâng thụy hiệu cho chúa là Đại đô thống Tổng quốc chính Vũ Hiếu Ninh vương. Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long lại truy tôn là Hiếu Ninh hoàng đế, miếu hiệu là Túc Tông, đưa long vị vào thờ tại Thái Miếu, án thứ ba bên phải . Chúa Nguyễn Phúc Chú được đánh giá là người đã có công trong việc thiết lập đơn vị hành chính mới, giữ gìn và mở mang vùng đồng bằng sông Cửu Long .
Lăng Trường Phong của Túc Tôn Hiếu Ninh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chú (Thụ) (1697-1738), nằm ở thôn Định Môn.Lăng ở bên cạnh khe Trường Phong, cách bờ sông Hương gần 2 km, xoay mặt về hướng chính Đông  Bắc.

 
8.    Nguyễn Phúc Khoát tức Chúa Vũ hay Vũ vương (1714–1765), con trai trưởng của chúa Ninh, kế nghiệp năm 1738, có 18 con trai và 12 con gái. Vì năm 1744 vào dịp Tết Nguyên Đán có một cây sung nở hoa và một lời sấm 'Bát thế hoàn trung đô'. Đến lúc này chúa Trịnh đã xưng vương nên Nguyễn Phúc Khoát cũng gọi mình là Vũ vương vào năm 1744 và xem Đàng Trong như một nước độc lập. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thế Tông Hiếu Vũ hoàng đế. Ngày 7 tháng 7, năm 1765, Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát qua đời, thọ 51 tuổi. Ông được táng tại Trường Thái lăng ở làng La Khê (Hương Trà, Thừa Thiên). Đến đời Gia Long, Chúa Võ được thờ tại Thái Tổ Miếu (tức Thái Miếu trong Hoàng thành Huế), án thứ tư bên tả.Nguyễn Phúc Thuần, con trai thứ 16 của Chúa Võ lên ngôi, dâng thụy hiệu cho cha là: Trí Hiếu Vũ Vương. Năm Bính Dần (1806), Vua Gia Long truy tôn là: Trí Hiếu Võ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thế Tông.
Lăng Trường Thái của Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nằm ở thôn La Khê.Lăng ở núi La Khê, xoay về hướng chính Bắc, trước mặt là đồng ruộng.

9.   Nguyễn Phúc Thuần tức Chúa Định hay Định vương (1754–1777), con trai thứ 16 của Vũ vương, kế nghiệp năm 1765, không có con. Khi còn sống, Vũ vương đã có ý định cho con trai thứ chín là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi. Sau khi Nguyễn Phúc Hiệu chết, và con ông này hãy còn quá nhỏ, Vũ vương định cho con trai thứ hai của mình là Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn, là cha của Thế Tổ Cao hoàng đế Gia Long sau này) nối ngôi. Khi Vũ vương chết, một quyền thần trong triều là Trương Phúc Loan đã giết Nguyễn Phúc Luân rồi lập Nguyễn Phúc Thuần, lúc đó mới 12 tuổi, lên ngôi để dễ kiềm chế. Năm 1777, ông bị nhà Tây Sơn giết khi ở tuổi 26, chưa có con nối dõi. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Duệ Tông Hiếu Định hoàng đế.
Lăng Trường Thiệu của Duệ Tôn Hiếu Định Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777), ở thôn La Khê. Lăng ở tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông chừng 400 m, gần lăng Trường Cơ.

Mười ba vua .
Nhà Nguyễn được thành lập sau khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị năm 1945, trải tổng cộng 143 năm, có 13 vị vua thuộc 7 thế hệ.
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn năm 1804 dưới triều vua Gia Long. Năm 1839 vua Minh Mạng đổi tên nước thành Đại Nam với ngụ ý một nước Nam rộng lớn, quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945 khi vua Bảo Đại đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.
Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19, trải qua hai giai đoạn chính:
- Từ năm 1802–1858 là giai đoạn độc lập, từ khi vua Gia Long thống nhất đất nước đến các đời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

- Từ năm 1858–1945 là giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ, kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào tháng 8 năm 1945.
Trong bài có sử dụng tư liệu của Võ Thạnh .
( Còn tiếp - dienbatn ).

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN.

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_21.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_22.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_23.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_25.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_56.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_26.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_27.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_28.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_29.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_30.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_11.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_12.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_13.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_14.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_15.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_16.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_77.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_17.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_20.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_18.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_98.html

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Bài 14.

https://www.youtube.com/watch?v=NxvotFedTRI

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Nhà Nguyễn Với Thành Hà Nội. Một Nghiên Cứu Lịch Sử Chuyên Sâu Về Sự Chuyển Biến Của Kinh Thành Cũ Qua Các Tư Liệu Cổ.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2026/01/nha-nguyen-voi-thanh-ha-noi-mot-nghien.html

Chuyên Khảo: Giám Mục Bá Đa Lộc Và Lăng Cha Cả – Vòng Xoay Của Lịch Sử, Văn Hóa Và Ký Ức Sài Gòn.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2025/09/chuyen-khao-giam-muc-ba-loc-va-lang-cha.html

ĐÁM TANG CỦA VUA GIA LONG .

https://dienbatnblog.blogspot.com/2024/03/am-tang-cua-vua-gia-long.html

 

 

Xem chi tiết…

TOP HOT


THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *