GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 18.

7/15/2020 |
GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 18.
I.NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH KHỞI PHÁT CỦA 9 ĐỜI CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.
II.LĂNG MỘ CỦA CÁC VUA NGUYỄN TẠI HUẾ.
1.LĂNG THIÊN THỌ CỦA VUA GIA LONG.
2. HIẾU LĂNG CỦA VUA MINH MẠNG.
3. XƯƠNG LĂNG(昌陵) - LĂNG CỦA VUA THIỆU TRỊ.
4. KHIÊM LĂNG – Lăng Tự Đức (chữ Hán: 嗣德陵) 
5. LĂNG VUA KHẢI ĐỊNH.
6.CUỘC CHIẾN TÂM LINH RÙNG RỢN GIỮA NHÀ NGUYỄN GIA LONG VÀ NGUYỄN HUỆ - TÂY SƠN.
7. NHỮNG CUỘC TÀN PHÁ VÀ THẢM SÁT CỦA NHÀ TÂY SƠN. ( Bài đọc thêm phần tư liệu ).
8.ĐƯỜNG TOẠI ĐẠO Ở LĂNG VUA CHÚA TRIỀU NGUYỄN.
Lăng tẩm các bậc tôn quí thời phong kiến ở nước ta ngoài những cấu kiện trên mặt đất như bửu thành với cổng lăng, bi đình,…còn có cấu kiện ngầm là quan tài, kim tỉnh, quách, và đặc biệt là đường toại đạo. Bài nghiên cứu này khảo sát những đặc trưng của đường toại đạo nói chung, minh họa qua những lăng tẩm vua chúa triều Nguyễn ở Thừa Thiên Huế, sau đó chúng tôi vận dụng để khảo sát lăng BaVành và lăng Thủy Tiên ở vùng đồi Thiên An, sát chân núi Kim Sơn (Núi Châu Chữ) thuộc vùng đồi núi như cái bướu của dãy núi Hương Uyển. Đầu núi Hương Uyển là núi Ngọc Trản (Hòn Chén), bướu và núi Ngọc Trản  cách nhau bởi một đoạn sông Hương. Ngô Thì Hoàng trong bài thơ Vịnh sử gọi núi và đồi ấy là “Ngọc Trản phong đầu”.
Đường toại đạo ở lăng tẩm vua chúa .
Đường toại đạo ở lăng tẩm vua chúa, thân vương, hoàng tử, quận công, công chúa, đại quan,…là đường hầm được đào sâu dưới đất, nối nơi thấp đến nơi cao có huyệt mộ, nhằm đưa quan tài của bậc tôn quí vào đúng huyệt mộ chính thức, giữ bí mật nơi táng hài cốt, thoát nước để làm ráo khô huyệt mộ.
Dân thường khi qua đời, chỉ vài ngày là đã khai huyệt, có điều kiện thì xây “kim tỉnh”, chỉ là bốn thành gạch, sau khi hạ huyệt, người ta đắp nấm tạm bằng cát, đất sau đó vài ngày có thể tiến hành xây cất, hoặc đợi vài năm có điều kiện vật chất và “coi ngày giờ” tốt mới xây lăng. Trong quá trình an táng, xây dựng thì âm công, thợ nề,… phải đi lại trên nấm mộ, người thân biết như thế là “thất lễ”đối với “hương linh” nhưng đành chịu. Ở đời “phú quí sinh lễ nghĩa”, thân nhân của những bậc “tôn quí” sẵn tiền bạc, sau khi khâm liệm người chết, quàng linh cửu ở nhà tang lễ, cho xây trước mọi thứ như kim tỉnh,  quách, nấm mộ, nhà bia, uynh thành,…xong các thứ mới  đưa linh cửu vào táng để tránh việc “thất lễ” nêu trên; thế thì việc kiến tạo “đường toại đạo” cho lăng tẩm  là tất yếu. Do đó thời gian từ khi người quá cố mất đến khi  ninh lăng (táng) khá dài, dài khoảng 7,8 tháng, ngắn khoảng 3 tháng.
Ngoài ra  có loại “đường toại đạo” do những kẻ gian thực hiện, nhằm trộm cắp đồ tùy táng của chủ nhân tôn quí như vua, hoàng hậu, công chúa,…
Tài liệu về đường toại đạo ở các lăng mộ vua chúa thời phong kiến ở nước ta quá hiếm, không khảo được. Tuy nhiên chắc chắn khi an táng và tạo tác lăng mộ vua chúa các thời đều có đường toại đạo. Thật vậy trên vnespress, 12-6-2012, tác giả Xuân Hoa viết bài “Lăng mộ vua Trần bị đào trộm” cho biết: “Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam vừa hoàn thành khai quật khảo cổ Phụ Sơn lăng – lăng tẩm của vua Trần Dụ Tông (1336 – 1369) và Nguyên lăng – lăng tẩm vua Trần Nghệ Tông ở Quảng Ninh”. Trong quá trình khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện đường toại đạo ở lăng vua dài 4,5m, rộng 3,1m ở phía Nam của lăng. Căn cứ vào ảnh vệ tinh chụp cuộc đất có lăng vua Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông có thể biết các lăng này “tọa cấn hướng khôn”, nghĩa là “đầu” dựa vào đồi núi Đông-Bắc và “chân” tựa hướng Tây- Nam. Đường toại đạo ở phía Nam của khu lăng  nên nó  ở bên trái của các lăng vậy.
Ảnh chụp vệ tinh Phụ Sơn lăng và Nguyên lăng của vua Trần Dụ Tông và Trần Nghệ Tông.
Hiện trường khảo sát khảo cổ học Phụ Sơn lăng năm 2012(ng. vnespress)
Đường toại đạo ở lăng chúa Nguyễn và lăng chánh thất của chúa Nguyễn:
Lăng của chúa Nguyễn và bà chánh thất có danh xưng gồm hai từ, lăng chúa  với danh xưng có từ đầu là Trường, lăng bà chánh thất của chúa có danh   xưng với từ đầu là  Vĩnh. Từ thứ hai của danh xưng lăng chúa và bà chánh thất là giống nhau.
Lăng chúa Nguyễn Hoàng và bà chánh thất là Trường Cơ, Vĩnh Cơ                  [1]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Nguyên và bà chánh thất  là Trường Diễn,Vĩnh Diễn  [2]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Lan và bà chánh thất  là Trường Diên, Vĩnh Diên       [3]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Tần và bà chánh thất  là Trường Hưng, Vĩnh Hưng    [4]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Thái và bà chánh thất  là Trường Mậu, Vĩnh Mậu       [5]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Chu và bà chánh thất  là Trường Thanh, Vĩnh Thanh  [6]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Thụ và bà chánh thất  là Trường Phong, Vĩnh Phong  [7]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Khoát và bà chánh thất  là Trường Thái, Vĩnh Thái     [8]
Lăng chúa Nguyễn Phúc Thuần làTrường Thiệu                                                 [9]
Nhóm lăng [1], [4],[5], [6],[7],[8], lăng Trường Diễn, Trường Diên ở vùng núi phía Tây hoặc Tây Nam phòng thành Huế. Lăng Vĩnh Diễn, Vĩnh Diên ở Duy Xuyên, Quảng Nam. Lăng [9] cải táng từ Gia Định về Huế thời Gia Long.
Theo chính sử thì các lăng nói trên đều bị Tây Sơn xâm hại vào năm 1791. Chính sử chỉ ghi chép Tây Sơn đến các lăng nói trên lấy hài cốt ném xuống sông nhưng không nói rõ lấy bằng cách nào. Khoảng năm 1980 đến năm 2013,  những vụ đào trộm mộ cổ, trong đó có một số mộ chúa Nguyễn, kẻ đào trộm thường đào bên trái của mộ (khi đứng nhìn từ nấm ra cửa mộ) thì gặp đường toại đạo. Đường toại đạo không thẳng, uốn cong theo bình đồ và có đoạn sâu hơn nơi xây kim tỉnh. Một vị thuộc Nguyễn Phước Tộc (yêu cầu giấu tên) sau vụ đào trộm lăng Trường Thanh của chúa Nguyễn Phúc Chu, được tin liền lên hiện trường và đã từng theo đường toại đạo để tiếp cận kim tỉnh.Vị ấy đã nhờ đèn pin, thấy “cốt dâu bện rơm” chứ không có hài cốt. Do sự kiện này  có thể biết Tây Sơn tra khảo những người trong gia đình chúa Nguyễn, tìm  đường toại đạo, theo đường ấy vào đúng nơi đặt quan tài chủ nhân ngôi lăng để lấy hài cốt…Và khi Nguyễn vương trở lại kinh thành Phú Xuân,  nhờ các pháp sư, bằng thuật “chiêu hồn nhập cốt” vào  “cốt dâu bện rơm”, sau đó cũng bằng “đường toại đạo” để đưa “hài cốt” (biểu tượng) vào táng lại trong các lăng nói trên.
Lăng Trường Thanh của Hiển Tôn Nguyễn Phúc Chu (ng. KTNN).
 Nhân nói về những vụ đào phá, đào trộm lăng mộ ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi nêu  một sự kiện huyền bí, liên quan đến chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu. Sinh thời vị chúa này rất mộ Phật, từng mời Thạch Liêm hòa thượng Thích Đại Sán ở Trung  Hoa sang Phú Xuân để chấn hưng Phật giáo Đàng Trong. Bản thân nhà chúa cũng qui y Phật, thọ Bồ Tát giới, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng đạo nhân. Tương truyền sau khi ngài băng, năm 1725, thường hiển linh, báo mộng cho người thân hoặc kẻ thù dưới dạng “ông lão râu tóc bạc phơ, mặc áo trắng hoặc áo đỏ, tay cầm gậy sắt”. Đại Nam thực lục chính biên từng chép, năm 1791 bà Tả cung hoàng hậu của vua Quang Trung băng, Tây Sơn tìm được cuộc đất gần lăng Trường Mậu (lăng thân phụ của Nguyễn Phúc Chu), cho quân lính khai huyệt, thì ngài Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu hiển linh, đã xua vài con cọp dữ nhảy ra vồ đuổi quân lính Tây Sơn; cuối cùng Tây Sơn phải đi tìm cuộc đất khác. Khi vua Quang Trung cuồng đau do bà Tả cung hoàng hậu băng, lại gặp trở ngại trong việc khai huyệt để táng vợ, cận thần có kẻ tâu đất tây nam Phú Xuân là đất kết phát cho họ Nguyễn nên Nguyễn Ánh nhiều lần suýt bị Tây Sơn bắt đều thoát…làm vua Quang Trung cuồng nộ, ra lệnh quân tướng lên các lăng chúa Nguyễn lấy hài cốt ném  xuống sông Hương. Người chỉ huy đang thi hành lệnh vua thì nhà của y bị cháy. Riêng vua Quang Trung vào năm sau 1792, bệnh đột ngột hơn một tháng thì băng hà. Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Huệ….lúc mới chiếm cứ được đô thành xâm phạm vào tất cả các lăng liệt thánh. Một hôm về buổi chiều Huệ  đương ngồi bỗng nhiên tối mắt, thấy một ông bạc đầu từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: cha mày sinh ra ở đất nhà vua, đời đời làm dân nhà vua, mày sao dám phạm đến lăng tẩm, rồi lấy gậy đánh vào trán. Huệ tối sầm mắt ngã vật ra một lúc lâu mới tĩnh. Huệ đem lời  ấy nói với Trung thư Trần Văn Kỷ. Từ ấy bệnh chuyển nặng lên…” (sđd,tr.560).       Người Huế không tin sự hiển linh của Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, đặt vấn đề: “Nếu ngài hiển linh thì tại sao để kẻ trộm theo đường toại đạo vào lấy đồ tùy táng ở lăng ngài?” Người tin có hiển linh lại giải thích: “ Ngài để kẻ trộm tìm ra đường toại đạo, nhờ thế hậu duệ ngài mới theo đường toại đạo vào huyệt mộ ngài mới biết được sự kiện Tây Sơn lấy hài cốt ra khỏi lăng là có thật và vua Gia Long đã tạo hài cốt giả bằng “cốt dâu bện rơm” để táng lại”. Kẻ gian nhiều lần tiến hành đào trộm lăng Trường Mậu, chủ nhân lăng là Anh Tông Nguyễn Phúc Thái, thân phụ của Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu nhưng phải bỏ dở. Lần nào ngài cũng báo mộng cho ông cụ Nguyễn Lô, người tự nguyện hộ lăng Trường Mậu, biết và tìm cách xua đuổi bọn trộm. Tác giả bài viết  “Giấc mộng kỳ lạ của ông lão canh lăng chúa Nguyễn”, đăng ở báo Pháp luật Việt Nam viết: “Ông Lô tiết lộ rằng, đã có nhiều kẻ đào trộm mộ đã đến lăng Ngài hoàng đào 2-3 lần nhưng không thành vì có người báo mộng cho ông biết để cản trở hành động của chúng. Không chỉ mơ thấy người đó báo mộng một lần mà nhiều lần, mà đặc biệt lần nào cũng chính xác…Ông không tin vào chuyện ma quỷ hay báo mộng là gì. Tuy nhiên, khi đến sống và bảo vệ ở Lăng này ông mới cảm thấy không có chuyện gì là không xảy ra cả.
 Ông kể: “Một đêm cách đây đã lâu, lúc đó chừng 2h sáng, tui đang nằm ngủ mê man thì trong giấc mơ bỗng hiện lên một ông lão vận đồ hoàng tộc ngày xưa bằng màu đỏ, râu tóc bạc phơ đến đánh thức tui, bảo có kẻ đang đào trộm lăng. Tĩnh dậy, đến gần lăng tui nghe có tiếng đào bới, biết là bọn trộm nên giả vờ đánh tiếng, bọn chúng biết bị lộ nên bỏ đi, không đào nữa.”
Ông Nguyễn Lô, người tự nguyện bảo vệ lăng Trường Mậu(ng.KTNN).
Lăng mộ Trường Mậu của Anh Tông Nguyễn Phúc Thái (ng.KTNN)
Một số người Huế, tin thuyết “Trường sinh học” của môn Lý Sinh hiện đại hoặc đang nghiên cứu “cận tâm lý” thì ghi nhận sự hiển linh của ngài Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, hiệu Thiên Túng đạo nhân, người từng trùng tu chùa Thiên Mụ, đúc đại hồng chung chùa Thiên Mụ và đặc biệt đúc ấn: ” Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo”. Ấn này nhiều lần thất lạc nhưng vẫn trở về hậu duệ chúa Nguyễn, cho đến khi dòng họ Nguyễn làm nên nghiệp đế.Ở làng Bác Vọng Tây có  chùa Thiên Khánh, tọa lạc  trước  phủ chúa Bác Vọng, do chúa Nguyễn Phúc Chu xây dựng từ năm 1712, tọa càn hướng tốn, trước có sông Bồ. Thiên Túng đạo nhân  tu tập hạnh bồ tát ở chùa này khi ra phủ Bác Vọng. Gần đây, có nhà sư Thích Nguyên Pháp, gốc họ Trần làng Bác Vọng Tây, từng tu ở Di Linh, Lâm Đồng. Vị sư này về quê, trên vườn cũ nhà ông nội của sư, dựng thất để tu. Sư  có đặc điểm thi thoảng nói những câu nói khác thường, người ta thu băng, xử lý, chắt lọc, ráp nối…thì thành những lời “khuyên răn”, “tư vấn” của một vị bồ tát cho một số “đại quan”, “đại gia”. Các vị này làm theo và “đạt vạn sự như ý”. Các vị ấy đã quyên góp một số tiền, vàng rất lớn cúng dường các đồ tự khí, phục chế các tượng Phật, bồ tát, la hán, …để sư lập chùa tạm gọi chùa “Chúa Nguyễn”, ở phía trái chùa Thiện Khách và lên kế hoạch lập một đền thờ để thờ vua chúa Nguyễn. Thiện nam tín nữ  đã phục chế 13 ấn tín của vua chúa triều Nguyễn bằng đồng, mạ vàng và hiện đang tôn trí ở chùa “Chúa Nguyễn”, có người  bảo vệ cẩn mật.
 Đường toại đạo ở lăng các vua Nguyễn:
 Lăng vua Gia Long và Thừa Thiên cao hoàng hậu là song táng, với hai nấm mộ được tạo tác treo lối “trúc cách”. Hoàng hậu băng trước (22-2-1814) và vua Gia Long băng sau (3-2-1820). Không có tư liệu ghi chép đường toại đạo để đưa quan tài các ngài khi ninh lăng. Chúng tôi đoán, đường toại đạo ở lăng này, ngắn, ở dưới sâu trong khuôn viên bửu thành. Tại sao? Năm 1814, khi hoàng hậu băng, vua Gia Long cho xây lăng, đã dựng luôn hai nấm trúc cách, bên dưới có thể có kim tỉnh thông với đường toại đạo. Khi táng xong hoàng hậu, người ta đã đóng cửa toại đạo và lấp hố có cửa xong dùng hồ vữa xưa tráng bằng. Sáu năm sau nhà vua băng hà, người ta lại đục lớp vữa, mở cửa đương toại đạo, đưa quan tài vua vào kim tỉnh, đúng hướng thầy địa phân kim, đóng cửa toại đạo, lấp hố có cửa này và dùng vữa láng bằng. Độc giả xem ảnh chụp có thể thấy dấu vết của lớp vữa ở góc ảnh, khác hoàn toàn lớp vữa nơi khác trong khuôn viên bửu thành ngôi lăng.
Hiếu lăng của vua Minh Mạng,  Xương lăng của vua Thiệu Trị, Khiêm lăng của vua Tự Đức,…đều  có đường toại đạo và cách kiến tạo cơ bản  giống nhau. Đỗ Phước Tiến viết bài “Miếng ăn để đời”, có đoạn:  “Và chuyện này do người thuyết minh di tích Hiếu lăng kể: ngày 20-8-1841, quan tài của vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu thành bằng đường toại đạo (đường hầm đưa quan tài vào huyệt mộ). Đường hầm kéo dài từ Đại Hồng môn đến điểm tận cùng của La thành cách nhau đến 700 mét…Theo lời dặn của vua cha Thiệu Trị, khi xây Xương lăng vua Tự Đức căn dặn Đổng lý Vũ Văn Giai phải bắt chước cách làm toại đạo của Hiếu lăng. Nghĩa là truyền thống vẫn tiếp tục.” Vua Thiệu Trị lâm bệnh mất ngày 4 tháng 11 năm 1847, lúc mới 41 tuổi. Khi hấp hối, nhà vua còn dặn Hồng Nhậm: “Chỗ đất làm Sơn lăng nên chọn chỗ bãi cao chân núi cận tiện, để dân binh dễ làm công việc. Còn đường ngầm đưa quan tài đến huyệt, bắt đầu từ Hiếu lăng, nên bắt chước mà làm. Còn điện vũ liệu lượng mà xây cho kiệm ước, không nên làm nhiều đền đài, lao phí đến tài lực của binh dân”. Vua Tự Đức dặn Vũ Văn Giai phải bắt chước cách làm “toại đạo” giống như Hiếu lăng. Toại đạo được xây vào ngày 24 tháng 3 năm 1848. Khi xây dựng các công trình như điện, đình, các, viện thì bắt chước quy chế của lăng Gia Long, và tùy theo địa hình để châm chước định liệu mà làm.
Lê Nguyễn trong bài “Sự thật về chuyện đào mả vua Tự Đức năm 1912”(KTNN) có trích Điều 1815 của Đệ lục kỷ Phụ biên :“…Khâm sứ đại thần Mahé hội thương nói nghe báo ở gian giữa điện Hòa Khiêm vốn có chôn nhiều vàng bạc, nên bàn ủy Hữu Tôn khanh Phủ Tôn nhân Ưng Hào, Tả Tham tri bộ Lễ Mai Hữu Dực, Phụng hộ Phó sứ Tùng Lễ hội đồng với hai viên Hội biện Lại Hộ lập tức tới nơi đào lên lấy số vàng bạc ấy giao cho Phủ Nội vụ để làm việc có ích. Bề tôi Phủ Phụ chính kính chiểu tôn điện là nơi trang trọng, ai báo tin ấy hư thực chưa rõ nhưng thế khó bàn bạc cản trở nên bàn định chờ xem khám nghiệm thế nào sẽ có thưởng phạt để tỏ rõ sự khuyến khích trừng phạt. Bèn ghi lại biên bản tâu lên để vua rõ. Sau đó hội đồng đào lên, qua hơn 10 ngày không có gì cả, kế quý tòa nói đã có lời Toàn quyền đại thần bàn dừng lại để khỏi ngờ vực náo động. … Khâm sứ Mahé cũng vì việc ấy không có hiệu quả nên tháng 3 năm sau về nước” (tltk 1, trang 569)”.
Qua những tư liệu trên có thể đoán định đường toại đạo ở Hiếu lăng, Xương lăng, Khiêm lăng nằm ở đường  thần đạo (trục đối xứng hình học của lăng). Riêng Khiêm lăng, có khả năng cửa đường toại đạo nằm sâu dưới Hòa Khiêm điện. Đồ tùy táng vàng bạc, châu báu có thể ở sát kim tỉnh, gần cuối toại đạo. Khi người ta đào ở Hòa Khiêm điện thì không thể gặp đồ tùy táng, chỉ quanh nơi cửa đường toại đạo, lại thêm có sự phản kháng của Nam triều, sự bất bình của dân chúng  nên người Pháp phải ra lệnh ngưng đào. 
dienbatn bổ xung :  Để chuẩn bị kháng chiến, hồi mùa hè năm 1885, trước khi ra Tân Sở, triều đình Huế đã chon một số vàng bạc trong Đại nội. Sau này khi chiếm được Hoàng thành Huế, bọn thực dân Pháp đã đào bới được một số của cải quý. Mahé vốn là một tên thực dân tham lam, khi được cử làm khâm sứ Huế, y đã sai thuộc hạ là De La Suisse – Hộ lý bộ Lại và bộ Học – lập kế hoạch đào lăng vua Tự Đức để tìm vàng.
Phủ phụ chánh triều vua Duy Tân. Từ trái sang phải: Tôn Thất Hân (thượng thư bộ hình), Nguyễn Hữu Bài (thượng thư bộ lại), Huỳnh Côn (thượng thư bộ lễ), Hoàng thân Miên Lịch, Lê Trinh (thượng thư bộ công), Cao Xuân Dục (thượng thư bộ học)
  Việc đào lăng tìm vàng liên quan đến tài sản nên hắn đã phải bàn với Thượng thư bộ Công Nguyễn Hữu Bài, ông Bài phản đối. Ngày 17/01/1913, De La Suisse lừa đưa Thượng thư bộ Lễ Huỳnh Côn lên lăng vua Tự Đức và buộc ông Côn phải chỉ huy đào lăng tìm vàng. Ông Côn bị bắt bí đành phải nhúng tay vào việc vi phạm đạo đức ấy.
Quân của De La Suisse ra sức đào ba ngày nhưng không có kết quả đành bỏ cuộc[1]. Ngày 4/2/1913, nhân khi vào Huế họp hội đồng Chính phủ, Albert Saraut nghe có chuyện đào lăng vua Tự Đức, Saraut hỏi, lúc đó Mahé mới báo cáo và cho biết chưa có gì. Ba ngày sau, 7/2/1913, Saraut ra lệnh cho Mahe phải lập tức dừng ngay việc tìm vàng và tu sửa lại Khiêm lăng. Nhưng vì đang dịp nghỉ Tết Quý Sửu (1913), các đại thần Việt Nam hứa ra đầu tháng Giêng sẽ lấp lại các hố đào. Sự chậm trễ ấy đã giúp cho báo chí có dịp tiếp cận.
Hạ tuần tháng 12/1913, báo Le Courrier d’Haiphong công khai chỉ trích việc làm của Mahe. Toàn quyền, A.Sarraut và các quan lại triều đình Huế nhận được nhiều thư trách móc, nguyền rủa. Việt Nam quang phục quân nhân dịp đó, “mượn tạc đạn” để bày tỏ sự bất mãn của mình. Toàn quyền A.Sarraut lại yêu cầu Mahé báo cáo việc tu sửa lăng Tự Đức  nhưng cho đến lúc đó vẫn chưa hoàn tất[2].
Tin lăng vua Tự Đức bị đào bay sang Châu Âu. Cụ phó bảng Phan Châu Trinh nghe tin rất phẫn nộ. Ngày 2/4/1913, nhân dịp ông Roux được thăng cấp thiếu tá, cụ Phan gửi cho Roux một lá thư dài bày tỏ sự bất mãn về việc đào mả Tự Đức và phản đối chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.
Vua Duy Tân hết sức giận dữ chê trách nặng nề các Thượng thư dưới quyền. Hai cụ Trần Cao Vân và Thái Phiên đã nắm lấy sự phẫn nộ của vua Duy Tân tìm cách liên lạc với nhà vua, mời nhà vua làm minh chủ cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp hồi tháng 5/1916. Vua Duy Tân đã đồng ý. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1916 đã diễn ra nhưng tiếc thay nó đã bị thất bại ngay sau khi vua Duy Tân vừa rời khỏi Hoàng Cung."(Nguồn lichsuvietnam)
Lại có đường toại đạo do kẻ gian bí mật đào để tiếp cận quách, kim tỉnh, quan tài nhằm trộm cắp đồ tùy táng. Phần lớn tẩm mộ cỡ vừa ở vùng hẻo lánh thì kẻ gian đào đường toại đạo ngắn, dài trên dưới vài mét. Riêng ở Thừa Thiên Huế, xảy ra vụ đào trộm Xương Thọ lăng, kẻ gian đã nghiên cứu đào đường toại đạo từ bờ sông, dài vài trăm mét, tránh bị phát hiện và chúng đã “đạt mục đích”. Ngày 3/11/2013, Đỗ Nguyễn trên báo ANTĐ viết bài “Cổ vật có ma ở Kinh thành Huế” có đoạn: “Cách đây đã gần 30 năm, một vụ đào mộ động trời đã khiến dư luận xôn xao khi 6 tên trộm mộ đào một đường hầm dài dẫn từ sông Hương vào khu lăng mộ của Hoàng Thái hậu Từ Dũ (Từ Dụ). Khi sự vụ bị phát hiện, lăng bà Từ Dũ đã bị kẻ gian lấy đi nhiều hiện vật quý hiếm. Dù đã tóm gọn cả 6 tên trộm mộ, nhưng phải mất nhiều năm sau cơ quan công an mới tìm lại được 18 hiện vật. Dư luận cho rằng số hiện vật bị lấy mất còn gấp nhiều lần như thế. Thực tế, các cán bộ văn hóa ở Huế thời điểm đó đều khẳng định con số có thể lớn hơn nhiều số hiện vật mà cơ quan chức năng tìm lại được… Theo một cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cho biết: “Sau khi mãn hạn tù do hành vi trộm cắp của mình, 3 trong số 6 tên trộm mộ đã chết bất đắc kỳ tử. 2 người thì bỏ đi lang thang biệt xứ. Một người thì phát điên lảm nhảm linh tinh suốt ngày đêm…”
Đường toại đạo ở lăng Ba Vành và lăng Thủy Tiên:
Chúng tôi đến khảo sát lăng Ba Vành vào năm 1986, thấy nấm hình mai rùa bị bạt góc chéo, mất khoảng 1/5.Hỏi dân sở tại cho biết thời chiến tranh, có người từng đào, lấy đất để làm hầm trú ẩn. Nhờ vậy chúng tôi mới dễ phát hiện bên dưới nấm mai rùa, tạo bằng lớp bê tông dày, lại có một tấm đoang làm bằng vữa cổ khá dày. Trần nấm mai rùa và tấm đoang  này cách nhau chưa tới 1mét, không có dấu vết quách mộ, như thế không thể đặt quan tài trên tấm đoang. Vậy kim  tỉnh phải ở dưới tấm đoang và chắc chắn việc đưa quan tài vào kim tỉnh (khi hung táng) hoặc lấy quan tài ra (khi đào phá) phải nhờ đường toại đạo.
Chúng tôi đã nhờ người phát quang, làm cỏ mới phát hiện nhiều mảnh gạch bìa màu đỏ và một số gạch lát nền màu xám; đặc biệt có một viên gạch độc đáo, tìm thấy ở hầm chứa đồ tùy táng của lăng Ba Vành, được nung rất kỹ, hình hộp (trông như cái bánh chưng), kích thước 15cmx15cmx4cm. Trên một mặt vuông của viên gạch, người xưa đã vẽ phác thảo ngọn đồi, ở đỉnh đồi có mộ, và một đường toại đạo từ dưới chân đồi lên mộ.
Hình vẽ viên gạch nung, trên một mặt có vẽ đường toại đạo kép của lăng Ba Vành và lăng Thủy Tiên (Bảo tàng VHDG Huế hiện giữ viên gạch này)
 Điều chúng tôi thắc mắc là tại sao hình vẽ đường toại đạo trên viên gạch nung lại có hai nhánh ngắn, nhập lại thành một, rồi dẫn tới huyệt mộ lăng Ba Vành? Cửa vào đường toại đạo ở đâu?
Năm 2007, nhóm chúng tôi gồm có Trần Viết Điền, Trần Viết Hòa đã gặp thầy Phan Quang Hoành của Đan viện Thiên An đang đi dạo bên hồ Thủy Tiên, gần Đan viện. Chúng tôi được thầy Phan Quang Hoành tiếp chuyện và thầy đã nhiệt tình cho phép chúng tôi vào nhà quản vụ để nói chuyện khi biết chúng tôi từng lên lăng Ba Vành nghiên cứu trong 21 năm. Trong câu chuyện, biết chúng tôi đến đây với mục đích nghiên cứu, không liên quan những việc thương thảo về đất đai giữa xã Thủy Bằng với Đan Viện Thiên An, nên quản vụ vườn cam Đoàn Tiến An và thầy Phan Quang Hoành vui vẻ trả lời những thắc mắc của chúng tôi quanh lịch sử Đan Viện Thiên An. Các thầy xác nhận “Tháng 3 năm 1939, cha Romain Guillauma, một đan sĩ người Pháp, quyết định lập dòng tại Huế, và vẫn duy trì sở Miévelle làm nơi nghỉ chân (sở đất này sẽ bán lại cho các nữ tu Phan sinh vào năm 1954). Ngày 10-6-1940, thánh lễ đầu tiên được cha Romain cử hành trong ngôi nhà tranh vừa dựng xong gần chân đồi Ðức Mẹ, đánh dấu ngày thành lập Ðan viện Thiên An, trước sự hiện diện của cha Corentin”.Các bô lão làng Kim Sơn có truyền ức thời vua Nguyễn cấm đạo,từng có một vị giáo sĩ phương Tây xuống hang đá (nay là nhà nguyện, thư viện,  dưới lòng đất của Đan Viện Thiên An), xong vào một đường hầm để trốn, sau đó ngài cũng bị bắt và bị hành quyết. Một vị tiến sĩ, giảng viên của Đại học khoa học, viện đại học Huế (yêu cầu giấu tên), có thân phụ là người chuyên lo việc tạo tác của Đan Viện khoảng từ 1950 đến 1975, cho biết ở nhà nguyện dưới đất của Đan viện có một “sập đá” phẳng, tạo bởi đá granit, …và ở tường nhà nguyện có cửa hang(?)
Ngày 1/1/2011, trên Vietsciences, chúng tôi đăng bài “Lăng Chính cung Hoàng hậu, vợ vua Quang Trung ở đâu?”, nhằm chứng minh lăng Chính cung hoàng  hậu triều Tây Sơn không ở núi Kim Phụng (Thương Sơn) mà ở vùng núi Kim Sơn (Ngọc Trản phong đầu) và chúng tôi tạm gọi “Lăng ThủyTiên”.Từ ấy chúng tôi kiến giải hình vẽ đường toại đạo trên viên gạch nói trên như sau:
Năm 1791 khi táng bà Chánh cung hoàng hậu, triều Tây Sơn đã đưa quan tài vào lăng Thủy Tiên bằng đường toại đạo, có cửa ở dưới chân đồi (Thiên An),ở khuôn viên của nhà hộ lăng(nay là nhà quản vụ vườn cam thuộc Đan viện Thiên An). Đường toại đạo này ở bên trái của lăng Thủy Tiên. Năm sau, vua Quang Trung băng hà, để giữ bí mật, triều Tây Sơn đã đào một hang sâu trên đồi Thiên An, tạo tác thành một nhà quàng linh cửu vua Quang Trung, đặt linh cửu trên một bệ đá granit. Từ hang có nhà quàng linh cửu, triều Tây Sơn bí mật đào đường toại đạo đến nhà hộ lăng, có cửa đường toại đạo lăng bà Chính cung hoàng hậu, xong tiếp tục đào tiếp đến lăng Ba Vành. Tính từ nhà hộ lăng đến lăng Ba Vành thì đường toại đạo của lăng này cũng ở bên trái. Như vậy cửa hai đường toại đạo của hai lăng đều ở khuôn viên(dưới sâu) của nhà hộ lăng vậy. Rất tiện lợi!
 Thay lời kết:
  Trong công trình “ Đi tìm dấu tích CUNG ĐIỆN ĐAN DƯƠNG sơn lăng của hoàng đế Quang Trung”(nxb Thuận Hóa, Huế, 2007), nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân công bố : “Ngày 17-12-1988, chúng tôi…đã tiến hành khai quật để thăm dò ở đầu hè phía tây ngôi nhà 63/13/12 Điện Biên Phủ (nay là số 10/17 kiệt 120 Điện Biên Phủ, phường Trường An, Thành phố Huế). (Xem A.076).
   Chúng tôi đào xuống sâu 0,5m gặp một lớp thành dày chạy dọc theo hiên phía tây nhà bà Liên. Mặt trong của thành nằm sâu dưới nền nhà. Chúng tôi đào sâu thêm 1,50m vẫn chưa đến chân thành, đào dọc theo bức thành 3m vẫn chưa giáp với hai đầu bức thành (Xem A. 077). Bà Liên xác nhận “Cái đường hầm nằm dưới nền nhà bà không thể đào sâu thêm được nữa, đào thêm nữa sẽ sập nhà bà !”.
 Những người có mặt đều rất vui mừng.Chúng tôi tạm dừng công việc khai quật thám sát ở đó.
  Chúng tôi tạm kết luận: tấm đá lớn còn giữ được và đang  làm mặt bàn trong nhà bếp chùa Vạn Phước và bức thành bên ngoài đường hầm (được xem là kim tỉnh hay khuôn tỉnh) ở phía tây nhà bà Nguyễn Thị Liên là những dấu hiệu của cái huyệt mộ đã bị quật phá. Đó là những dấu hiệu còn chờ khai quật khảo cổ học chính thức của các cơ quan chức năng mới có thể có kết luận cuối cùng” (sđd, tr. 124, 125,126).
Chúng tôi nghĩ  rằng nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã tiếp cận đường toại đạo và kim tỉnh của lăng mộ bậc tôn quí, có khả năng là lăng vua Quang Trung. Rất tiếc trong cuộc khảo sát khảo cổ học ở gò Bình An,từ 6 đến 15-10-2016,  nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân không yêu cầu viện khảo cổ tiếp tục thám sát đường toại đạo ở khuôn viên nhà bà Liên,  lấy mẩu đường toại đạo và kim tỉnh nói trên, đo tuổi bằng phương pháp nhiệt huỳnh quang ,  để sớm kết luận cuối cùng về công trình dày công của mình.
Huế, ngày 1-11-2017 - Trần Viết Điền.

ĐỌC THÊM TƯ LIỆU :
Bí ẩn mới hé lộ sau những cuộc khai quật lăng mộ tại Huế.
Những câu chuyện kỳ bí trong quá trình khai quật cố đô Huế đã được hé lộ qua lời kể của chuyên gia khảo cổ học Nguyễn Tuấn Lâm – người chịu trách nhiệm khai quật các di chỉ khảo khổ tại Huế. Ông Nguyễn Tuấn Lâm cũng là một trong 2 chuyên gia khảo cổ học Việt Nam được cử đi đào tạo tại Úc về khảo cổ học dưới nước. Suốt 10 năm trời lăn lộn với những cuộc khai quật khảo cổ tại cố đô Huế, ông Lâm đã gặp những câu chuyện kỳ bí, những sự trùng hợp kỳ lạ  không thể giải thích nổi. Chuyên gia khảo cổ này đã kể lại những câu chuyện đó với An ninh Thủ đô cuối tuần…
Đó là những sự trùng hợp đến kỳ lạ mà cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Như cái chết của người quản tượng; Hòn đá bất thường trong Điện thờ lăng Gia Long; Tiếng gọi bí ẩn dẫn nhà khảo cổ học tìm ra cột thiêng cùng tấm địa đồ tại Lăng Thiệu Trị, và cả những cái chết bất ngờ…
Lăng Vua Gia Long
Tấm bia đàn xã tắc và 2 đám tang.
Trong 10 năm thực hiện Dự án khai quật khảo cổ học 17 di tích tại Huế, Trưởng đoàn khảo cổ học tại Huế của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, chuyên gia khảo cổ học Nguyễn Tuấn Lâm đã ghi nhận lại rất nhiều chuyện thần bí, kỳ lạ đã xảy ra. Trong suốt nhiều năm qua ông Lâm vẫn ám ảnh về những câu chuyện bí ẩn đó mà chưa từng hé lộ. Ông Tuân kể lại:
Cuối tháng 7-2007, Bộ VH-TT&DL ra quyết định thực hiện Dự án khai quật khảo cổ học Đàn Xã tắc phục vụ công tác trùng tu trước thềm Festival Huế 2008. Ngày động thổ được chọn là 1-1-2008, nhưng ngay khi lễ động thổ vừa diễn ra, tôi nhận được tin báo, nhạc phụ qua đời do đột tử tại TP.HCM. Sau 3 ngày tổ chức tang lễ, lo hậu sự cho bố, tôi tiếp tục quay trở lại thực hiện dự án còn dang dở thì nhiều sự kiện kỳ lạ lại liên tiếp diễn ra. Đó là chuyện công nhân làm việc tại đây cùng người dân trong khu vực bàn tán xôn xao về việc nhiều người cùng mơ thấy một giấc mộng. Trong đó, hàng đêm có một cụ ông râu dài, tóc bạc phơ chỉ mặc một bộ quần áo trắng tha thẩn trong khu khảo cổ. Sau nhiều lần đắn đo, tôi quyết định mở hố thăm dò tại đúng vị trí đó thì bất ngờ một tấm bia lớn được phát lộ. Đó chính là tấm bia “Xã tắc chi thần” mà các nhà khoa học vẫn tranh luận lâu nay để tìm ra vị trí đặt bia nhưng chưa có kết quả. Ngay sau đó, tấm bia được dựng lại và cũng từ đó, các vị trí cột mốc, chỉ giới dần dần lộ ra đầy đủ và hoàn chỉnh. Sự việc nếu chỉ có thế thì chắc cũng không có gì lạ, nhưng đến đúng ngày  nộp báo cáo kết quả khảo cổ học, kết thúc dự án thì tôi tiếp tục nhận được tin thân phụ mình qua đời tại Hà Nội. Từ đó, những sự việc kỳ lạ kiểu như thế được tôi để ý đến nhiều hơn và xâu chuỗi lại.
Sự cố ám ảnh
Nhắc lại những chuyện kỳ lạ chuyên gia Nguyễn Tuấn Lâm cho biết ông bị ám ảnh nhất là những cái chết và hiện tượng bất thường xảy ra đúng vào kỳ Festival Huế năm 2006. Để phục dựng lại Lễ tế đàn Nam Giao trong Festival Huế 2006, chính quyền Huế đã quyết định mua từ Đắk-Lắk 2 con voi và thuê 2 người quản tượng. Theo kế hoạch 2 con voi này sẽ đi đầu đoàn ngự đạo dẫn theo đội ngũ quan binh chỉnh tề tiến về nơi hành lễ. Song, ngay trước buổi lễ, một người quản tượng trong lúc cho voi ăn đã bất ngờ bị voi dùng ngà xuyên thẳng bụng, quăng lên trời quật chết. Ông Nguyễn Tuấn Lâm chia sẻ: “Mãi cho tới bây giờ, cái chết của người quản tượng vẫn còn ám ảnh tôi bởi cảnh tượng kinh hoàng đó. Thêm vào đó, cùng kỳ Festival còn xảy ra một sự cố đau buồn khác. Ngay trong buổi lễ khai mạc Festival, trời bỗng nổi cuồng phong dữ dội làm đắm một chiếc thuyền đang ngoạn cảnh trên sông Hương đoạn qua gần điện Hòn Chén. Theo tôi nhớ có tới 3, 4 người đã  bỏ mạng trong tai nạn này”.
Không chỉ những tai nạn bất ngờ, tại đây cũng luôn xảy ra các sự trùng hợp, kỳ bí đến nay vẫn chưa có lời giải thích. Như lần đoàn kiểm tra của các nhà lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên – Huế cùng các nhà nghiên cứu văn hóa, sử học có tên tuổi và khách thăm quan đến thăm khu khai quật lăng Gia Long (Thiên Thọ lăng). Chuyến thăm của đoàn từ lúc xuống xe cho tới khi vào điện làm lễ, thắp hương đều được nhà khảo cổ học Nguyễn Tuấn Lâm dùng máy quay ghi lại. Tuy nhiên, đến khi xem lại thì toàn bộ đoạn ghi hình đoàn tiến vào điện chính dâng lễ, thắp hương trong điện đã trở thành một khoảng đen khó hiểu.
Cũng tại khu vực điện chính, chỉ trước đó vài ngày, một vụ tai nạn kỳ lạ đã xảy ra. Trong lúc kiểm tra, chụp ảnh tư liệu hiện trường, một cán bộ Ban quản lý dự án Cố đô Huế lúc đó phát hiện ra một tảng đá lạ thường rất đẹp ở trong điện. Để tiện việc nghiên cứu, ông đã yêu cầu bảo vệ nhấc tảng đá ra khỏi điện để chụp ảnh nhưng lại quên bê hòn đá trả lại vị trí cũ. Và khi ông cán bộ này vừa đến cổng thì bị va chạm xe máy. Sau nửa tiếng tìm kiếm, mọi người mới phát hiện ra ông đang nằm bất động trong một bụi tre gần đó. “Đến giờ chúng tôi vẫn chưa thể lý giải được nguyên do nào cán bộ đó bắn vào trong bụi tre có chiều cao quá đầu người mà chỉ bị xây xát ngoài da. Để đưa ông ra, người ta đã phải chặt bụi tre. Chiếc xe của ông chỉ khởi động được khi hòn đá được đem trả vào vị trí cũ trong điện”…
Tiếng gọi lạ và bức địa đồ
Là một nhà khoa học, không bao giờ tin vào những chuyện ma mị, kỳ quái, nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn chưa thể tìm ra những bí ẩn đằng sau các câu chuyện kỳ lạ trong quá trình khai quật lăng Thiệu Trị (Xương Lăng). Những ngày đầu mở hố thám sát khai quật khảo cổ học, tôi cùng các đồng nghiệp nghe thấy đâu đó có tiếng lảng bảng vọng lại. Đến nửa đêm, tôi lại nằm mơ có người chỉ dẫn mình đến một di chỉ vô cùng quan trọng tại khu vực lăng Thiệu Trị. Quyết định thử vận may tại địa điểm vừa được báo, ông cho tổ chức đào ngay tại đó. Chỉ qua lớp đất mặt, một bức tranh được xếp bằng gạch đá được phát lộ. Ông tự tay tỉ mẩn làm sạch từng góc cạnh và phát hiện đây là một bức địa đồ với trung tâm ở giữa là dòng sông Hương uốn lượn. Điểm đặc biệt ở chỗ, những viên gạch dùng để xếp bức địa đồ đều là loại gạch có từ thời Gia Long. Nhưng địa điểm phát hiện lại nằm trong quần thể khu di tích lăng Thiệu Trị. Biết tin, các nhà nghiên cứu về cố đô Huế đã có mặt với rất nhiều giả thuyết đã được đưa ra. Trong đó, chủ yếu tập trung ý kiến cho rằng bức địa đồ thể hiện lại những thế đất đẹp ở Huế với hai bên tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ xoay quanh trục chính là sông Hương. Tại thời điểm ấy, mọi người đều muốn tổ chức một cuộc hội thảo để luận bàn tấm địa đồ kia thể hiện những gì và tại sao lại xuất hiện ở khu vực lăng Thiệu Trị. Nhưng sau nhiều biến động, cho đến nay, hội thảo vẫn chưa được diễn ra. Ý nghĩa thật sự của bức địa đồ vẫn là một bí ẩn.
Những ngày tiếp sau, tiếng gọi lạ lại xuất hiện đưa ông ra xa khỏi khu vực khảo cổ, lần tìm đến sát bờ sông Hương. Tại đây, ông và một người đồng nghiệp đã phát hiện ra một di tích, đó chính là cột chỉ giới quan trọng của lăng Thiệu Trị. Sử sách có ghi lại, cây cột thiêng được dựng để nhắc nhở người dân là khu vực linh thiêng, ai đi ngựa qua phải xuống ngựa, ai đi bộ phải ngả nón cúi đầu mà đi, người trên thuyền không được khua mái, cấm những lời bông đùa, cợt nhả. Cây cột cao tới 4m với nhiều hoa văn lạ mắt trạm trổ trên chất liệu gạch được gắn bởi loại vữa đặc biệt. Do tối trời, ông chỉ kịp cùng người đồng nghiệp chụp lại vài tấm hình làm tư liệu. Sáng sớm hôm sau, khi trở lại nghiên cứu thì cây cột đã bị đập phá tan tành, toàn bộ phần thân của cây cột chỉ còn 1m, xung quanh là đống gạch đá kéo dài ra bờ sông Hương. Cây cột bị chủ mảnh đất đập đi để xây khu nghỉ dưỡng. Sau này, chính người chủ nhà đã phải thừa nhận và  phục dựng lại cây cột theo các hình ảnh chụp được trước đó. Nhưng, chắc chắn một điều nếu không có sự dẫn dắt kỳ lạ kia, thì sẽ chẳng còn dấu tích của cây cột thiêng.
Nhà khảo cổ học Nguyễn Tuấn Lâm chia sẻ cố đô Huế – đất văn hiến vẫn còn muôn vàn những chuyện kỳ bí chưa tìm được lời giải đáp. Những chuyện  mà ông kể có thể chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên được nhiều người chú ý. Đến nay những câu chuyện kỳ bí như vậy vẫn được người dân Huế truyền tai nhau thu hút sự quan tâm của tất cả các du khách mỗi khi đặt chân đến nơi đây.
Theo An ninh Thủ đô.
dienbatn giớithiệu.Xin theo dõi tiếp BÀI 19.

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN.

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_21.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_22.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_23.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_25.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_56.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_26.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_27.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_28.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_29.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_30.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_11.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_12.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_13.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_14.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_15.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_16.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_77.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_17.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_20.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_18.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_98.html

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Bài 14.

https://www.youtube.com/watch?v=NxvotFedTRI

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Nhà Nguyễn Với Thành Hà Nội. Một Nghiên Cứu Lịch Sử Chuyên Sâu Về Sự Chuyển Biến Của Kinh Thành Cũ Qua Các Tư Liệu Cổ.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2026/01/nha-nguyen-voi-thanh-ha-noi-mot-nghien.html

Chuyên Khảo: Giám Mục Bá Đa Lộc Và Lăng Cha Cả – Vòng Xoay Của Lịch Sử, Văn Hóa Và Ký Ức Sài Gòn.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2025/09/chuyen-khao-giam-muc-ba-loc-va-lang-cha.html

ĐÁM TANG CỦA VUA GIA LONG .

https://dienbatnblog.blogspot.com/2024/03/am-tang-cua-vua-gia-long.html

 

 


Xem chi tiết…

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 17.

7/14/2020 |
GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN. BÀI 17.
I.NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH KHỞI PHÁT CỦA 9 ĐỜI CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.
II.LĂNG MỘ CỦA CÁC VUA NGUYỄN TẠI HUẾ.
1.LĂNG THIÊN THỌ CỦA VUA GIA LONG.
2. HIẾU LĂNG CỦA VUA MINH MẠNG.
3. XƯƠNG LĂNG(昌陵) - LĂNG CỦA VUA THIỆU TRỊ.
4. KHIÊM LĂNG – Lăng Tự Đức (chữ Hán: 嗣德陵) 
5. LĂNG VUA KHẢI ĐỊNH.
6.CUỘC CHIẾN TÂM LINH RÙNG RỢN GIỮA NHÀ NGUYỄN GIA LONG VÀ NGUYỄN HUỆ - TÂY SƠN.
7. NHỮNG CUỘC TÀN PHÁ VÀ THẢM SÁT CỦA NHÀ TÂY SƠN. ( Bài đọc thêm phần tư liệu ).
Sự thất bại của quân Tây Sơn trước nhà Nguyễn thường được cho là vì cái chết của vua Quang Trung. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, tại sao Nguyễn Phúc Ánh bao nhiêu lần tay trắng bại vong lại vẫn nhận được sự ủng hộ của người dân? Nhà Tây Sơn đã làm những điều gì để mất lòng dân đến như vậy?
TẠI HỘI AN  :
Phố cổ Hội An xưa (Ảnh qua vi.wikipedia.org)
Từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Hội An được xây dựng và phát triển trở thành thương cảng tiêu biểu của châu Á và nổi tiếng khắp thế giới. Rất nhiều thương nhân từ Nhật Bản, Trung Quốc, châu Âu đến đây giao thương, biến Hội An thành hải cảng quốc tế tiêu biểu ở châu Á. Hội An là đô thị rất trù phú, được nhiều nơi trên thế giới biết đến, có rất nhiều khu phố dành cho thương gia nước ngoài.
Một người Ý là Christoforo Borri cư trú ở Hội An vào năm 1618 đã mô tả rằng:
“Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam”.
“Người Hoa và Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ”
“Do chợ này mà Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích”.
Thế nhưng quân chúa Trịnh và quân Tây Sơn sau khi chiếm Quảng Nam đã tàn phá tất cả Hội An. Không chỉ sử liệu thời nhà Nguyễn mà nhiều thương gia phương Tây cũng chứng kiến ghi nhận cảnh này.
Vào thời điểm 1774-1775 là giai đoạn mà quân Trịnh tiến đánh Phú Xuân (Huế), chúa Nguyễn phải chạy về Quảng Nam, lại bị quân Tây Sơn đánh ra uy hiếp. Một bức thư năm 1775 của Halbout đã ghi nhận:
“Quân nổi loạn đã cướp bóc, cướp phá chẳng nương tay, đến nổi các tỉnh Cham cứ 20 người thì có 19 người chết vì bị đầy đọa khổ sở. Các giáo khu ở Hàn và Cầu Né đều không còn… Năm ngoái, ở Bầu Nghé từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch số giáo dân bị giết đến sáu trăm người… Ở một nơi khác cũng thời gian ấy, ít nhất có đến 1500 giáo dân bị giết. Suốt hai năm ròng gần như quanh tôi lúc nào cũng có người chết và hấp hối…” Thư của các giáo sĩ thừa sai, NXB Văn học Hà Nội.
Một người Anh Charles Chapman phải thốt lên rằng:
“Khi tới Hội An, thành phố lớn này chẳng còn lại là bao những khu phố được quy hoạch quy củ với những ngôi nhà xây bằng gạch, đường lát đá mà chỉ thấy một cảnh hoang tàn làm cho ta cảm thấy xót xa. Trời ơi, những công trình ấy bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức mà thôi”
Sau này thành phố Hội An đã được xây dựng lại nhưng không thể được như trước nữa, những khu phố sầm uất đã không còn, nhiều thương gia chứng kiến cảnh tàn phá cướp bóc cũng sợ hãi mà không dám quay lại.
Nhà nghiên cứu Tạ chí Đại Trường dẫn lời Linh mục Labartette miêu tả:
“Ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) không còn một con heo, gà, vịt, đường cát trước kia sản xuất rất nhiều nay biến mất, tiền mất giá một quan còn giá trị độ một đồng, tình trạng đói khổ ăn xin xuất hiện phổ biến trong xứ.”
Lê Quý Đôn cũng ghi nhận trong thảm cảnh ở Quảng Nam trong “Phủ biên tạp lục” như sau:
“…quá đỗi đói khổ cùng khốn, họ chỉ ngóng trông quân nhà vua đến giải cứu cho họ…”
TẠI CÙ LAO PHỐ :
Những gì còn lại đều bị đốt sạch. (Ảnh minh họa từ imgur.com)
Trung tâm thương mại sầm uất nhất Nam Bộ bị tàn phá
Trung tâm thương mại ở Nam Bộ là cù lao Phố nằm bên sông Đồng Nai thuộc xã Hiệp Hòa, Biên Hòa ngày nay. Nguồn gốc của nó là do một số tướng lĩnh nhà Minh do không quy phục nhà Thanh nên đến xin chúa Nguyễn được làm con dân Đại Việt và được cho phép khai phá vùng đất này. 
Thời ấy thương nghiệp phát triển dẫn đến các nghề thủ công như dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, đồ gỗ gia dụng, chạm khắc gỗ, đóng thuyền, làm pháo v.v.. rất phát triển. Nơi đây thuận tiện giao thông thủy bộ, buôn bán tấp nập, nên bắt đầu phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Nam Bộ.
Sách “Đại Nam nhất thống chí” mô tả rằng Nông Nại đại phố lúc đầu do Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài – từng là tổng binh ba châu Cao – Lôi – Liêm dưới triều Minh) khai phá, ông “chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội…”
Trịnh Hoài Đức mô tả trong “Gia Định thành thông chí” của mình như sau:
“Các thuyền ngoại quốc tới nơi này (cù lao Phố) bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ động. Đến ngày trở buồm về, gọi là ‘hồi đường’, chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế, khách chủ đều được tiện lợi và sổ sách phân minh. Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi…”.
Khi quân Tây Sơn đánh vào Nam bộ, lịch sử ghi nhận rằng cù lao Phố bị tàn phá, người Hoa kiều bị tàn sát. Quân Tây Sơn cướp bóc của cải chở về Quy Nhơn, những gì còn lại đều bị đốt sạch. Các cơ sở thủ công bị phá, dân chúng bị tàn sát, nước đỏ ngầu vì máu. Những người Hoa may mắn sống sót chạy về Bến Nghé, sau này thành lập lại trung tâm thương mại ở vùng Chợ Lớn.
Trịnh Hoài Đức mô tả sự việc này trong “Gia Định thành thông chí” rằng từ khi bị Tây Sơn tàn phá, “nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước”.
Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn, sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay. Kể từ đó, vùng cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.
TẠI MỸ THO : Vùng kinh tế hưng thịnh bị tàn phá.
Vào năm 1679, một nhóm khoảng ba ngàn người Minh Hương được Chúa Nguyễn cho định cư vùng đất mới này. Trong nhóm có Dương Ngạn Địch đứng ra lập Mỹ Tho đại phố ở làng Mỹ Chánh, huyện Kiến Hòa. Khu đại phố này kéo dài đến Cầu Vĩ, Gò Cát, tức khu vực xã Mỹ Phong hiện nay. Rất nhiều làng xã mọc lên xung quanh khu vực Mỹ Tho: Thái Trấn lập làng An Hoà (sau đổi là Thạnh Trị), Nguyễn Văn Trước lập làng Điều Hòa (khu vực đường Nguyễn Hùynh Đức bây giờ ).
Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ (trung tâm còn lại là cù lao Phố). Sự hưng thịnh của phố chợ Mỹ Tho cho thấy nền sản xuất nông – ngư nghiệp và kinh tế hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là đối với ngành thương mại.
Tuy nhiên quân Tây Sơn đã tàn phá vùng kinh tế hưng thịnh này một cách không thương tiếc. Nhà nghiên cứu Sơn Nam đã mô tả trong “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” rằng:
“Chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chàm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm cứ, đổi làm chiến trường, đốt phá gần hết, từ năm 1788 trở lại đây, người ta lần trở về, tuy nói trù mật nhưng đối với lúc xưa chưa được phân nửa”.
Thậm chí người ta đã coi quân Tây Sơn như cường đạo. Tại Vĩnh Thanh, trong lúc Tây Sơn vào chiếm cứ thì dân chúng “đều chôn cất của cải không dám phơi bày ra, cho nên bọn cường đạo không cướp lấy được vật gì”.
THẢM SÁT NGƯỜI HOA Ở CHỢ LỚN :
Chợ Lớn xưa. (Ảnh từ internet)
Từ khi cù lao Phố bị phá hủy thì các hoạt động thương mại phải di dời tập trung về Chợ Lớn.
Năm 1782 Nguyễn Nhạc đến “18 thôn vườn trầu” thì bị phục kích thua trận. Nhận ra quân phục kích là đạo binh Hòa Nghĩa gồm nhiều người Hoa ủng hộ Nguyễn Phúc Ánh, Nguyễn Nhạc đã thực hiện một cuộc thảm sát đối với người Hoa.
Nhà nghiên cứu Sơn Nam căn cứ theo “Gia Định thông chí” viết trong cuốn “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” như sau:
“Nhạc bèn giận lây, phàm người Tàu không kể mới cũ đều giết cả hơn 10.000 người. Từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn, tử thi quăng bỏ xuống sông làm nước không chảy được nữa. Cách 2, 3 tháng người ta không dám ăn cá tôm dưới sông. Còn như sô, lụa, chè, thuốc, hương, giấy, nhất thiết các đồ Tàu mà nhà ai đã dùng cũng đều đem quăng xuống sông, chẳng ai dám lấy. Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 quan tiền, còn các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở”.
Ngoài việc trả thù riêng người Tàu, Nguyễn Nhạc còn có dụng tâm tiêu diệt đầu não kinh tế của miền Nam, nơi chúa Nguyễn nắm được nhân tâm từ lâu.
Sự thật là quân Tây Sơn đã tàn sát bao nhiêu người? Linh mục Andre Tôn trong bức thư viết ngày 1/7/1784 mô tả số người chết trong cuộc thảm sát này là 10.000 đến 11.000 người, trong đó phần lớn là người Hoa. Linh mục Castuera, người đã có mặt ở Chợ Quán ngày 7/7/1782, ghi nhận có 4000 người Hoa bị giết. Số nạn nhân thật sự trong những cuộc thành trừng của Tây Sơn là không thể biết chính xác, nhưng một bầu không khí khủng bố đối với người Hoa ở đây là có thật.( Trần Hưng ).- https://trithucvn.net/van-hoa/dieu-gi-khien-nha-tay-son-bai-boi-nha-nguyen-phan-1.html.


NHỮNG GÓC KHUẤT CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN.
 Bài viết này không nhằm mục đích hạ bệ, hay đánh đổ vai trò lịch sử của phong trào nông dân Tây Sơn, ngược lại chúng tôi cho rằng phong trào này có rất nhiều tiến bộ; như lật đổ các thế lực phong kiến Trịnh – Nguyễn đang trên đà suy thoái, đánh bại các âm mưu xâm lược của ngoại xâm như Xiêm La, Mãn Thanh… Thế nhưng, lịch sử luôn có những mặt trái của nó, và vai trò lịch sử của phong trào Tây Sơn không chỉ là một “màu hồng” nó vẫn còn có những góc khuất, những góc khuất tác động tiêu cực đến lịch sử.
Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường có thể là người đầu tiên đụng đến những góc khuất của phong trào khởi nghĩa[1], phải đến hơn 20 năm sau mới có người lại đề cập đến những góc khuất này, đó là giáo sư Trần Quốc Vượng[2]. Gần đây chủ đề về mặt trái của Tây Sơn lại được khơi gợi từ sử gia George Dutton (Đại học Califonia), tuy nhiên công trình của ông vẫn chưa được in thành sách mà Nguyệt Cầm chuyển ngữ sang tiếng Việt. Hiện nay, nền sử học trong nước cũng đang trải qua thời kỳ “phản tỉnh” mạnh mẽ, bằng một loạt các trào lưu đánh sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử như đánh giá lại về nhà Mạc, nhà Nguyễn… Thế nhưng, cho đến nay việc “soi rọi” những góc khuất của phong trào Tây Sơn vẫn còn chưa được nhiều người chú ý, bài viết này hy vọng đóng góp một phần vào mục tiêu ấy. 
Từ Hội An, Quảng Nam…
Trong khí thế của một cao trào phản kháng đang lên, của một đội quân  – đa dạng, đủ thành phần nhưng phần lớn xuất thân từ những nông dân, thảo khấu – lúc nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu trước kẻ thù, thì dù là một đội quân “cướp của người giàu chia cho người nghèo” không thể tránh khỏi sự quá đà trong những lần chinh chiến trên chiến trường. Trong những năm 1773 – 1775, cuộc nổi dậy mang tên Tây Sơn (bắt nguồn từ Bình Định) đã nhanh chóng lan đến Quảng Nam, trong suốt thời gian đó Quảng Nam là vùng đất tranh chiếm và giằng co quyết liệt giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn và sau này là với quân Trịnh (Đàng Ngoài). Chính trong thời gian này, người ta chứng kiến được những cảnh cướp phá và vơ vét của những đội quân với tinh thần “cách mạng” thái quá, tiếc thay sử liệu minh chứng cho những sự kiện này không phải xuất hiện từ phía nhà Nguyễn (vốn có tư tưởng thù địch với Tây Sơn), mà từ chính các nhà truyền giáo, các thuyền buôn nước ngoài, những người trực tiếp chứng kiến cảnh tượng ấy.
Trong một bức thư viết khoảng tháng 7 năm 1775, Đức cha Halbout đã ghi nhận: “…Quân nổi loạn đã cướp bóc, cướp phá chẳng nương tay, đến nổi các tỉnh Cham cứ 20 người thì có 19 người chết vì bị đầy đọa khổ sở. Các giáo khu ở Hàn và Cầu Né đều không còn… Năm ngoái, ở Bầu Nghé từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch số giáo dân bị giết đến sáu trăm người… Ở một nơi khác cũng thời gian ấy, ít nhất có đến 1500 giáo dân bị giết. Suốt hai năm ròng gần như quanh tôi lúc nào cũng có người chết và hấp hối…”[3].
Cảng thị Hội An nơi trước đây là một thương cảng sấm uất với “hàng trăm thuyền bè từ các của biển Trung Hoa và Nhật Bản đến mua đường, quế hồ tiêu…” nay trong mắt nhà buôn Chapman chỉ là một cảng thị điêu tàn[4], mà đến 10 năm sau chưa phục hồi lại được[5]. Linh mục Labartette miêu tả ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) không còn một con heo, gà, vịt, đường cát trước kia sản xuất rất nhiều nay biến mất, tiền mất giá một quan còn giá trị độ một đồng, tình trạng đói khổ ăn xin xuất hiện phổ biến trong xứ, tình trạng này còn ảnh hưởng đến cả các dòng họ tôn thất và quan quyền của triều Nguyễn trước đây[6].
Tình trạng diễn ra ở Quảng Nam không phải là cá biệt, trước đó khi chiếm Quy Nhơn năm 1773, và sau này là Quảng Ngãi quân Tây Sơn cũng nhiều lần đốt phá dinh cơ[7]. Nhưng tình cảnh ở Quảng Nam có vẻ thê thảm hơn hay chúng ta không có nhiều tư liệu cho thấy tình cảnh này ở các nơi khác? Không chỉ có các tài liệu phương Tây, hệ quả mà quân Tây Sơn gây ra đã khiến cho dân xứ Quảng Nam, như Lê Qúy Đôn ghi nhận: “…quá đỗi đói khổ cùng khốn, họ chỉ ngóng trong quân nhà vua đến giải cứu cho họ…”[8]. Nhìn vào hiện tượng này, ta thấy dường như những động cơ tiến bộ của một cuộc khởi nghĩa nông dân đã bị các hành động thái quá làm biến dạng phần nào!
…đến Cù Lao Phố, Gia Định
Từ năm 1776, sau khi tạm hòa với Trịnh ở mặt Bắc, Tây Sơn bắt đầu những cuộc truy đuổi tàn dư chúa Nguyễn ở phía Nam. Ngay trong lần đầu hành quân ấy, dù không lấy được Gia Định, nhưng quân tướng nhà Tây Sơn dưới quyền của Nguyễn Lữ, như cách nói của sử quan triều Nguyễn, đã kịp vơ vét thóc lúa chở trên hai trăm thuyền về Quy Nhơn[9]. Kể từ đó, cứ hằng năm quân Tây Sơn lại đánh chiếm Gia Định, quân Nguyễn vừa chống vừa lui, hễ đại quân Tây Sơn rút về Quy Nhơn, quân Nguyễn lại đến tái chiếm, dẫn đến thế trận giằng co liên tục. Từ đây lịch sử sẽ ghi nhận chiến công của Tây Sơn trong công cuộc đánh bại chúa Nguyễn và quân xâm lược Xiêm La (1784), nhưng cũng sẽ ghi nhận cuộc tàn phá và giết chóc tàn bạo nhất của phong trào này.
Những tài liệu cho đến nay vẫn còn ghi nhận về một cuộc thảm sát chưa từng có, của quân Tây Sơn đối với các cư dân người Hoa ở Gia Định, mà nhất là Cù Lao Phố vào năm 1782. Các sử liệu của nhà Nguyễn ghi nhận, tháng 3 năm ấy, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ vào đánh chiếm Gia Định, một viên tướng của Tây Sơn là Phạm Ngạn bị quân Hòa Nghĩa (gồm phần đông người Hoa theo Nguyễn Ánh) do tướng Trần Công Chương cầm đầu giết ở cầu Tham Lương. Đáp lại, Nguyễn Nhạc ra lệnh bắt người Hoa ở Gia Định không kể quân hay dân đều giết hết, xác quăng xuống sông, thây chắt ngổn ngang đến nổi nước không chảy nổi, hơn một tháng người dân không dám ăn cá, tôm và uống nước sông[10].
Những cảnh tượng “kinh khủng” được miêu tả ở trên phần nhiều là do sự phóng đại của sử quan triều Nguyễn vốn chẳng ưa gì nhà Tây Sơn, con số “hơn vạn người” mà họ đưa ra cũng có thể phần nhiều chỉ là “thổi phồng”. Thế nhưng, bức thư của Linh mục Andre Tôn (1-7-1784) lại ghi nhận số người chết trong các cuộc tấn công của nhà Tây Sơn là khoảng từ 10000 – 11000 người, trong đó phần lớn là người Hoa[11]. Ngược lại, Linh mục Castuera, người đã có mặt ở Chợ Quán ngày 7/7/ 1782, ghi nhận chỉ có 4000 người Hoa bị giết[12]. Vì thế cho đến nay, số nạn nhân thật sự trong những cuộc thành trừng của Tây Sơn là không thể biết chính xác, nhưng một bầu không khí khủng bố đối với người Hoa ở đây là có thật, đó là lý do tại sao mà từ những năm 1778, người Hoa từ Cù Lao Phố đã bắt đầu di cư đến vùng đất Sài Gòn ngày nay và cũng kể từ sau thời kỳ bị Tây Sơn chiếm đóng, Cù Lao Phố hay Nông Nại Đại Phố, một thời thịnh đạt“trên bến dưới thuyền” trở nên hoang tàn[13].
Nguyên nhân dẫn đến cuộc thảm sát năm 1782 là gì? Tại sao Nguyễn Nhạc lại đưa ra quyết định trừng phạt người Hoa một cách tàn bạo như vậy? Đó là những câu hỏi lịch sử cần được giải đáp. Trong học giới, hầu hết các học giả như Tạ Chí Đại Trường, Fujiwara Riichiro, Huỳnh Minh và Choi Byung Wook xem việc người Hoa ở Gia Định ủng hộ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống lại Tây Sơn là lý do chính để gây ra cuộc thảm sát[14]. Tuy nhiên, nguyên nhân của thái độ ác cảm của các thủ lĩnh Tây Sơn hay cuộc thảm sát năm 1782 lại bắt đầu từ một nguyên nhân xâu xa hơn nằm ngoài phạm vi Gia Định, là hệ quả của một chuỗi các sự kiện trước đó.
Người Hoa, ngay từ những ngày đầu xuất hiện trong hàng ngũ Tây Sơn, mà quan trọng nhất là nhóm người Hoa ở Quy Nhơn, tập hợp lại thành Hòa Nghĩa quân do Tập Đình và Lý Tài đứng đầu. Trong lúc quân Tây Sơn đánh chiếm Quảng Nam, họ gặp một nhóm người Hoa nữa chính là những khách buôn giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động mậu dịch ở Hội An. Cũng như nhóm người Hoa ở Gia Định, nhóm người Hoa ở đây lại ủng hộ họ Nguyễn, năm 1775, khi Tôn Thất Quyền, Tôn Thất Xuân nổi dậy chống lại Tây Sơn ở Quảng Nam, một thương nhân người Hoa đã đem tiền bạc giúp sức, nhờ vậy mà quân nổi dậy cầm cự một thời gian[15]. Việc Tây Sơn tàn phá Hội An có thể bắt nguồn từ đây chăng?
Cũng trong năm này, Tập Đình bị cách chức, Lý Tài cũng ngã về hàng ngũ chúa Nguyễn[16]. Sự phản bội của Lý Tài làm Tây Sơn mất đi một lực lượng quan trọng, không khỏi gây ra sự hậm hực của Nguyễn Nhạc, từ đây ác cảm của ông với người Hoa càng sâu đậm. Sau này, người Hoa Gia Định lại càng là nguồn hỗ trợ đắc lực cho Nguyễn Ánh ớ phía Nam, và là lực lượng hăng hái nhất trong cuộc đối đầu với Tây Sơn. Đó là lý do tại sao ngay từ năm 1776, quân Tây Sơn khi mới vào Gia Định đã đánh đuổi, cướp phá của người Hoa, cho đến năm 1782, nhân cái chết của một vị tướng thân thuộc – Phạm Ngạn – Nguyễn Nhạc đã quyết tiêu diệt người Hoa, trước là để trả thù riêng, sau là muốn diệt trừ một lực lượng quan trọng đóng góp trong sự nghiệp trung hưng nhà Nguyễn của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ.
Tạm kết
Bài viết này vừa điểm lại một phần lẫn khuất phía sau hào quang của Tây Sơn, như một phong trào cách mạng, tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong lịch sử nước nhà trong suốt thời kỳ hậu bán thế kỷ XVIII. Trong đó, chúng tôi chú ý đến những góc khuất lịch sử vẫn còn nhiều bí ấn, bài viết chỉ là một nghiên cứu ngắn về nhà Tây Sơn, những chi tiết này chỉ là một “gam màu” tối trong lịch sử của phong trào Tây Sơn. Những góc khuất này không thể che lắp và phủ định được vài trò lịch sử của Tây Sơn, nhưng tự bản thân nó giúp chúng ta nhận chân hơn lịch sử, nhìn lịch sử bằng cái nhìn tương đối và tuyệt đối không huyền thoại hóa lịch sử.
(Bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay số tháng 7/2016, lần này có chỉnh sửa và bổ sung)
Tài liệu tham khảo
Choi Byung Wook, Vùng đất Nam Bộ dưới thời Minh Mạng, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr. 65 – 69.  
Huỳnh Minh, Gia Định Xưa và Nay, Saigon, 1973.
Fujiwara Riichiro, “Vietnamese Dynasties Policies Toward Chinese Immigrants”, Acta Asiatica 18 (1970).
Garnier. F, “Cholen”,Annuaire de la Cochinchina Francasie, Imprimerie Impériale, Saigon, 1865.
Lorenzo Pérez. P, “La Révolte et la guerre des Tayson d’après les Franciscains Espagnols de Cochinchine”, Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, XII, no.3-4 (1940).
Lê Quý Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, tập 1, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa xuất bản, Saigon, 1972.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006.
Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771 – 1802), Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2012.
Trần Văn Giàu (Chủ biên), Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Thư của các giáo sĩ thừa sai, Nguyễn Minh Hoàng dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2013.
Trần Quốc Vượng, “Mấy vấn đề về vua Gia Long”, Tạp chí Xưa và Nay, số 448, tháng 6, 2014, tr. 26 – 29 và số 450, tháng 10, 2014.    
 Chú thích:
[1]Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771 – 1802), Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2012.
[2]Trần Quốc Vượng, “Mấy vấn đề về vua Gia Long”, Tạp chí Xưa và Nay, số 448, tháng 6, 2014, tr. 26 – 29 và số 450, tháng 10, 2014, tr. 14 – 18. 
[3]Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Thư của các giáo sĩ thừa sai, Nguyễn Minh Hoàng dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2013, tr. 232 – 233.
[4]Dẫn theo Tạ Chí Đại Trường, sđd, tr. 58.
[5] Trần Quốc Vượng, “Mấy vấn đề về vua Gia Long”, Tạp chí Xưa và Nay,số 450, tháng 10, 2014, tr. 16.
[6] Dẫn theo Tạ Chí Đại Trường, sđd, tr. 64 – 65.
[7]P. Lorenzo Pérez, “La Révolte et la guerre des Tayson d’après les Franciscains Espagnols de Cochinchine”,Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, XII, no.3-4 (1940), pp. 76.
[8] Lê Quý Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, tập 1, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa xuất bản, Saigon, 1972, tr. 134.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 187; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tr. 561.
[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, tr. 212; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện,sđd, tr. 562.
[11] Trung tâm Nghiên cứu Quốc học,sđd, tr. 392.
[12]Dẫn theo Tạ Chí Đại Trường, sđd, tr. 101.  
[13]F. Garnier, “Cholen”, Annuaire de la Cochinchina Francasie, Imprimerie Impériale, Saigon, 1865, pp. 51; Trần Văn Giàu (Chủ biên), Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr. 220.
[14] Tạ Chí Đại Trường, sđd, tr. 100 – 101; Fujiwara Riichiro, “Vietnamese Dynasties Policies Toward Chinese Immigrants”, Acta Asiatica 18 (1970), p. 60; Huỳnh Minh, Gia Định Xưa và Nay, Saigon, 1973, tr. 182; Choi Byung Wook, Vùng đất Nam Bộ dưới thời Minh Mạng, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr. 65 – 69. 
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, tr. 185; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, sđd, tr. 560 – 561.
[16]Như trên.
( https://nghiencuulichsu.com).
dienbatn giới thiệu.

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ KINH THÀNH HUẾ VÀ LĂNG MỘ CÁC VUA NGUYỄN.

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_21.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_22.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_23.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_25.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_56.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_26.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_27.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_28.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_29.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/06/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_30.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_11.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_12.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_13.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_14.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_15.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_16.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_77.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_17.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_20.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_18.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_19.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2020/07/giai-ma-nhung-bi-ve-kinh-thanh-hue-va_98.html

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Bài 14.

https://www.youtube.com/watch?v=NxvotFedTRI

Loạt bài về lăng mộ Hoàng gia thời Nguyễn tại Huế.

Bài 1.

https://www.youtube.com/watch?v=J9b7HSHuFN

Bài 2.

https://www.youtube.com/watch?v=fIEaTjAP0do

Bài 3.

https://www.youtube.com/watch?v=F2ZqB8KVeeU

Bài 4.

https://www.youtube.com/watch?v=N7C9j0WjINs

Bài 5.

https://www.youtube.com/watch?v=dsQv2YkXqGY

Bài 6.

https://www.youtube.com/watch?v=a1a8g0ul7I0

Bài 7.

https://www.youtube.com/watch?v=UpfWIOItMxc

Bài 8.

https://www.youtube.com/watch?v=SwPE_kTOevo

Bài 9.

https://www.youtube.com/watch?v=qIyZRDkXScw

Bài 10.

https://www.youtube.com/watch?v=rr0hsqejvtE

Bài 11.

https://www.youtube.com/watch?v=cQgjjTxlMtE

Bài 12.

https://www.youtube.com/watch?v=ziTGUYd76VY

Bài 13.

https://www.youtube.com/watch?v=RpMsOVroxVw

Nhà Nguyễn Với Thành Hà Nội. Một Nghiên Cứu Lịch Sử Chuyên Sâu Về Sự Chuyển Biến Của Kinh Thành Cũ Qua Các Tư Liệu Cổ.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2026/01/nha-nguyen-voi-thanh-ha-noi-mot-nghien.html

Chuyên Khảo: Giám Mục Bá Đa Lộc Và Lăng Cha Cả – Vòng Xoay Của Lịch Sử, Văn Hóa Và Ký Ức Sài Gòn.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2025/09/chuyen-khao-giam-muc-ba-loc-va-lang-cha.html

ĐÁM TANG CỦA VUA GIA LONG .

https://dienbatnblog.blogspot.com/2024/03/am-tang-cua-vua-gia-long.html

 

 

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *