Home
»
Blog chuyên nghiên cứu và chia sẻ văn hóa phương Đông - phong thủy - tâm linh - đạo pháp - kinh dịch...
EMAIL : dienbatn@gmail.com
TEL : 0942627277 - 0904392219.PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH. BÀI 29.
PHẦN III . HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN.
PHẦN IV. PHONG THỦY VÀ DANH NHÂN HUYỆN CAN LỘC.
Năm ất Mão 1735, Phan Kính đậu cử nhân tại Trường thi Nghệ An.
Năm 1744, ông thi Hội đỗ Tiến sĩ và thi Đình đứng thứ nhất. Năm đó không
lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn nên ông được vua phê chuẩn: Đình nguyên Thám
hoa.
Năm 1745, ông được bổ nhiệm đi kinh lý Nghệ An với chức vụ Tuyên uý phó
sứ.
Năm 1748 ông lại được cử đi làm chức Hiệp đồng trấn Sơn Tây.
Năm 1759, ông được chúa Trịnh Doanh cử lên làm Đốc đồng Tuyên Quang.
Vào khoảng những năm 1759, 1760 vua nhà Thanh biết tài của Phan Kính,
nên đã phong cho ông là "Lưỡng quốc đình nguyên Thám Hoa" ban tặng
ông một áo gấm màu vàng (cẩm bào) và một bức trướng ghi dòng chữ: "Thiên
triều đặc tứ, Bắc đầu dị nam, nhất nhân nhi dĩ" (Thiên triều đặc ban, phía
nam bắc đầu, chỉ một người thôi).
Ngày 7 tháng 7 năm 1761, ông lâm bệnh nặng và qua đời tại quân doanh
Hưng Hóa.
Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) Vua Lê Hiển Tông phong sắc cho ông là
"Thành hoàng hiệu Anh Nghị Đại Vương" để ghi nhớ công lao nội trị và
ngoại giao của Thám hoa Phan Kính.
Đền thờ Phan Kính tại xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được xếp
hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia (quyết định của Bộ Văn hóa Thông tin số 776
ngày 23-6-1992).
Tác phẩm
Kinh truyện tự sự
Dĩ trực thi tập
Vịnh cổ thái lão
Vĩnh gia Thám hoa Phan Kính truyện
Phan Kính hội đình thi văn.
Cuộc đời Đình nguyên Thám hoa Phan Kính đã để lại nhiều giai thoại đẹp đẽ
và kỳ bí. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất của danh nhân ( 06/12/2015), xin
cung cấp cho đọc giả một vài mẩu chuyện được lưu lại trong gia phả cũng như dưới
dạng truyền ngôn của bà con trong làng và trong dòng họ. (
GIAI THOẠI VỀ THÁM HOA PHAN KÍNH.
Phan Kính ( 1715- 1761) tự là Dĩ Trực, hiệu
Tĩnh Trai, sinh ngày 06/12/1715, quê làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn
( nay là xã Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh). Với tài cao học rộng, Cụ thi đỗ Đình nguyên Thám hoa năm 1743, từng đảm
nhận nhiều trọng trách của triều đình đương thời, để lại nhiều dấu ấn trên con
đường võ công cũng như văn nghiệp. Vua Càn Long mến phục tài năng của cụ Phan
nên đã gia phong danh vị “ Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa" tặng áo cẩm
bào và bức trướng, có ghi dòng chữ “
Thiên triều đặc tứ Bắc Đẩu dĩ Nam nhất nhân nhi dĩ” (về phía Nam sao Bắc Đẩu chỉ
có một người mà thôi). Sau khi Cụ mất, vua Lê Hiển Tông và Minh đô vương Trịnh
Doanh đã tự tay đề bức trướng phúng viếng: " Lưỡng đồ văn hữu vũ - Vạn lý
hiểm vy di" (Hai đường văn lẫn võ – Vạn dặm hiểm lại bình), ban sắc truy
phong chức Hữu thị lang Bộ hình, tước Quỳ dương bá, thụy Trung hiển. Năm
1783, vua Lê Hiển Tông phong sắc tôn cụ
là Thành hoàng, gia phong là “Anh nghị đại
vương”.Sắc phong mỹ tự của vua Cảnh Hưng năm 1783 đã viết: “…Tướng công văn tài
đứng hàng đầu nho sĩ, võ lược xếp vào loại tướng giỏi, được trong triều ngoài
quận kính trọng, là người có danh vọng cao như sao Bắc Đẩu trong số các bậc sĩ
phu ở trời Nam. Chốn miếu đường cũng như nơi chiến địa đều lẫy lừng tiếng thơm,
một miền biên thùy phía Bắc đều khen tài lạ. Từng được ban khen vinh hiển. Sống
vẻ vang chết cũng vẻ vang nên cho được hưởng lộc đời đời…”. Năm 1992, nhà thờ
Phan kính được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.
Cuộc đời Thám hoa Phan
Kính đã để lại nhiều giai thoại đẹp đẽ và kỳ bí. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày
mất của danh nhân ( 06/12/2015), xin
cung cấp cho đọc giả một vài mẩu chuyện được lưu lại trong gia phả cũng như dưới
dạng truyền ngôn của bà con trong làng và trong dòng họ:
1. Thần đồng Lai Thạch.
Năm Nhâm Dần (1722) trong xã Lai thạch có kỳ thi sát hạch, năm ấy cụ
Phan Kính mới lên 8 tuổi, biết mình chưa đủ tuổi nên cụ đã bí mật xin ghi tên dự
thi. Đề thi là một bài thơ thất ngôn và một bài văn sách. Sau khi công bố kết
quả, người cậu ruột là Nguyễn Quỳnh (Giám sinh Quốc Tử giám) biết chuyện, tìm đến
huấn đạo xem bài thi của cháu, thấy bài thơ thất ngôn ca ngợi thời Đường ngu có
câu:
“Đệ nhất hoa huân thâm hoán tưởng
Khả tam sự nghiệp đốc tư duy….”
Nghĩa là:
Nhất lập huân công lòng nổi dậy
Ba kỳ sự nghiệp chí vươn lên
Người cậu rất ngạc nhiên và tự hào, và cảm ơn vị huấn đạo rồi nói: “Rất
xứng đáng”.
2. Đối đáp khi thi Hương
Năm Giáp Thìn ( (1724), Phan Kính mới 10 tuổi đi dự kỳ thi hương trường
huyện La Giang. Quan giám khảo là người Đức Quang (Đức Thọ) thấy Phan quá bé nhỏ,
nhưng bài vở lại đạt loại ưu nên ra thêm một vế câu đối: “La Sơn, Lai Thạch thằng
bé lách chách vào hạch trường Hương”. Sau vài giây duy nghĩ, Phan đối đáp luôn:
“Nghệ An, Đức Quang, võng lọng nghênh ngang làm quan giám khảo”.
Thấy Phan nhỏ tuổi mà thông minh, có khẩu khí tốt, đối đáp chặt chẽ nên
quan giám khảo lấy đỗ hàng đầu.
3. Qua đò ném dao “thề”.
Khoa thi Hội năm Quý Hợi (1743), sau nhiều phen lận đận nơi trường ốc,
Phan Kính ra Thăng Long dự thi, khi qua bến đò Phù Trạch, ra đến giữa sông Lam, Phan đã ném một con dao
xuống sông thề rằng: “Thi hội, thi đình lần này không đỗ, ta quyết không trở về
qua đây nữa”. Kết quả thi lần này, Cụ đã Đỗ Đình nguyên Thám hoa và được triều
đình ban cấp ngựa tiền về quê vinh quy bái tổ.
Sắc phong của vua Cảnh Hưng “Cho đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam
danh" năm 1743
4. Anh này thế nào cũng đỗ.
Năm Quý Hợi (1743), Phan Kính đi thi, trên đường đi gặp một ông phú hộ,
biết tiếng cụ Kính là người hay chữ xin giúp một bài văn tế, biết phận nhà
nghèo nên cụ giúp ngay, kiếm thêm chi phí đi đường.
Do vui chuyện cùng ông phú hộ mà đến trường thi bị trễ, sáng mai vào thi
rồi mà chiều tối nay mới tới nơi, không kịp làm thủ tục, cổng trường đã đóng chặt.
Phan Kính buồn chán tính đợi khoa sau.
Bất ngờ đêm ấy bỗng mưa to gió lớn, lều chõng của các sĩ tử bị đổ hết,
ban giám khảo phải xin phép hoãn lại hôm sau. Nhà vua lệnh cho hoãn và cho xem
xét các trường hợp đến chậm được vào thi. Khi xét cụ thể chỉ còn một sĩ tử duy
nhất được xét đó là Phan Kính, chúa Trịnh nói: “Anh này thế nào cũng đỗ”. Quả
nhiên Phan Kính đã đỗ Đình nguyên Thám hoa.
5. Người con gái cụ Thám.
Phan Kính có một người con gái tên là Phan Thị Toản. Sống trong một gia
đình khoa bảng bên nội, bên ngoại đều quen với đèn sách văn chương, cô Toản
cũng giữ được gia thanh, có tiếng tài sắc vẹn toàn. Nhiều chàng trai đã rắp
ranh giương cung bắn sẻ, trong đó có cả chàng trai Nghi Lộc đã nổi danh thông
minh linh hoạt ở đất Nghệ An đó là Nguyễn Hữu Chỉnh, sau là Bằng Quận công, có
vai trò quan trọng ở thời đại Lê Trịnh – Tây Sơn cuối thế kỷ thứ XVIII.
Chuyện kể rằng: Nguyễn Hữu Chỉnh tìm đến gia đình cụ Phan Kính ở Vĩnh Gia
để xem mặt cô Toản và tìm cách ướm lời. Cô Toản cũng được phép tiếp chuyện với
các nhà danh sĩ lui tới để tìm ý trung nhân.
Vào một buổi hoàng hôn, trên trời đã xuất hiện nhiều ngôi sao lấp lánh.
Nhìn cái hồ bán nguyệt có bậc tam cấp, cô Toản nảy ra ý tứ, đọc cho Nguyễn Hữu
Chỉnh một vế đối:
Tây trúc trì trung, ba động bán thiên ngư
đẩu.
(Rửa chân trong sao, lay động nửa trời tinh tú).
Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ mãi chưa ra, chợt nhìn vào tường nhà có treo một bức
bản đồ trang trí nên ứng khẩu đáp lại:
Họa đồ bích thượng, tận thâu tứ hải sơn hà.
(Vẽ đồ trên vách, thu hết bốn bể non sông).
Cô Toản khâm phục tài năng của Chỉnh, khẩu khí đó chứng tỏ con người này
có thể làm nên đại sự, có thể gửi phận trao duyên. Cô Toản kể lại với cậu ruột
là Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử). Cậu nói với cháu: “Câu ra của cháu rất hay, mà
câu đối lại cũng rất chỉnh, ý tứ văn chương đều xuất sắc cả, chỉ có điều … bản
đồ thu hết sơn hà chẳng qua chỉ là một tờ giấy mà thôi”.
Cô Toản lẳng lặng ghi nhớ lời của cậu. Ít lâu sau, Nguyễn Hữu Chỉnh cho
người sang xin ý kiến để chuẩn bị chạm ngõ vấn danh, nhưng cô Toản đã lựa lời từ
chối.
Đền thờ Thành hoàng Anh nghị đại vương Phan Kính được xây dựng tại thôn
Vĩnh Gia, xã Song Lộc. Nghe kể, sau ngày
lễ tế yết hoàn thành lăng, đền cụ Thám, từ đó cứ đến tối ba mươi rạng ngày mồng
một và tối mười bốn rạng ngày rằm hàng tháng, hoặc tối của ngày giỗ Cụ, người
dân vùng này thường trông thấy trên bầu trời xuất hiện một làn ánh sáng
dài vài mét, như một dải lụa, bay từ núi
Bụt, hoặc từ núi Hồng Lĩnh về tới lăng một lúc, sau đó lại bay lên đền cụ Thám, hạ xuống đền khá lâu, tiếp tục
bay về từ đường họ Phan “Vĩnh Gia” rồi biến mất.
Đền cụ Thám có cái giếng
đổi màu, nhìn vào đó, dân làng có thể đoán được nhiều điều may rủi sẽ xẩy ra. Mỗi
lần ở phía Nam giếng tự nhiên đục ngầu thì mấy hôm sau có chí sĩ phía đó từ trần,
hoặc nửa giếng phía Bắc đục thì sau đó dân chúng phía ấy thấy có người chết....
Vì thế, chẳng ai bảo ai, khi đi qua đền đều tự bỏ mũ nón xuống để tỏ lòng tôn
kính và biết ơn ngài. Nhân dân địa phương thường truyền khẩu câu ca dao, nhắc
nhở nhau là:“Ai ơi cất nón qua đền -Nghiêm thờ quan Thám bình yên mọi nhà”.
Cảm phục trước tài năng và công lao sự nghiệp của một bậc danh nhân của
quê hương, kẻ hậu học là Phan Duy Kha có
làm bài thơ ca ngợi như sau:
ĐÌNH NGUYÊN THÁM HOA PHAN KÍNH.
Qúy Hợi vinh quy , rạng biển cờ (1)
Chí lớn công thành thỏa ước mơ.
“Trà Sạc thiên thu chung tú khí,
Lam Hồng vạn cổ tráng long cơ”. (2)
Voi Mẹp nắng mưa, bền dấu tích,(3)
Từ đường bằng sắc chẳng phai mờ
Bảng vàng , bia đá , ngời tên tuổi
“Tinh Lạc” còn truyền chuyện thuở xưa.(4)
Ông thuở làm quan trải gian truân,
Tuyên Quang, Hưng Hóa chẳng dừng chân.
Phất cờ tiễu phỉ, yên biên giới,
Vun gốc nhân hòa, giữ lòng dân.
Chính trị
– Tâm công nêu đức lớn,
Ngoại giao – Lưỡng quốc rạng công huân.
Một giải bên thùy im tiếng súng
Bình yên chim hót, tiếng ca ngân .
( Phan Duy Kha.)
Chú thích : 1.
Phan Kính đỗ khoa Quý Hợi (1743)
2. Đôi câu đối ở từ đường Song Lộc, nghĩa là: Trà Sơn, Sạc Lĩnh nghìn năm chung đúc khí tốt, Sông Lam núi Hồng vạn cổ cơ đồ hưng thịnh
3. Voi Mẹp: Trước đền thờ có 2 con voi phục,
tiếng địa phương gọi là voi mẹp
4.Tinh lạc: Dân địa phương truyền rằng vào
ngày giỗ Phan Kính thường có luồng ánh
sáng bay về đậu trên đền thờ, gọi là Tinh lạc.
Ảnh: Bằng
sắc vua ban cho Đình nguyên Thám hoa Phan Kính
Đôi câu đối
ở từ đường Song Lộc, nghĩa là: Trà Sơn, Sạc Lĩnh nghìn năm chung đúc khí tốt,
Sông Lam núi Hồng vạn cổ cơ đồ hưng thịnh (Trà Sơn là Núi Xanh, Sạc Lĩnh là Núi
Cài, hai ngọn núi gần quê Phan Kính)
Khu di
tích lịch sử cấp quốc gia Đền thờ Phan Kinh ở Song Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh).
Từ con nhà nghèo, không có giấy mực, phải học chữ trên lá chuối tươi,
Thám hoa Phan Kính đã cố gắng không ngừng nghỉ, trở thành danh tướng thời Lê.
Ông là người góp phần dựng lại cột mốc biên giới, được phong là Lưỡng quốc đình
nguyên Thám hoa. Trong nhiều tài liệu ở đền thờ Phan Kính (thôn Vĩnh Gia, Song
Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) lưu truyền nhiều câu chuyện kỳ lạ, bí ẩn quanh cuộc đời
của vị tướng toàn tài.
Thần đồng đất Lam Kiều.
Về mảnh đất Lam Kiều (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh), hỏi về danh nhân Phan
Kính, người dân ở đây tự hào cho biết: “Cụ là danh tướng nổi tiếng lập nhiều
chiến công cho đất nước nên ở đây người dân lập đền thờ, đặt tên trường học, đường
mang tên cụ”.
Gia đình ông Phan Tân đang lưu giữ nhiều sách vở nói về cuộc đời sự nghiệp Phan Kính và cả cuốn gia phả của dòng họ. Theo tài liệu của dòng tộc họ Phan ghi lại, Phan Kính sinh năm Ất Mùi (6/12/1715) tại thôn Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, trấn Nghệ An ( nay là xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).
Lên ba, bốn tuổi, Phan Kính đã thuộc nhiều ca dao tục ngữ, phân biệt được
nhiều loại cây, con thú trong vườn. Lên sáu tuổi, bố thấy con thông minh, nhanh
nhẹn nên cho học chữ, chẳng bao lâu đã thuộc lòng và chép ám tả được cả quyển
“Thiên Gia Thi” không sai sót. Lên 7 tuổi, 8 tuổi đã tập làm thơ phú. Năm Nhâm
Dần (1722), trong xã Lai Thạch có kỳ thi sát hạch, năm ấy Phan Kính mới 8 tuổi
chưa đủ tuổi dự thi nhưng đã bí mật xin ghi tên dự thi.
Đề thi năm đó là một bài thơ thất ngôn và một bài văn sách. Sau khi công
bố kết quả, mọi người bất ngờ trước bài dự thi của Phan Kính, bài thơ được Giám
sinh Quốc Tự Giám Nguyễn Quỳnh đánh giá cao, ông không phạt mà còn khen Phan
Kính lớn lên sẽ thành bậc anh tài.
Thời gian này gia cảnh nhà Phan Kính gặp nhiều khó khăn hơn, phải chật vật
lắm gia đình mới cho Kính đi học được. Thấu hiểu nỗi băn khoăn, vất vả của cha
mẹ, Phan Kính dốc sức học hành. Không có giấy, cậu tìm giấy đã viết chữ lộn mặt
trái mà viết, nhiều lần phải viết tập trên lá chuối tươi, đêm đêm đem sách ra đọc
dưới ánh trăng.
Khi Kính lên 13, 14 tuổi thì đã là lao động chính của gia đình. Bao
nhiêu điều vất vả cực nhọc trong công việc đồng áng không có điều nào mà chưa nếm
trải. Ngày thì lo việc đồng áng, đêm miệt mài kinh sử không chút nghỉ ngơi. Dân
làng ai cũng quý trọng, mến phục là người hiếu hạnh.
Mùa đông năm Canh Tuất 1730, sĩ tử ghi tên trình văn ở Quốc Tử Giám lên
tới bốn năm trăm người mỗi kì thế mà cả hai kì năm đó, Phan Kính đều được đứng
đầu nên được suy tôn là người đứng đầu “Nghệ An Ngũ Tuyệt” thời kì ở Thăng
Long. Ai cũng thán phục: “Thầy Cống Lai Thạch nhà nghèo mà học rộng đến thế”!
Dù nhà nghèo, Phan Kính bàn với vợ dùng toàn bộ của hồi môn (dùng để xây
nhà cho 2 vợ chồng) đem cứu giúp bà con trong làng thoát cảnh giáp hạt.
Tết Quý Hợi( 1743), Phan Kính ra Thăng Long dự thi, với một nung nấu một quyết tâm: “Quyết chí thành đạt, không thành đạt không trở về nữa”. Trên đường đi, Kính giúp một gia đình phú hộ viết điếu văn cho người quá cố và không may bị trễ giờ. Sáng vào thi mà chiều tối mới tới nơi, không kịp làm thủ tục, cổng trường đã đóng chặt.
Bất ngờ tối hôm ấy mưa to gió lớn, lều chõng của các sĩ tử bị đổ hết,
ban giám khảo phải xin phép hoãn lại hôm sau. Nhà vua lệnh cho hoãn và xem xét
các trường hợp tới chậm để vào thi. Khi xét cụ thể chỉ còn một sĩ tử duy nhất
được xét đó là Phan Kính, chúa Trịnh nói “anh này không thi cũng đỗ”.
Năm đó, vua Lê Cảnh Hưng đích thân ra đề thi chế sách gồm 10 mục, 100
câu hỏi. Ngay tối hôm ấy, trên sân rồng đèn đuốc sáng trưng, vua Cảnh Hưng chủ
trì cùng các quan phụng khảo bắt tay ngay vào việc kiểm bài. Quyển thi của Phan
Kính được nhà vua dùng bút son ngự phê “Cho đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ
tam danh” (tức đỗ đầu khoa thi với danh vị Thám Hoa- vì nhà vua yêu cầu không lấy
Trạng Nguyên, Bảng Nhãn).
Từ năm 1744, Phan Kính từng đảm nhiệm nhiều chức vụ: Giám sinh ở Quốc Tử
Giám, Đốc đồng trấn Sơn Tây, Đốc đồng xứ Thanh Hóa, Thư đốc thị Nghệ An, Đốc đồng
xứ Tuyên Quang, Kinh lược sứ, Tham mưu nhung vũ.
Trong những năm 1758 – 1761 Phan Kính với cương vị Đốc đồng xứ Tuyên
Quang kiêm tham mưu nhung vụ đạo Hưng Hóa đồng thời là phái bộ vua Lê, đem quân
lên trấn giữ vùng biên giới phía Bắc. Ông đã nhiều lần thương thuyết với quan
chức nhà Thanh, dựng lại cột mốc biên giới, tiêu diệt thổ phỉ, giữ cuộc sống
yên bình cho người dân.
Vua Càn Long nhà Thanh trọng tài đức của Phan Kính đã gia phong cho ông
là “Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa” ban tặng ông một cái áo cẩm bào vương triều,
một bức trướng có ghi dòng chữ: ”Thiên triều đặc tứ, Bắc Đẩu dị nam, Nhất nhân
nhi dĩ” (thiên triều đặc cách, phía nam Bắc Đẩu, chỉ một người thôi).
Theo tài liệu được gia tộc họ Phan lưu truyền thì Phan Kính sau khi đã
cùng phía nhà Thanh hoàn thành thắng lợi việc diệt giặc cỏ, xác định dường biên
giới, phía nhà Thanh đã tổ chức liên hoan mừng thắng lợi tại lễ đường bên hồ Động
Đình. Được triều Lê cử, Thám Hoa Phan Kính tham dự buổi mừng công này của nhà
Thanh. Chiều ngày mồng 7 – 6 năm Tân Tỵ, cụ Kính đã có mặt tại lễ đường, sức khỏe
vẫn tốt. Nhưng tối đi dự tiệc về tới nhà bên hồ Động Đình thì đột tử đúng giờ Dậu
(7-7-1761) lúc 41 tuổi khi tài hoa đang nở rộ.
Nhà thờ họ Phan lưu giữ áo Cẩm bào, kiếm
vàng.
Trong khu nhà thờ dòng họ Phan, có nhà tưởng niệm Thám Hoa Phan Kính, ở
đây lưu giữ những sách vở tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp của vị danh tướng
toàn tài và tài liệu về dòng họ Phan. Trong khu vực nhà thờ, có chiếc hộp sắt lớn,
được ông Phan Xuân Noạn (82 tuổi) - người trực tiếp canh giữ nhà thờ họ Phan
khóa cẩn thận, cất riêng. “Đây là báu vật lớn của dòng họ, tổ tiên để lại. Giám
đốc sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh giao cho tôi trong giữ”, ông Noạn
nói.
Tuổi già, nhưng ông Noạn luôn khúm núm, quỳ gối trước hòm khi mở khóa.
Qua nhiều lớp khóa, chiếc hòm được mở, bên trong hòm là một chiếc áo Cẩm bào có
niên đại hơn 300 năm, những ống tre, nựa đựng những sắc phong, lệnh vua ban bằng
chứ Hán.
Ông Noạn chỉ tai vào chiếc áo cẩm bào tiếc nuối nói, “theo tài liệu ghi
lại chiếc áo này Thám hoa Phan Kính được vua Càn Long đích thân trao tặng vì
khâm phục tài năng của Thám hoa nước Việt. Tất cả các cúc áo, khuy áo đều được
làm bằng vàng rồng. Nhưng sau thời gian dài thất lạc, những trang sức quý báu
trên áo đã bị mất. Chiếc kiếm vàng được vua ban cũng đang bị thất lạc”.
Sau khi Phan Kính mất, ghi nhận những công lao to lớn của ông cho đất nước,
Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), vua Lê Hiển Tông phong sắc cho ông là “Thành
hoàng”, hiệu “Anh Nghị Đại Vương”, lập đền thờ ở làng Lai Thạch (nay là Song Lộc,
Can Lộc, Hà Tĩnh).
Ngày trước quần thể di tích này hết sức uy nghi, đồ sộ, song đáng tiếc
hiện nay do thời gian, chiến tranh, con người đã tàn phá hoàn toàn ngôi đền thờ.
Năm 1992, Bộ Văn hóa thông tin công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
cho đền thờ Phan Kính.
Ông Phan
Xuân Noạn (82 tuổi) người trực tiếp canh giữ nhà thờ họ Phan gần 40 năm nay bên
cạnh chiếc hòm quý đựng áo cẩm bào, sắc phong của Phan Kính.
Tưởng nhớ công ơn của Thám hoa Phan Kính, Hội đồng Phan tộc Việt Nam đã
quyết định thành lập quỹ học bổng mang tên ông trên cả nước dành cho những người
con họ Phan ưu tú có nhiều đóng góp cho Tổ quốc. Trong ảnh PGS.TS, NGND Phan
Hòa trao phần thưởng khuyến học cho con cháu có thành tích xuất sắc trong học tập.
Hiện Đền đã được tỉnh Hà Tĩnh duyệt dự án để tôn tạo, nâng cấp cho người
dân hương khói. Nhưng mấy năm nay, việc nâng cấp, sửa tôn tạo đền vẫn chưa được
triển khai. Nhiều người dân ở đây lo sợ, nếu không có sự quản lý chặt của cơ
quan chức năng, nguồn vốn để tôn tạo, sửa chữa thì một ngày không xa “khu di
tích lịch sử cấp quốc gia này có nguy cơ trở thành phế tích”.
“Phan Kính là người học rộng tài cao. Ông văn, võ, chính trị, kinh tế,
ngoại giao toàn tài, một tri thức tài hoa, một quan thanh liêm mẫn cán luôn
hoàn thành trách nhiệm một cách xuất sắc. Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Kính
là tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau học tập về tài học, chí học và đức
tính quan liêm.” - Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nguyễn Duy Quý đã khái quát về cuộc
đời của Phan Kính.
“Ghi nhận công lao to lớn của Phan Kính với đất nước, Hội đồng Phan tộc
Việt Nam đã quyết định thành lập quỹ học bổng mang tên ông trên cả nước dành
cho những người con họ Phan ưu tú có nhiều đóng góp cho Tổ quốc, dòng họ. Ngoài
ra dòng họ Phan Kính vẫn tổ chức khuyến học khuyến tài hàng năm cho con cháu có
thành tích trong học tập, nghiên cứu” - Ông Phan Bình, Chủ tịch Hội đồng Phan tộc
Việt Nam.( Phan Quang Lộc )
Chuyện đời vị thám hoa được vua Càn Long tặng
18 cỗ quan tài.
Trong số những vị thám hoa của sử Việt, Phan Kính được người phương Bắc
nể phục nhất. Ông từng được vua Càn Long phong là Lưỡng quốc đình nguyên thám
hoa, được tặng áo cẩm bào. Khi qua đời, ông được vua Thanh cho đóng 18 cỗ quan
tài khâm liệm.
Xung quanh vị thám hoa tài ba này, nhiều câu chuyện bí ẩn về cuộc và sự
nghiệp của ông còn được lưu truyền.
Viết lên lá chuối xanh để học.
Phan Kính (1715-1761) tự là Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Vĩnh Gia,
xã Lai Thạch, huyện La Sơn (Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay). Từ nhỏ, ông
đã nổi tiếng học giỏi, hơn ba tuổi đã thuộc nhiều ca dao, tục ngữ.
Thấy ông thông minh, nhanh nhẹn, bố Phan Kính cho học chữ khi con 6 tuổi.
Ông nhanh chóng thuộc lòng nhiều sử sách đương thời, lên bảy tuổi đã biết làm
thơ phú.
Năm Nhâm Dần (1722), trong kỳ sát hạch ở xã Lai Thạch, bài văn của Phan Kính được xếp hạng nhất, dù lúc đó ông mới chỉ hơn 7 tuổi. Khi thi vào trường Quốc Tử Giám, Phan Kính tiếp tục là người đỗ đầu.
Biết gia cảnh khăn, Phan Kính dốc sức học hành. Ông lấy giấy đã viết lộn
mặt trái để viết tiếp, nhiều lần phải viết tập trên lá chuối tươi. Ngày lo làm
lụng vất vả, ban đêm, cậu trò nghèo lại mang sách ra đọc dưới ánh trăng.
Vượt qua rất nhiều khó khăn, vất vả trong cuộc sống, năm Quý Hợi (1743),
Phan Kính ra Thăng Long dự thi với suy nghĩ “không thành đạt không trở về”.
Trong kỳ thi này, vượt qua hơn 3.000 sĩ tử, ông thi đỗ thám hoa. Vì khoa
thi này không lấy trạng nguyên và bảng nhãn, ông trở thành người đỗ cao nhất .
Phan Kính đã vượt qua đề thi chế sách gồm 10 mục, 100 câu hỏi do đích
thân vua Lê Hiển Tông ra đề. Quyển thi của Phan Kính được vua dùng bút son ngự
phê: “Cho đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh”.
Sau khi đỗ đạt cao, ông được vua cho về quê vinh quy bái tổ, nghỉ ngơi
ba tháng ba, thu xếp việc nhà. Tháng 6.1744, Phan Kính ra Thăng Long nhậm chức.
Ban đầu, ông được vua sắc phong giữ chức Hàn lâm viện đãi chế, chuyên việc cung
phụng từ lệnh ở bên vua.
Ông từng trải qua nhiều chức vụ quan trọng, để lại những dấu ấn sâu sắc.
Cụ thể, ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như Giám sinh ở Quốc Tử Giám, Đốc đồng
trấn Sơn Tây, Đốc đồng xứ Thanh Hóa, Thư đốc thị Nghệ An, Đốc đồng xứ Tuyên
Quang, Kinh lược sứ, Tham mưu nhung vụ đạo Hưng Hóa…
Vị thám hoa khiến nhà Thanh nể trọng
Trong những năm 1758-1761, với cương vị Đốc đồng xứ Tuyên Quang kiêm
tham mưu nhung vụ đạo Hưng Hóa (gồm các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và một
phần Sơn La ngày nay), phái bộ vua Lê đem quân lên trấn giữ vùng biên giới phía
Bắc, Phan Kính đã nhiều lần thương thuyết với quan chức nhà Thanh, dựng lại cột
mốc biên giới, tiêu diệt thổ phỉ, giữ cuộc sống yên bình cho người dân.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí, trong thời gian từ 1759 đến 1760, Phan
Kính được triều đình cử đi sứ sang kinh đô Yên Kinh của nhà Thanh để ký kết văn
kiện chính thức về biên giới.
Với kiến thức sâu rộng, uyên bác, khéo léo trong ngoại giao, có nhiều
công lao giúp nhà Thanh và Đại Việt phân định và ổn định cương giới, Phan Kính
được vua Càn Long mến phục tài trí. Vua Thanh đã gia phong cho ông danh vị “Lưỡng
quốc đình nguyên thám hoa", tặng chiếc áo cẩm bào và hai bức trướng, ghi
hai dòng chữ: “Thiên triều đặc tứ Bắc Đẩu dĩ Nam nhất nhân nhi dĩ”. Nghĩa là
"Thiên triều đặc cách, phía Nam Bắc Đẩu, chỉ một người thôi".
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-1.html
BÀI 2.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-2.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-3.html
BÀI 4.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai_8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-5.html
BÀI 6.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-6.html
BÀI 7.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-7.html
BÀI 8.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-9.html
BÀI 10.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-10.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
BÀI 12.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-13.html
BÀI 14.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-14.html
BÀI 15.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-15.html
BÀI 16.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-16.html
BÀI 17.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-17.html
BÀI 18.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-18.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-19.html
BÀI 20.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-20.html
BÀI 21.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-21.html
BÀI 22.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-22.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-23.html
BÀI 24.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-24.html
BÀI 25.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-25.html
BÀI 26.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-26.html
BÀI 27.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-27.html
BÀI 28.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-28.html
BÀI 29.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-29.html
BÀI 30.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-30.html
BÀI 31.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-31.html
BÀI 32.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-32.html
BÀI 33.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-33.html
BÀI 34.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-34.html
BÀI 35.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-35.html
PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH. BÀI 28.
PHẦN III . HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN.
PHẦN IV. PHONG THỦY VÀ DANH NHÂN HUYỆN CAN LỘC.
Thời Lê Thái Tổ, Bùi Cẩm Hổ được xem là một trong hai vị khai quốc công
thần và đã được cử làm thái sư dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái
Tông; con gái Bùi Cẩm Hổ cũng được tiến cung trở thành Bùi Quý Phi, vợ của vua
Lê Thái Tông, sinh ra cung vương Lê Khắc Xương.
Sau khi Lê Thái Tổ mất, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính cho vua Lê Thái Tông
lúc đó mới 11 tuổi, cậy quyền làm nhiều điều trái phép, những ai không hợp ý
tìm cách hãm hại. Lê Sát đã cố tiến cử với vua Thái Tông các gian thần như:
Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư.(Những
nhân vật này từ thời Lê Thái Tông đã có công về phe với Lê Sát để vu cáo Phạm
Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn nhưng vua Thái Tổ đã có lệnh cấm những người đó tham
dự triều chính). Lúc đó Bùi Cấm Hổ và Nguyễn Thiên Tích đã thẳng thắn can vua
Thái Tông nên theo lời di huấn của cha. Vua Thái Tông nghe theo, cương quyết giữ
phép tắc của Lê Thái Tổ, không phục chức cho mấy người đó.
Vì vậy Lê Sát ghét Bùi Cấm Hổ. Ông bị đổi ra làm An phủ sứ trấn Lạng
Sơn. Thủ đoạn trù dập của Lê Sát là thế ông vẫn không vì thế lấy đó làm điều.
Khi Lê Sát phạm tội chuyên quyền, nhà vua ra lệnh chém bêu đầu, ông được triệu
về kinh đô làm Ngự sử trung thừa và ông đã can vua không nên áp dụng hình phạt
đó đối với một đại thần từng là phụ chính vốn là khai quốc công thần.
Trong việc chọn cộng sự ông cất nhắc trước hết những người trung trực
kiên quyết dám nói sự thực bảo vệ lẽ phải. Tiêu biểu là việc tâu xin nhà vua đề
bạt Trần Hiển làm Thị Ngự Sử bởi ông nhận thấy thái độ cương trực thẳng thắn của
Trần Hiển đã dám dâng sớ tố cáo Lê Hiệu là viên Tổng quản cậy mình có uy quyền
cho lấp đoạn sông mà thuyền bè thường qua lại thuận tiện để làm của riêng.
Mùa đông năm 1438, Bùi Cầm Hổ được sung chức Phó sứ sang nhà Minh.
Khi nghỉ về quê ông vẫn chăm lo đồng điền như một lão nông, ông đã cùng
dân làng xây một con đập bằng đá chặn dòng khe Vẹt dẫn nước từ núi xuống đủ tưới
hàng trăm mẫu ruộng của làng xưa nay vốn bị hạn hán. Ông đã trở thành một trong
những vị “tổ sư” ở vùng Nghệ Tĩnh về đắp đào kênh dẫn nước tưới ruộng. Khi ông
mất triều đình ghi công và phong Bỉnh quân đại vương, Thượng đẳng phúc thần, đền
thờ ông được xây cất ở Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, ngay bên hữu
ngạn ngọn khe Vẹt trước chân núi Bạch Tỵ trong dãy núi Hồng nhân dân cả vùng
quen gọi là đền Đô Đài: “Tháng Giêng Đô Đài, tháng hai Hương Tích”. Đền thờ hiện
nay đã được Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia.
Bùi Cầm Hổ với toàn bộ sự nghiệp nhân cách đức độ và phong tiết của ông
đã tạo nên tấm gương sáng ngời về đạo lý truyền thống tốt đẹp bằng dấu ấn lịch
sử hết sức sâu đậm để lại hậu thế dài lâu không thể phai mờ.
Sử sách không chép ông mất vào năm nào, sau khi mất, các triều đều phong
phúc thần. Ông được thờ ở Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ hiện
nay đã được Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia.
Theo Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục: Hồi Lê sơ, vì sau khi loạn
lạc, nho sĩ thưa thớt.
Người đem thân chầu chực trong triều như Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ,
phần nhiều bộc lộ chí khí sáng suốt, có những lời nói quả cảm.
Những câu thơ ca tụng:
Cũng hàng quan lại, cũng triều ban
Hổ hét ra oai hồi mẹ đẻ
Cháo lươn giải oán cho người oan
Ngọn cờ phía bắc còn bia tạc
Khe núi phía nam bởi đá hàn
Cũng hàng quan lại, cũng triều ban
Hổ hét ra oai thời mẹ đẻ
Cháo lươn giải oán cho người oan
Ngọn cờ phía bắc còn bia tạc
Khe núi phía nam bởi đá hàn.
Đền Đô Đài hay đền Bùi Ngự Sử.
Đền Đô Đài hay đền Bùi Ngự Sử, thuộc xã Đậu Liêu, huyện Can Lộc tỉnh Hà
Tĩnh. Di tích nằm cách thị trấn Hồng Lĩnh 3km về phía Nam, cách đường quốc lộ
1A về phía Đông 300m, ở chân núi Bạch Tỵ Sơn là một trong 99 ngọn núi của dãy Hồng
Lĩnh.
Di tích Đền Đô Đài gắn liền với một nhân vật lịch sử trung thần Bùi Cầm
Hổ - Đây là nơi ông sinh ra và lớn lên, khi hưu quan 1459 Bùi Cầm Hổ cũng sống
và mất tại nơi này. Bùi Cầm Hổ sinh năm 1380, tên của ông gắn với sự tích người
họ Bùi bắt được hổ. Lúc thiếu thời Bùi Cầm Hổ là cậu bé thông minh tuấn tú, gia
đình và nhân dân trong vùng kỳ vọng sau này Bùi Cầm Hổ sẽ có tên trong bảng
vàng làm thơm danh cho quê hương dòng tộc.
Đền Đô Đài nằm trong khu vực có nhiều di tích nổi tiếng, cách Đậu Liêu
không xa là núi Ngọc Sơn nơi có đền thờ hai ông Trạng mà nhân dân địa phương
còn gọi là Song Trạng Nguyên đó là: Trạng cha: Sử Hy Nhan ông đậu trạng nguyên
khoa Quý mão 1363. Trạng con là Sử Đức Huy đậu trạng nguyên khoa Tân Dậu 1381.
Gần đó còn có nhà thờ Hồ Bình Quốc đậu nhị giáp đồng chế khoa (1577). Ngoài ra
còn có nhà thờ họ Phan, thờ Phan Cảo đậu Hoàng Giáp (1631).
Cho đến ngày nay, đền Đô Đài vẫn giữ được những nét cổ kính, phía trước
là những bậc thềm đá rêu phong phủ kín. Ngoài cùng có hai cột nanh cao 2.5m, tiếp
đó có hai nhà tả hữu chứa hai con voi chầu. Bước hai bậc nữa ta thấy hai cột
nanh sừng sững, mỗi cột cao 4m, trên hai đỉnh cột có hai con nghê chầu. Hai bên
cửa có hai vị tướng cầm gươm hình dáng dữ tợn cao 1.8m. Nhìn bao quát từ ngoài
đền Đô Đài có kiến trúc hình “chữ Tam”, mái lợp ngói vảy, từ đó chúng ta mới thấy
hết dáng vẻ đường bệ uy nghi cổ kính của đền.
Đi dọc theo sân ta bước vào nhà Bái đường, bước tiếp qua một khoảng sân
lát gạch chúng ta vào Trung điện. Nhà có ba gian hai hồi, chiều dài 9,2m cao
3,97m rộng 6,24m . Nhà có 12 cột lim, cột lớn có chu vi 0,89m, cột nhỏ 0,67m.
Trung điện có kiến trúc phức tạp hơn Hạ điện, văng và xà có hoa văn chạm trổ
hình hoa lá, trang trí nội thất gồm có: 2 con hạc, có đao, bát xà mâu, giữa nhà
có hai gương vuông chạm rồng phượng, phía trong có hương án chạm trổ tứ linh kỳ
công và có giá trị nghệ thuật cao. Qua một sân nhỏ lát gạch là vào nhà Thượng
điện – là ngôi nhà gỗ lim 3 gian, 2 đốc, có 8 cột lớn chu vi cột lớn 0,97m, chiều
dài thượng điện 7,29m, rộng 5,94m. Trang trí nội thất ở chính giữa đặt trang trọng
Long Cung, Long Đình, Long Mai thờ bài vị, viết công đức thành tích của Bùi Cầm
Hổ. Tất cả đều sơn son thiếp vàng trông cổ kính đẹp đẽ một cách trang trọng.
Ngoài ra đền còn có 12 sắc phong của các triều đại phong kiến phong cho Bùi Ngự
Sử, các trang phục, áo mũ, đai vòng…là hiện vật quý hiếm để chúng ta có điều kiện
nghiên cứu, tìm hiểu về trang phục quan lại thời xưa.
Hàng năm, đền Đô Đài có hai lần lễ hội lớn. Lễ hội báo ân tổ chức ngày
12/1 âm lịch - lễ hội chính được tổ chức rất trang trọng để ghi nhớ công ơn của
Bùi Cầm Hổ. Lễ hội thứ hai được tổ chức ngày 20/9 âm lịch là ngày mất của ông.
Thông qua các cuộc lễ hội nhằm giáo dục truyền thống đối với đông đảo quần
chúng địa phương. Đó cũng là những hoạt động thiết thực góp phần làm phong phú
thêm di tích đền Đô Đài.
Đền Đô Đài không chỉ là một di tích gắn liền với một danh nhân Bùi Cầm Hổ
nổi tiếng đương thời, mà còn là di tích quan trọng trong tiến trình lịch sử đấu
tranh cách mạng của dân tộc ta kể từ ngày có Đảng. Ngoài ra đền Đô Đài còn mang
kiến trúc nghệ thuật cao. Với ý nghĩa lịch sử và nghệ thuật kiến trúc, năm 1992
đền Đô Đài được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Gia Phả Họ Bùi ghi, năm 1459, khi 70 tuổi, Bùi Cầm Hổ từ quan, về quê
phường Đậu Liêu (thị xã Hồng Lĩnh ngày nay) sinh sống. Vùng đất này thời tiết
khắc nghiệt, nắng thì khô hạn, mưa thì ngập lụt, đời sống nhân dân đói kém do thiếu
nước làm ruộng.
Nhận thấy nước mưa từ núi Hồng Lĩnh thường chảy ra huyện Nghi Xuân rồi đổ
ra biển, Bùi Cầm Hổ chỉ đạo dân làng đắp một bờ đá chắn dòng, xẻ núi đào khe
Nhà Trò để dẫn nước mưa từ trên núi về cánh đồng ở Hồng Lĩnh. Từ đó, nơi đây có
công trình thủy lợi, hàng nghìn mẫu ruộng đầy ắp nước, hoa màu tốt tươi, người
dân khai khẩn thêm đất hoang, đời sống cải thiện vì được mùa liên tiếp.
Bùi Cầm Hổ mất năm 1483, thọ 93 tuổi, được triều đình phong là Thượng đẳng
phúc thần. Đền thờ ông ở dưới chân núi Bạch Tỵ (phường Đậu Liêu) do người dân lập,
từng bị hư hỏng bởi chiến tranh, nay được phục dựng. Năm 1992, đền được công nhận
là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, được cho là chốn tôn nghiêm và linh
thiêng, nơi nhiều người dân đến thắp hương, chiêm bái.
“Hồng -Lam chung tú Bùi tướng công, thiên
cổ vĩ nhân” (Thơ vịnh Đền Đô Đài của tiến sĩ Nguyễn Văn Trình quê Kiệt Thạch - Can Lộc:
3 bài chữ Hán, tác giả tự dịch Nôm theo thể ca trù.)
Ông Bùi
Văn Vượng - Người trông coi Đền thờ giới thiệu cho PV áo, mũ, cân đai ngày xưa
Đô Đài Bùi Cầm Hổ sử dụng.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-1.html
BÀI 2.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-2.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-3.html
BÀI 4.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai_8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-5.html
BÀI 6.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-6.html
BÀI 7.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-7.html
BÀI 8.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-9.html
BÀI 10.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-10.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
BÀI 12.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-13.html
BÀI 14.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-14.html
BÀI 15.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-15.html
BÀI 16.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-16.html
BÀI 17.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-17.html
BÀI 18.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-18.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-19.html
BÀI 20.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-20.html
BÀI 21.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-21.html
BÀI 22.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-22.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-23.html
BÀI 24.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-24.html
BÀI 25.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-25.html
BÀI 26.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-26.html
BÀI 27.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-27.html
BÀI 28.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-28.html
BÀI 29.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-29.html
BÀI 30.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-30.html
BÀI 31.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-31.html
BÀI 32.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-32.html
BÀI 33.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-33.html
BÀI 34.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-34.html
BÀI 35.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-35.html
PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH. BÀI 27.
PHẦN III . HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN.
PHẦN IV. PHONG THỦY VÀ DANH NHÂN HUYỆN CAN LỘC.
Di tích
Mộ và Đền thờ Trần Tịnh (thời Nguyễn thuộc địa danh: thôn Mật Thiết, xã Nguyệt
Ao, tổng Lai Thạch, Huyện La Sơn, phủ Đức Thọ) thờ danh thần thời Hậu Lê - Trần
Tịnh, người có công lao trong công cuộc chống ngoại xâm ổn định đất nước Đại
Việt của những năm của thế kỷ XVII thời Hậu Lê, được phong tước hiệu Văn Lý
Hầu.
Về công trạng và sự
nghiệp của danh nhân Trần Tịnh đã được ghi rõ trong tấm bia - một di vật quý
hiếm còn lưu giữ tại di tích, đặc biệt người soạn văn bia lại là người bạn tri
vong của Ông đó là Quan hộ Bộ Thượng thư Phùng Khắc Khoan, đỗ tiến sỹ khoa thi
năm Canh Thìn (1580) đời vua Lê Thế Tôn, niên hiệu Quang Hưng năm thứ 3.
Nội dung văn bia ghi
rõ: "... Nhân khi thánh chúa giấy nghiệp ở đất Thanh Hoa (dịch chữ Tây
thổ) ông theo giúp nộp chăm lo vương sự trung thành, chăm chỉ chầu chực có
công.
Niên hiệu Cảnh Trị thứ 6 (đời Lê Anh Tôn - 1563)
ông giữ chức Chưởng bạ, tước văn lý tử, ra vào nơi nghiêm cấm, càng thêm cung
kính cẩn thận.
Niên hiệu Quang Hưng thứ 5 (đời Lê Thế Tôn -
1582) (ông được) vinh thăng chức phụng sự, chế tại nội truyền mệnh, tỏ ra hết
đổi trung thành thờ vua.
Niên hiệu Quang Hưng thứ 17 (1584) (ông được) gia
phong đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tham tri; tước văn lý bá; đem thân giúp
nước, tòng quân có công, vâng chầu ở vương phủ, một lòng giữ tiết của kẻ bề
tôi.
Niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (đời Lê Kính Tôn -
1601) xét việc có lòng kiến nghĩa theo vua từ khi còn bôn ba (ông) được vinh
phong làm hiệp mưu tá lý công thần.
Niên hiệu Hoằng Định thứ 5 - 1604) (ông được) gia
phong chức tổng thái giám, chưởng cung nội thừa chế sự, tước văn lý hầu ...".
Văn Lý Hầu Trần
Tịnh là một nhân vật quan trọng trong quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và
Nhật Bản thế kỷ XVII. Năm 1610, Ông được chúa Trịnh cử giữ chức vụ: An Nam quốc
Nghệ An sở Tổng Thái giám Thượng giám sự Văn Lý Hầu. Theo sử liệu của Nhật Bản
thì Văn Lý Hầu Trần Tịnh phụ trách ngoại thương ở xứ Nghệ An có quan hệ giao thương
với Nhật Bản trong khoảng thời gian từ năm 1607 - 1612. 
Văn Lý
Hầu Trần Tịnh là một nhân vật lịch sử quan trọng trong quan hệ ngoại thương
giữa Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XVII.
Khi về già an nghỉ,
ông thường lo nghĩ đến làng xóm quê hương, ông đã cúng cho chùa Gia Hưng và
Chân Phúc 5 mẫu ruộng làm ruộng tam bảo. Trong xã cúng 7 mẫu ruộng cho làng Mật
và làng Cót 7 mẫu, làng Giao Tác 12 mẫu, làng Nguyễn Xá 7 mẫu và làng Chợ Vi 12
mẫu…
Sau khi ông mất, để
tưởng nhớ đến công lao và sự nghiệp giúp dân cứu nước của danh nhân Trần Tịnh,
triều đình thời Lê - Trịnh đã gia phong ông chức Liêm Quận công, tước Văn Lý
hầu, sau này con cháu dòng họ và nhân dân địa phương xây dựng Đền thờ tại quê
nhà, xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Như vậy, Trần Tịnh đã
làm quan qua 3 triều vua, từ vua Lê Anh Tông (1556 - 1573), vua Lê Thế Tông
(1573 - 1599) và vua Lê Kính Tông (1599 - 1619). Ông là một ông quan thanh liêm
chính trực, đức độ, nhân nghĩa, giàu lòng nhân ái vị tha và thông minh giàu
dũng khí được nhân dân yêu mến, kính trọng, quân sỹ cảm phục, bạn bè nể trọng,
vua tôi tin tưởng yêu mến.
Di tích Mộ và đền thờ
Trần Tịnh là một di tích lịch sử - văn hoá có giá trị, nơi thờ tự tưởng niệm
danh nhân Trần Tịnh - người có công phò vua trị nước trong thời kỳ vua Lê chúa
Trịnh của những năm thế kỷ XVI, XVII. Di tích toạ lạc trên một khuôn viên rộng,
thoáng, cây xanh bao quanh và được bao bọc bởi khu dân cư đông đúc trù phú, có
diện tích 2.880 m2. Nhìn tổng thể di tích nhà thờ được xây dựng theo hướng Tây,
kiểu chữ Nhị, bao gồm các bộ phận kiến trúc chính: tam quan, tắc môn, tường bao
và sân nhà bái đường, bái đường (hạ điện), thượng điện, nhà bia và Mộ.
Năm
1610, ông được chúa Trịnh cử giữ chức vụ: An Nam quốc Nghệ An sở Tổng Thái giám
Thượng giám sự Văn Lý Hầu.
Mộ và Đền thờ cùng với
các tư liệu hiện vật gốc có giá trị lịch sử được lưu giữ tại di tích qua bao
thế hệ như: văn bia, sắc phong, long phi, câu đối, bài vị, thần vị, gia phổ...
bằng chữ Hán cổ thời Lê Nguyễn, là những nguồn tư liệu lịch sử quý giá giúp
chúng ta nghiên cứu, đánh giá khoa học về thân thế, sự nghiệp công trạng của
ông đối với quê hương, đất nước về bối cảnh lịch sử của một thời kỳ đầy biến
động của xã hội phong kiến Việt Nam thời Lê - Trịnh (thế kỷ XVI - XVII).
Với giá trị tiêu biểu
trên, Mộ và Đền thờ Trần Tịnh, xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử
quốc gia theo Quyết định số 3083/QĐ-BVHTTDL ngày 27/10/2020./.
Khánh Chi. (Theo hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)
Di tích Mộ và Đền thờ Trần Tịnh thuộc địa phận thôn
Lũy, xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Với công lao to lớn đó, các
triều đại phong kiến kế tiếp sau từ thời Lê đến thời Nguyễn đã phong ông vào
hàng ngũ những công thần tiết nghĩa, ghi danh công trạng và địa vị của ông đối
với quê hương, đất nước.
Hiện
nay, tại di tích còn lưu giữ nhiều tư liệu hiện vật cổ quý hiếm thời Hậu Lê
như: văn bia, sắc phong, gia phả… liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cứu nước
của ông đối với quê hương đất nước.
Tấm
văn bia thời Lê cổ quý hiếm, có niên đại năm Hoằng Định thứ 17.
Tưởng nhớ đến công lao của ông, ngày 27/10/2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch đã có Quyết định số 3083/QĐ-BVHTTDL xếp hạng Mộ và Đền thờ Trần Tịnh,
xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp
quốc gia.
Sắc phong được lưu giữ tại
Đền thờ Trần Tịnh.
Các nhà khảo cổ Nhật Bản khảo sát vườn cũ của Văn Lý hầu Trần Tịnh
ở Hà Tĩnh
Trần Tịnh, người thôn Mật, xã Nguyệt
Áo, huyện La Sơn (nay là thôn Luỹ, xã Kim Lộc), làm quan dưới 3 triều vua Anh
Tông, Thế Tông, Kính Tông thời Lê Trung Hưng. Năm 1563, ông nhậm chức Chưởng bạ
trước Văn lý tử.
Trải qua nhiều lần được thăng chức,
chức vụ lớn nhất mà ông đảm nhiệm là Tổng Thái giám chưởng cung môn thừa chế tước
Văn Lý hầu (được thăng năm 1605), phụ trách ngoại thương với người nước ngoài
trong đó có Nhật Bản.
Nhiều sử sách cho rằng, ông là người có công lớn trong hoạt động ngoại
thương cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Đây cũng là thời kỳ hoạt động ngoại
thương giữa các nước phương Tây và phương Đông tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á
phát triển mạnh.
Các nhà khoa học đã mở một hố khai quật rộng 4m2 tại vườn nhà cũ của Văn Lý hầu Trần Tịnh (thôn Lũy, xã Kim Lộc) nhằm tìm hiểu địa tầng, tầng văn hóa và các di vật, trong đó có vai trò quan trọng của gốm sứ.
Mặc dù, tại hố khai quật không tập trung nhiều mảnh vỡ vật liệu kiến
trúc và gốm sành như các khu vực thương cảng nhưng những di vật gốm sứ có niên
đại kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII của Việt Nam và Trung Quốc khai quật
được cho thấy mức độ tập trung dân cư đáng kể trong làng.
Những di vật này cũng cho thấy sự gắn kết giữa nhân vật Trần Tịnh đối với
nhân dân khu vực này. Trong đó, nhiều di vật cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII
cho thấy, rất có thể Trần Tịnh còn có vai trò to lớn trong sự hình thành nên
ngôi làng này.
Cùng với nhiều tài liệu khoa học lịch sử liên quan, kết quả khai quật lần
này cũng là tiền đề để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, chứng minh một thời
kỳ hoạt động ngoại thương nhộn nhịp trên sông Lam, đồng thời góp phần khẳng định
vai trò của Tổng Thái giám Văn Lý hầu Trần Tịnh đối với quan hệ bang giao giữa
Việt Nam và Nhật Bản trong lịch sử.
Gần đây, PGS.TS Hasuda Takashi - Nghiên cứu viên Hội Chấn hưng Nhật Bản, Đại học Osaka đã tặng phiên bản bức thư cổ bằng chữ Hán thế kỷ XVII cho Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh do Văn Lý hầu Trần Tịnh (quê ở xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) chấp bút.
Bức thư đã ghi lại sự kiện một tàu buôn Nhật Bản đến Nghệ An buôn bán ở
khu vực sông Lam, chất đầy người và hàng khi đi qua cửa biển Đan Nhai (Hội Thống)
về Nhật Bản thì bị đắm vào tháng 6 năm 1610. Sóng to gió lớn đã làm 6 người
trên tàu bị chết, cứu được 105 người, trong số đó Trần Tịnh cưu mang 29 người.
Một người phụ nữ Nhật Bản được cứu vớt, ông nhận làm con nuôi và mang họ Trần của
ông. Sau đó, ông gả cho một người trong dòng họ Nguyễn Huy – Trường Lưu là Hình
bộ Lang trung Nguyễn Như Thạch (1579 -1662).
Sau khi cứu được 105 người Nhật Bản, Trần Tịnh trình sự việc lên chúa Trịnh
và được chúa Trịnh cho đóng thuyền đưa họ đi về Nhật Bản.
Bức thư được gửi tới Quốc vương Nhật Bản, dịch ra tiếng Việt như sau:
“Hiệp mưu tán lý công thần, Đặc tiến
kim tử vinh lộc đại phu, Tổng thái giám, Chưởng (thượng) cung môn thừa chế sự
Văn Lý hầu nước An Nam chuyển thư đến ngài Thị trưởng thương nhân Nhật Bản là
Bích Sơn bá. Khi về bản quốc được biết ngày nọ tháng 6 năm trước, việc buôn bán
trao đổi tiền tệ với An Nam đã xong xuôi. Nay về đến cửa Đan Nhai ở ngoài biển
thì bỗng nhiên bị sóng nổi lên đánh cho tan tác, khiến 105 người ở bản xứ phải sống
trôi nổi.
Ngài đô đường quan, Quận công, Chưởng giám
Văn Lý hầu và Phò mã Quảng thường hầu có ý làm việc công đức, thương xót thương
nhân ở viễn quốc, thương tình họ đói khát nên đã lấy gia sản cấp dưỡng nuôi sống
toàn bộ số người trên tàu. Rồi lại cho điều họ đến kinh để bái kiến chúa thượng.
Chúa thượng rộng đức có lòng từ tâm nên ban sắc chỉ lệnh cho bọn họ được trở về
bản quốc, ý đó thật là may mắn vậy. Nay các quan đô đường cùng chấp thuận cho
làm thuyền lớn một chiếc rồi lại ban cho chức tước trở về bản quốc để bày tỏ
cái nghĩa tình được hưởng tiếng thơm để cho toàn vẹn cái ân đức. Vì vậy, nay
chuyển thư đến.
Hoằng Định, năm thứ 11 tháng 2 ngày 25 (tức
ngày 25 tháng 2 năm 1611 đời vua Lê Kính Tông)”.
Qua bức thư cổ cũng cho ta biết, Văn Lý hầu Trần Tịnh là một hoạn quan làm đến chức Tổng thái giám phụ trách ngoại thương với người nước ngoài trong đó có Nhật Bản.
Bức thư cũng đã khẳng định và cho thấy tình thương người rộng lớn của
các vị quan lại trong đó có Trần Tịnh và chúa Trịnh đầu thế kỷ XVII đã thúc đẩy
họ không quản khó khăn, ngần ngại ra tay giúp đỡ những người gặp nạn, bất kể đó
là người quốc gia nào. Từ đó, làm tăng uy tín quốc gia, tạo ra sức lan tỏa rộng
lớn đến các nước làm ăn buôn bán với Việt Nam. (Baohatinh.vn)
Xin theo dõi tiếp BÀI 28. Thân ái,dienbatn.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-1.html
BÀI 2.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-2.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-3.html
BÀI 4.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai_8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-5.html
BÀI 6.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-6.html
BÀI 7.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-7.html
BÀI 8.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-8.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-9.html
BÀI 10.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-10.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
BÀI 12.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-13.html
BÀI 14.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-14.html
BÀI 15.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-15.html
BÀI 16.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-16.html
BÀI 17.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-17.html
BÀI 18.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-18.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-19.html
BÀI 20.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-20.html
BÀI 21.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-21.html
BÀI 22.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-22.html
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-23.html
BÀI 24.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-24.html
BÀI 25.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-25.html
BÀI 26.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-26.html
BÀI 27.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-27.html
BÀI 28.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-28.html
BÀI 29.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-29.html
BÀI 30.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-30.html
BÀI 31.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-31.html
BÀI 32.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-32.html
BÀI 33.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-33.html
BÀI 34.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-34.html
BÀI 35.
https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-35.html