PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH. BÀI 30.

9/27/2021 |

PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH. BÀI 30. 


Mở đầu : Sau hơn 20 năm điền dã, lăn lộn khắp nơi trong đất Hà Tĩnh( chút xíu nữa làm rể Đức Thọ), dienbatn đã tạm gọi là hiểu biết một chút về một vùng Địa Linh – Nhân Kiệt này.Cái hiểu biết tuy còn thô lậu, song kết hợp với những tư liệu sưu tầm được qua thực tế và qua đọc sách , dienbatn muốn viết lại một chút làm tư liệu , ngõ hầu như muốn có chút nào đó  đền ơn những người dân thật thà, chất phác và rất tình cảm ở đây đã giúp đỡ dienbatn trong những lần điền dã. Cũng một lần nhận lỗi với một số vị quan chức mà dienbatn đã có dịp phục vụ là dienbatn đã sử dụng tiền các vị đưa cho , sử dụng cho những người nghèo khổ thì nhiều mà thực ra sử dụng cho các vị đó thì ít. May mà những vị đó ngày nay đều thành công ,thành danh. Vậy thì mọi chuyện coi như xí xóa nhé.Chỉ mong những người con Hà Tĩnh khi thành công ,thành danh thì luôn đoàn kết thương yêu nhau , quan tâm giúp đỡ những người dân quê hương mình và làm được nhiều việc tốt cho đất Mẹ Việt Nam. Xin cảm ơn nhiều lắm thay. Dienbatn.


PHẦN I. PHÁC HỌA CHÂN DUNG MỘT VÙNG ĐẤT.

PHẦN II. LONG MẠCH CỦA HÀ TĨNH.

PHẦN III . HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN.

PHẦN IV. PHONG THỦY VÀ DANH NHÂN HUYỆN CAN LỘC.

PHẦN V. PHONG THỦY VÀ DANH NHÂN HUYỆN THẠCH HÀ.

PHẦN VI. MỘT SỐ DI TÍCH DANH NHÂN KHÁC
I. MỘ VÀ ĐỀN THỜ TRẦN TỊNH .
II. MỘ VÀ ĐỀN THỜ BÙI CẦM HỔ.
III. MỘ VÀ ĐỀN THỜ PHAN KÍNH.
IV. ĐẶNG TỘC THIÊN LỘC.

Dòng họ Đặng ở Nghi Xuân có nguồn gốc từ Thiên Lộc - Can Lộc nhưng vốn phát tích từ xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên, Hà Tây. Tiên tổ của dòng họ đến Nghi Xuân ẩn cư từ khoảng cuối năm 1413 đầu năm 1414. Trải qua lịch sử khoảng 592 năm với 23 đời, đến nay con cháu của dòng họ Đặng đã có mặt ở hầu hết các Xã và Thị trấn trong Huyện, đông nhất là ở Thị trấn Nghi Xuân, Thị trấn Xuân An, Tiên Điền, Xuân Giang, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hội, Xuân Hoa, Xuân Viên, Xuân Hồng, Xuân Lam Ngoài ra, hậu duệ của dòng họ còn sinh sống ở các Huyện khác trong tỉnh Hà Tĩnh như Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Hồng Lĩnh, Đức Thọ hay các tinh khác như Nghệ An , Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Huế, Bình Định . Dòng họ Đặng ở Nghi Xuân đã cống hiến cho quê hơng những ngời con anh kiệt, góp nhiều công nghiệp trong an dân giữ nước, góp phần phát triển kinh tế văn hóa xứ Hồng Lam.

I/Đặng Tộc Đại Tông Phả.

Đặng Tộc Đại Tông Phả” do Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập, Tiến sĩ Quốc lão Đặng Đình Tướng tục biên, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tục biên, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam Nguyễn Văn Thành biên khảo và giới thiệu.

Đền thờ Hàn Lâm Viện Hiệu Thảo Đặng Chủng (1376 - ?), con trai thứ hai của Quốc Công Đặng Tất, em ruột của Tể Tướng Đặng Dung. Đền thờ đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.

PHẢ CHI TRƯỞNG HỌ ĐẶNG

BÀI TỰA

QUYỂN PHẢ CHI TRƯỞNG HỌ ĐẶNG

Vì sao phải lập phả? (Vì rằng) mọi vật sinh thành đều có gốc ở trời, con người sinh ra có một cội nguồn từ tổ tiên. Các đời tổ tiên xa dần, xa dần thì con người dễ quên. Cổ lễ đặt ra tôn tổ, kính tông là để (con cháu) nhớ họ hàng vậy. Các đời truyền xa dần, sự tích mờ nhạt (vậy) ai biết được công đức của tổ tông? Mỗi nhà lẽ nào lại không có phả riêng để ghi lại sao?

Tôi sợ cuốn phả cũ của gia tiên không được tu bổ thì nề nếp tốt đẹp của tổ tông không được kế thừa thì nào ai biết được cội nguồn của gốc nhân nền nghĩa? Điều đáng sợ chính là sự phóng đãng, lãng quên không biết noi theo đức hạnh của tổ tiên. Ta không muốn tiêng tăm của gia đình như ngọc lành mang vết, cho nên trình bày khái lược công đức to lớn của các cụ thủy tổ tiếp đến công nghiệp của liệt tổ là để làm gương cho con cháu muôn đời. Bèn ghi đầy đủ vào phả này.

Tống trấn trọng thần của triều Lê, phong Yên Quận công Quản đốc bốn vệ quân Thần Võ Phong Nam quân Đô đốc Đặng Đình Thự kính cẩn làm bài tựa.

BÀI TỰA

PHẢ CHI TRƯỞNG HỌ ĐẶNG

Đặng tộc đại tông phả là phả chi trưởng họ Đặng vậy. Họ ta vốn là người huyện Thiên Lộc lưu lạc ở ấp ta đến nay đã sáu, bảy đời. Xưa kia đã có gia phả ghi chép từ cụ Tị tổ là Cao Nghĩa Thần triều Trần do (Đặng) Đình Thự biên tập. Trên từ cụ Cao Nghĩa Thần, dưới đến hiển khảo, nguồn gốc từ đâu đến, sinh ra từ chi nhánh nào, phần mộ, ngày giỗ phần nhiều ghi thiếu hoặc vì khi nhà Trần mất nước, do nạn binh Minh, giặc Mạc mà mất, hoặc ghi chép thiếu sót.

Chi trưởng ta từ cụ Đình Nghi đến cụ Đình Huấn từ trước đến nay mới sáu, bảy đời, tuy nghèo nhưng khoa hoạn theo nhau kết nối. Đời trước gây dựng, đời sau kế thừa còn có chỗ tham khảo, hiệu đính. Tổ tông tích đức hàng trăm năm nay mới nảy nở.

Bắt đầu từ cụ Đình Huấn lập riêng Ngành đại tông thế thứ trước sau, niên đại xa gần, phần mộ, ngày giỗ thường ngày phả cũ đã ghi chép lại thì đã rõ. Những điều phả cũ còn chưa ghi chép thì phụ thêm vào, tất cả đều kính cẩn biên chép. Ngỏ hầu con cháu hàng ngàn năm sau còn ngợi ca công lao vất vả cũng như khí tiết giản dị, cương nghị của tổ tiên. Những vị thành đạt có thể chiêm ngưỡng mà noi theo; Những người hư hỏng cũng biết mà lấy làm răn, vậy nhân đây bày tỏ lời nói này.

Cháu Đặng Đình Tướng, tiến sĩ triều Lê, vâng mệnh sang sứ phương Bắc, Lại Bộ Thượng thư Tả Tị lang phong Nam tước, đổi làm Tả Đô đốc ra trấn Tây Nam, thăng Tá Lý Công Thần Tiền Hòa doanh Thái phó làm bài tựa.

PHẢ HỆ HỌ ĐẶNG

Nam quân Đô đốc, Tống trấn trọng thần Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập.

Lại Bộ Thượng thư, đi sứ Phương Bắc, Tá Lý Thái phó Đặng Đình Tướng tục biên.

Kính xét: Trên từ cụ Tị tổ Cao Nghĩa Thần xuống đến tiên tổ là cụ Đình Huấn thế thứ rõ ràng cho nên tất cả đều ghi theo phả cũ.

Duy từ cụ Đình Nghi thì bắt đầu phân chi và là tổ của chi họ ta.

Cho nên cụ tổ đầu tiên của chi ta tính cụ Đình Nghi là đời thứ nhất và trở thành một chi trưởng riêng.

Mùa thu năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683).

Đặng Đình Thự biên tập.

Ngày tốt mùa xuân năm Bính Dần niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686) Đặng Đình Tướng tục biên.

ĐỜI THỨ 1

Tị tổ Đặng Tảo sinh năm Giáp Dần ngày 10 tháng 5 thời vua Lý Cao Tông niên hiệu Trịnh Phù thứ 20. Ông đỗ Thái học sinh, làm quan tới Thừa hiến, Thăng Phó Đô đốc Nhập thị nội các Tu soạn Kinh Diên kiêm Đông các Đại học sĩ cáo thụ Vân ý Vinh lộc đại phu phong tặng Cao Nghĩa Thần. Ngày giỗ không truyền lại. Mộ táng tại Quận Sơn.

Tỷ tổ (cụ bà) họ Cù, hàng thứ 3, hiệu Từ Huệ sinh năm Giáp Dần (1194, niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 9) thời Lý Cao Tông, niên hiệu Trịnh Phù thứ 20, được phong tặng Chính phẩm phu nhân. Phần mộ và ngày kị không ghi được.

Tị Tổ Đặng Diễn húy Sinh là em cụ Đặng Tảo, sinh năm Tân Mùi (1211) thời vua Lý Huệ Tông, hiệu Kiến Gia. Đến khoa Nhâm Thìn (1232) triều Trần ông thi đậu Thái học sinh, làm quan tới Thừa hiến thăng Lại Bộ Tả Thị lang cáo thụ Gia nghị Đại phu.

Ngày kị và mộ không thấy truyền.

Tị tổ Đặng Ma La là em Đặng Diễn. Ông sinh năm Giáp Ngọ thời Trần Thái Tông niên hiệu Kiến Trung năm thứ 10. Ông đậu Thám hoa khoa Đinh Mùi (1247) lúc 13 tuổi. Ông làm quan tới Nhập thị nội các Tu soạn Kinh Diên thăng Thị giảng Vũ hiển Đại học sĩ cáo thụ Vinh lộc Đại phu. Sau khi làm quan, ông về lập doanh ấp ở xã Chúc Sơn, huyện Chúc Đức, trấn SơnNam. Họ Đặng phát tích ở Chúc Sơn.

ĐỜI THỨ 2

Tiên tổ họ Đặng húy Hữu Điểm là con trưởng của Đặng Ma La. Ông làm quan Đại phu triều Trần. Ông phụng mệnh vua đi sứ Nguyên trước để nạp cống lễ, sau để do thám. Trong kháng chiến chống Nguyên Mông, ông bày mưu giúp việc nước, hết lòng vì việc dân cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Tiên tổ tỉ (bà) họ Nguyễn, hiệu Thiện Tâm sinh 2 con Đặng Nhữ LâmĐặng Tảo.

ĐỜI THỨ 3

Tiên tổ họ Đặng húy Nhữ Lâm là con trưởng của ông Đặng Hữu Điểm. Ông sinh năm Tân Tỵ đời vua Trần Nhân Tông (1281) niên hiệu Thiệu Bảo (1279- 1282), làm quan đến Đại phu, vâng mệnh đi sứ Bắc nộp cống lễ, sau lập mưu vào thành Uyển Cung lấy sách cấm (sách dạy làm lịch). Việc không thành, sau hai năm ông trở về nước. Ông tham gia chống Nguyên Mông có công lớn. Ông mất năm Ất Sửu niên hiệu Thiệu Phong đời Trần Dụ Tông.

ĐỜI THỨ 4

Tiên tổ họ Đặng húy Lộ là con trưởng ông Đặng Nhữ Lâm, triều Trần ông giữ chức Lệnh ở Thái sử cục, kiêm soạn Hiệp lịch đã được nhà vua chuẩn y. Ông đước sắc phong Mậu Lâm Lang. Khi ông 60 tuổi, xây dựng từ đường họ Đặng tại trang Lương Xá. Từ Đường có câu đối:

Thập bát quận công tam tể tướng

Bách dư tiens sĩ, cửu công hầu”.

Nghĩa là:

“Mười tám quận công, ba tể tướng

Hơn trăm tiến sĩ, chín công hầu”.

Mộ ông táng tại xứ Cửa Chùa xã Trúc Sơn.

Tiên tổ tỉ (bà) họ Cù hàng thứ 2, hiệu Từ Đức, được phong tặng Tòng lục phẩm An Nhân.

Tiên tổ họ Đặng húy Du là con ông Đặng Lộ, ông được nhận sắc phong làm Hiệu Lực, Tả Hiệu úy.

Tiên tổ họ Đặng húy Long là em ông Đăng Du, được sắc phong hiệu lực Hữu Hiệu úy.

ĐỜI THỨ 5

Tiên tổ họ Đặng húy Bá Kiển là con trai ông Đặng Lộ. Ông vốn ở tại Chương Đức sau vào Nam Hồng Lĩnh thuộc thôn Đông Rạng, xã Tả Thiên Lộc, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, phủ Đức Quang, lộ Nghệ An.

Thật là: 

Hồng lĩnh triệu cơ

Lam giang khải vũ”.

  Nghĩa là:

Dựng nền đất Hồng Lĩnh

Xây đê tại Lam Giang”.

Vì ông là người có địa vị, con cháu làm quan to được phong đến Thái Bảo ở đất Hồng Lĩnh địa linh nhân kiệt, tám chín đời quyền cao chức trọng nên họ Đặng phát tích từ đó.

Hồng Lĩnh Lam Giang tân địa quyết

Sơn Vi Chương Đức cựu môn phong”.

Nghĩa là:

Đỉnh Hồng, sông Lam vùng đất mới

Sơn Vị, Chương Đúc nếp nhà xưa”.

Ông mất ngày 10 tháng Giêng, mộ táng tại xứ Thung Sơn.

Tị tổ (bà) họ Nguyễn, hiệu Từ Thiện.

Bà sinh Đặng Bá Tĩnh, Đặng Ái, Đặng Khang.

ĐỜI THỨ 6

Tiên tổ họ Đặng, húy Bá Tĩnh là con trưởng ông Đặng Bá Kiển. Ông được trời cho thông minh, cao kiến, cầm bút thành văn, xuất khẩu thành thơ. Triều Trần tuyển nhân tài, ông đến kinh đô dự tuyển. Ông làm văn như kình nghê trương vây, như phượng hoàng tung cánh, bút phê “văn bài rất tuyệt, chữ viết như rồng bay, như hổ chạy, lời văn như đại bàng bay chín tầng mâ ”. Ông đỗ Thám hoa. Nhân dân thời đó tặng ông bảy chữ:

Diễn cảnh sự nghiệp kiến tùng thi

Nghĩa là:

Sự nghiệp canh tác sánh thơ tùng

Ông làm quan đến Hành khiển chuyển vận sứ thăng Thượng thư Bộ Lại, tặng phong Tuấn sĩ Hầu. Mộ táng tại xứ Quát Hương.

Phu nhân là Trần Thị Ngọc Diệp.

Tiên tổ họ Đặng húy Ái  là em ông Đặng Bá Tĩnh sinh ông Đặng Chí.

Tiên tổ họ Đặng húy Khang, ông là em ông Đặng Ái, ông sinh ra Đặng Diệu, Đặng Cung.

ĐỜI THỨ 7.

Tiên tổ họ Đặng húy Đình Dực là con trưởng ông Đặng Bá Tĩnh. Ông là nho sinh trường Quốc Tử Giám, là bậc tài hoa ở đất Thăng Long. Ông làm quan Tri châu châu Quỳ Hợp, lộ Nghệ An.

Tiên tổ tỉ (bà) là Chính thất phu nhân hiệu Từ Huệ, sinh ra Đặng Tất, Đặng Đức và Đặng Quý.

Tiên tổ họ Đặng húy Lâm là con thứ ông Đặng Bá Tĩnh.

Tiên tổ họ Đặng húy Kỳ là em ông Đặng Lâm.

Tiên tổ họ Đặng húy Phi em ông Đặng Kỳ.

Tiên tổ họ Đặng húy Chí là con ông Đặng Ái.

Ông Đặng Chí thi đậu Hương cống làm quan tới Tham chín xứ Quảng Yên.

Tiên tổ họ Đặng húy Diệu là con cả ông Đng Khang. Ông thi đậu Hương cống làm quan tới Tham chính xứ Hải Dương.

Tiên tổ họ Đặng húy Cung là em ông Đặng Diệu.

ĐỜI THỨ 8.

Tiên tổ họ Đặng húy Tất là con trưởng ông Đặng Đình Dực. Ông sinh ở thời Trần, lúc nhỏ thông minh, trí tuệ, thi Hương trúng Cống sinh, thi hội trúng Tam trường, thi Đình trúng Thám hoa. Ông tài kiêm văn võ, chiến thuật chiến lược tinh thông, làm quân đến Tri châu Thăng Hoa, thăng Đại Tri châu Hóa Châu. Tháng 5 năm Đinh Hơi (1407) vua Giản Định khởi binh tại Thiên Trường. Đặng Tất đem 10 vạn binh là quân bản bộ cộng với binh mới mộ theo Giản Định Đế. Giản Định phong ông là Quốc công. Con gái ông Đặng TấtĐặng Thúy Hạnh vào làm Hậu phi Giản Định Đế. Đặng Tất đại thắng quân Minh ở Bô Cô. Đặng Tất chỉ huy quân sỹ đánh quân Minh diệt hơn 4 vạn tên cùng các tướng lĩnh. Mộc Thạnh trốn chạy vào thành Cổ Lộng, nhà Trần có cơ xây dựng lại được nhưng sau vì những bọn Nguyễn Quỹ, Nguyễn Mộng Trang xúi giục nhà vua giết ông vào tháng 2 năm Kỷ Sửu (1409) niên hiệu Trùng Quang thứ 1.

Vua Lê Thái Tổ tặng bốn chữ đại tự : “Tiết liệt cương trung ”, truy phong Đại Quốc công, Kiệt tiết tuyên lực, Dực vận tán trị công thần, phong Thượng đẳng phúc thần.

Tổ tỉ ( bà) Chính thất phu nhân là Phạm Thị Kim Chi sinh 4 nam 1 nữ và 2 con nuôi.

Đặng Dung cư tại (Thiên Lộc), Đặng Chủng (cư ở tại Tiên Điền, huyện Nghi Xuân), Đặng Liên (cư tại Hoa Lư, Ninh Bình), Đặng Thát (cư ở Hương Sơn, Nam Đường).

Đặng Thúy Hạnh.

Con nuôi: Đặng A Thiết, Đặng A Noãn

Tiên tổ họ Đặng húy Đức là em ông Đặng Tất là tướng hầu cận vua Giản Định Đế, con cháu ở cùng nhau tại Hóa Châu, Thăng Hoa.

Tiên tổ họ Đặng húy Quý là em ông Đặng Đức. Ông quyền trấn trị Hóa Châu. Con cháu về sau tụ tập tại Tân Bình (Quảng Bình), Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên).

CHI GIÁP NGÀNH TRƯỞNG.

ĐỜI THỨ 9.

Tiên tổ họ Đặng húy Dung là con trưởng của ông Đặng Tất. Ông sinh năm Quý Sửu (1373) niên hiệu Long Khánh thời trần Duệ Tông (1373-1376), ông là người văn võ toàn tài, thao lược tinh thông. Giận vì cha chết oan, ông cùng Cảnh Dị và các em Đặng Chủng, Đặng Liên, Đặng Thát lập vua Trùng Quang tiến đánh quân Minh. Vua Trùng Quang phong ông làm Bình chương Quốc sự, ông đánh nhau với quân Minh hơn trăm trận. Quân Minh thua to ở Bình Than, Hàm Tử, Chí Linh, Chi La. Sau trận Sài Gia, bị quân Minh truy bức, ông cùng vua Trùng Quang bị bắt. Giặc Minh dùng thuyền biển giải ông về Yên Kinh. Ông đâm đầu xuồng nước tuẫn tiết, đó là vào tháng chạp.

Ông được vua ban sắc phong là Đôn Túc Văn Lâm Lang - Trung nghĩa thần, truy phong Cao Sơn Hầu.

Sinh thời ông có bài thơ “Cảm hoài”:

Thế sự du du nãi lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vẵn thiên hà

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma” .

Dich thơ:

Việc đời man mác tuổi già thôi

Đất rộng trời cao chén ngầm ngùi

Gặp gỡ thời cơ may những kẻ

Tan tành thế sự luống cây ai

Phò vua bụng những mong xoay đất

Gột giáp sông kia khó vạch trời

Đầu bạc giang sơn thù chưa trả

Long tuyền mấy độ bóng trăng soi

Vua Lê Thái Tổ tặng 4 chữ đại tự “Trung thần hiếu tử ” ở nhà thờ có đối liễn:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

Anh hùng vô nhị, nhị anh hùng

Nghĩa là:

Quốc sĩ không (có) hai, nhà (có) hai quốc sĩ

Anh hùng chỉ ( có ) một, nhà (có) hai anh hùng

Tỷ tổ (bà) phu nhân Lê Thị Ngọc Hoa, sinh 4 nam, chia làm 4 chi, mỗi chi một phương .

Con cả: Đặng Nghi - Phúc Thắng hầu.

Con thứ: Đặng Địch Qủa - Tham chính.

Con thứ: Đặng Di - Hoàng giáp.

Con thứ: Đặng Công Thiếp -Tiến sĩ.

ĐỜI THỨ 10.

Tiên tổ họ Đặng húy Nghi là con trưởng ông Đặng Dung. Ông sinh 20 tháng 10 năm Tân Mùi (1391) đời Trần Thuận Tông niên hiệu Quang Khải (theo sử là Quang Thái ) năm thứ 2 (1389).

Ông sinh ra gặp thời loạn lạc, gia đình ly tán, hiển tổ là Đặng Tất chết oan. Ông thắp đèn 7 tuần (báo hiếu), được đội ơn ban chức Thị dưỡng  dưỡng được truy phong Phúc Thắng hầu, hưởng thượng thọ, giỗ mồng 2 tháng 3. Mộ táng xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức tại nơi có tên là núi Hỏa Tinh, tục gọi là núi Nấm Chiêng, hình thế của ngọn núi là nhô lên, uốn lượn quanh co. Bên phải nhìn xuống là sông Ninh, như ôm lấy, xưa nay người lên chiêm ngưỡng đều coi là nơi danh thắng. Tương truyền mộ tổ họ Đặng phát tích từ vùng đất địa linh nhân kiệt này. Về lý quả là như vậy.

Ngạn ngữ có câu khắc tại bia:

Bao giờ núi Chúc hết cây

Sông Ninh hết nước, họ này hết quan .

Tức là đất này vậy.

Bà Chính thất họ Nguyễn hiệu Từ Hậu được phong Tòng lục phẩm An nhân, sinh con trai Đăng Khoan, giỗ 3 thang 6, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Bà thứ thất họ Nguyễn hiệu Từ Tâm được phong Thất phẩm An nhân, sinh Đặng Lâm, giỗ 23 tháng 8, mộ táng xứ Cửa Chùa chùa xã Chúc Sơn.

 ĐỜI THỨ 11

Tiên tổ họ Đặng húy Khoan là con trưởng ông Đặng Nghi sinh năm Kỷ Sửu (1409 ) niên hiệu Trùng Quang. Năm đầu thời đó, đất nước loạn lạc, quân Minh tàn phá, nhân dân đói rét, gia đình bị tiêu hủy, cha mẹ ly tán. Ông giỗ ngày 15 tháng 8 mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn, được truy phong Thiện Khánh hầu.

Tổ bà họ Nguyễn hiệu Từ Liêm được phong tặng lục phẩm An nhân, giỗ ngày 6 tháng 10 mộ táng Cửa Chùa.

Tiên tổ họ Đặng húy Lâm là em ông Đặng Khoan, sinh ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1412 ) niên hiệu Trùng Quang năm thứ 4. Ông giỗ ngày 7 tháng 11 mộ táng xã Mỹ Lương, huyện Từ Thủy được truy phong Cao Sơn hầu.

Bà Chính thất họ Nguyễn hiệu Trang Tính, giỗ ngày mồng 7 tháng 3, mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

ĐỜI THỨ 12.

Tiên tổ họ Đặng húy Tuyên  sinh ngày 20 tháng10 năm Đinh Mùi. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng chăm học, thi đậu Hương cống, làm quan Tá lang Cẩn sự, được tăng Lương Mỹ hầu, giỗ ngày 26 tháng 6, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tổ bà là Nguyễn Thị Hạnh hiệu Lưu Ngọc, phong tăng Lục phẩm An nhân, giỗ ngày 4 tháng 8 mộ hợp táng với ông Đặng Tuyên.

Tiên tổ họ Đặng húy Lội, lúc còn nhỏ tên là An, sinh năm Canh Tuất (1430) đời Lê Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên thứ 3. Ông tính khoan hòa, cần mẫn, được phong Thắng Phúc hầu, thọ 68 tuổi, giỗ ngày mồng 6 tháng 4, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tổ bà hiệu là Từ Nhân, thọ 70 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 10, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Minh sinh năm Canh Tuất (đáng lẽ ra là Canh Tý) đời Lê Thái Tổ niên hiệu Tuận Thiên năm thứ 3 (1430) được tặng Lương Thiệu hầu.

Tiên tổ họ Đặng húy Hoàn sinh năm Nhâm Tý. Ông thông minh nhân hậu, được phong tặng Đô đốc Khánh Hoàn hầu.

ĐỜI THỨ 13.

Tiên tổ họ Đặng húy Túc sinh ngày 20 tháng 8 năm Ất Mão, niên Thái Hòa đời vua Lê Nhân Tông (1442- 1453 ) tặng Nghiêm Túc hầu, gia tặng Đô đốc đồng trị, tả Đô đốc Thiếu bảo Nghiêm Quận công. Ông thọ 73 tuổi. Giỗ ngày 18 tháng 6, mộ tại xứ Ngọc Giả xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Phúc Sĩ  sinh ngày 15 tháng 3 năm Kỷ Mùi (Tỵ ?) đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 7 (1449).

Tiên tổ họ Đặng húy Doãn sinh ngày 16 tháng 6 năm Đinh Tỵ (?) đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 5 (1447). Ông học thông minh nhưng thi không đậu.

Tiên tổ họ Đặng húy Chí sinh ngày 15 tháng 3 năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hòa thứ 9 (1451), thi Hương trúng Cống sĩ, làm quan đến Tả Thị lang, phong tặng Khánh Thiện Hầu. Giỗ ngày 25 tháng Giêng, hưởng thọ 72 tuổi, mộ táng xứ Cửa Chùa, xã Chúc Sơn, sau cải táng tại xứ Ngọc Giả.

Tiên tổ tỷ (bà) Chính thất phu nhân hiệu Đoan Trang.

Giỗ ngày mồng 8 tháng 6, hưởng thọ 74 tuổi mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Khánh sinh ngày 18 tháng 4 năm Canh Ngọ đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1452), phong tặng Khánh Phúc hầu.

ĐỜI THỨ 14.

Tiên tổ họ Đặng húy Nghị lúc bé tên Luận, sinh năm Tân Tỵ, đời vua Lê Nhân Tông, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 10 (1479). Lúc nhỏ, ông thông minh khác thường, nhà nghèo nhưng hiếu học. Ông tu luyện võ nghệ, sức mạnh có thừa. Gặp thời loạn lạc, ông giúp nước an dân, được phong Thống lính quân Hải Quận công, sau vận mệnh (vua ) đến xứ Nghệ đánh giặc bắt tướng giặc Phạm Giang trước trận tại thôn Nghĩa Liệt ở Lam Thành, được phong sắc, trong sắc có câu (dịch nghĩa ):

Có công được phong bách hộ. Nay sắc

Giỗ mồng 10 tháng 10 mộ táng xứ Ngọc Giả xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Điện sinh ngày 12 tháng 2 năm Canh Thìn đời vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ 11 (1480), phong Điện Dụ hầu, sau đổi là Nghiêm Dụ hầu, phong Đô đốc chỉ huy Thiêm sự.

Giỗ mồng 9 tháng 12, mộ táng tại Thịnh Phúc.

Tiên tổ họ Đặng húy Minh,  sinh ngày 22 tháng 6 năm Quý Mùi đời vua Lê Thanh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483) phong tặng Minh sơn hầu, gia tặng Đô đốc Đồng tri.

ĐỜI THỨ 15.

Tiên tổ họ Đặng húy Huấn  sinh ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Mão đời vua Lê Chiêu Tông năm Quang Triệu thứ 4 (1519). Năm ông 4 tuổi, thân phụ ông tử trận tại Nghệ An. Năm ông 9 tuổi, thân mẫu tạ thế. Ông được cụ Nghiêm Dụ công nuôi dưỡng. Ông tính thông minh luôn cố gắng hết mình để kế tục sự nghiệp tiền nhân. Ông là võ tướng tài hoa, phù Lê, diệt Mạc, làm quan đến chứ Hữu Đô đốc, tước Nghĩa Quận công, Tiên phong Vân nghĩa Vinh lộc đại phu, trung thành với chúa, coi sóc trong nội cung, quản đốc Thị hậu nội kiêm Quốc chính, Đô súy, gia phong Vũ Nghi tướng quân, trung hưng công thần đệ nhất.

Ông được truy phong Thái úy Nghĩa Quốc công, Hậu Trạch công Thượng đẳng Đại vương. Sử thời Hậu Lê có ghi: “ Con cháu ông Đặng Huấn đời đời vinh hoa phồn thịnh ”.

Ông mất ngày 18 tháng 6 năm Canh Dần đời vua Lê Thế Tông niên hiêu Quang Hưng thứ 13 (1590), hưởng thọ 72 tuổi. Mộ táng tại thôn Thịnh Phúc.

Phủ từ đường tại Mạc Xá nay đổi là Lương Xá phụng cúng tiên tổ Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài.

Tiên tổ tỷ (bà) họ Lê húy Lư tự là Ngọc Huyền. Bà là con gái quan Thái tể Đôn Thuận Quận công Lê Bá Đễ, cháu gái quan Thượng tễ Diễn Quốc công Lê Bá Ly. Bà sinh năm Mậu Tuất (1538), mất ngày tháng 7 năm Đinh Mùi (1670), thọ 70 tuổi.

Tiên tổ họ Đặng húy Khiêm, lúc nhỏ là Khang. Ông là người có tư chất thông minh, dáng người đẹp đẽ, chỉ sống được 20 tuổi.

Tiên tổ họ Đặng húy Toàn, tự là Minh Châu, tặng là Toàn Phúc hầu, mất năm 14 tuổi, giỗ ngày 15 tháng 7. Mộ táng tại của chùa Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Tiến, sinh ngày 20 tháng 5 năm Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên đời vua Lê Cung Hoàng (523), phong tặng Thành Tín hầu, gia tặng Đô đốc Đông tri chỉ huy Thiêm sự Tả Đô đốc Thành Quận công.

ĐỜI THỨ 16.

Tiên tổ họ Đặng húy Vinh sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhăm Tuất (1562) đời vua Lê Anh Tông niên hiệu Thiên Hựu. Ông được phong Bảo vệ Vương Thái bảo Hà Quận công, gia phong Thái úy Thái phó Tả Tư không Thượng trật, truy phong Thượng đẳng Đại vương. Ông mất ngày mồng 6 tháng 7 năm Ất Sửu (1625), hưởng thọ 64 tuổi.

 Tiên tổ tỷ (bà) họ Đỗ phong Nhị phẩm đoan nhân. Giỗ ngày 28 tháng 3. Mộ ông bà hợp táng xứ Đồng Quý.

Tiên tổ họ Đặng húy Ký sinh ngày 20 tháng 10 năm Bính Dần (1566) đời vua Lê Anh Tông niên hiệu Thiên Hựu. Ông được phong Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu Thụy là Nhân Hậu, lại thụy là Thuần Tín.

ĐỜI THỨ 17.

Tiên tổ họ Đặng húy Thế Tài sinh năm Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hưng (1592). Ông có công phù Lê được phong Doanh Quận công, Dực Vận Công thần, truy phong Thái tễ Thượng đẳng Đại vương

Giỗ ngày 18 tháng Giêng

Phần mộ tại Núi Non Dài, Ngọc Giả, Chúc Sơn, Chương Đức.

Tiên tổ tỷ (bà) Trịnh Thị Ngọc Thạc phong Nhất phẩm phu nhân, Đoan trang công chúa.

Giỗ mồng 6 tháng 6.

Mộ táng xứ Cửa Chùa.

Tiên tổ họ Đặng húy Thế Khoa là con thứ ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Qúy Tỵ niên hiệu Quang Hưng (1593). Ông làm quan được phong tước Dực Vận, Tán trị Công thần, Tham Trung (Tụng ?), Binh Bộ Thượng thư, Liêm Quận công, truy phong Thái bảo Thượng trụ quốc Đại vương.

Giỗ ngày mồng 3 tháng 2, mộ thất truyền.

Tiên tổ Đặng Thế Khanh là con thứ ba của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng (1595). Ông làm quan đến Đô đốc triều Lê, truy phong Thái tể Khâm Quận công.

Tiên tổ Đặng Thế Trụ là con thứ tư của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Giáp Thìn (1604) niên hiệu Hoằng Định. Ông làm Đô đốc triều Lê tước Điện Lộc hầu, truy phong Đốc Bật trợ uy Điện Quận công. Giỗ ngày mồng 7 tháng 7.

Tiên tổ Đặng Thế Năng là con thứ năm của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Đinh Tỵ (1617) niên hiệu Hoàng Định. Ông được phong Hiệu Thắng hầu.

Tiên tổ Đặng Đình Phụng là con thứ sáu của ông Đặng Tiến Vinh, ông làm quan tới Quản lãnh tứ thành trấn thủ Sơn Tây, truy phong Nghĩa Hiệp Quận công.

Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn năm ngày 15 tháng giêng năm Ất Sửu (1745).

Từ đây trở lên, cháu là Tổng trấn Nghệ An, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn kính căn phụng sao.

Từ đây trở xuống do Đặng Sĩ Hàn biên tập.

Nhân nơi bờ liễu gặp lúc thanh nhàn

Cửa son nghĩa tới cội nguồn, ngẫm kỹ công đức tổ tiên như núi Thái Sơn bàn thạch, nghìn vạn năm tích đức, tích thiện để lại cho con cháu đời đời.

Đó là quả phúc lớn.

Kính cẩn biên tập danh hiệu, công tích, sự nghiệp tổ tiên, lưu muôn đời cho con cháu để cho con cháu trông lên mà không vong ơn.

Ngày 15 tháng Giêng năm Ất Sửu ( 1745 ) triều vua Cảnh Hưng.

Cháu đời sau là Tổng trấn Nghệ An, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn biên tập.

ĐỜI THỨ 18.

Tiên tổ Đặng Đình Thự sinh năm Tân Mùi niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631) đến năm Ất Mùi (1655) niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 ông phò giá vua Thịnh Đức (Thần Tông  Lê Duy Kỳ ) nam chinh.

Đến năm Bính Thân (1656) niên hiệu Thịnh Đức 4, ông được làm phó tướng. Đến năm Đinh Dậu (1657), ông được thăng Đô đốc Thiêm sự. Tháng 9 năm đó ông đem quân dẹp giặc Mạc tại Cao Bằng, bắt sống được tướng Mạc là Luận Quận công Dương Đình Lý.

Triều đình luận công thăng ông lên hai bậc làm Nam quân Đô đốc Đồng tri.

Năm Chính Hòa thứ nhất (1680) đời vua Lê Hy Tông có sắc chỉ sai các quan trong triều trước bài vị Hậu Trạch Công vào thái miếu thờ phối hưởng.

Năm Qúy Hợi (1683) ông được thăng Thiếu phó.

Năm Ất Sửu (1685) ông được phong Thái bảo.

Như thế, ba năm liền ông được phong chức trọng quyền cao.

Ông sai con là Đặng Đình Tướng tục biên “Đặng tộc đại tông phả”. Chú họ là Đặng Tiến Bá trùng tu phủ từ đường thờ tiên tổ.

Ông làm trấn tủ Nghệ An 24 năm, để lại cho nhân dân Nghệ An và con cháu họ Đặng ngàn vạn ân đức.

Nhân dân thôn Triều Sơn, xã Nguyệt Áo, huyện Thiên Lộc lập đền thờ ông.

Có bài minh trên bia ghi rõ:

Hữu công tất bảo

Tích thiện dư khương

Quỳnh cư vĩnh hảo

Lam thủy lưu hương

Ức niên phần bật

Vạn đại diễn hương

Thử công thử đức

Địa cửa thiên trường”.

Tạm dịch:

Có công tất được báo

Tích thiện ắt có phúc lành

Như ngọc cần phải giữ

Để ngát hương sông Lam

Ngàn năm giúp quê hương

Danh tiếng lưu muôn đời

Ngàn năm công đức ấy

Mãi mãi cùng đất trời”.

Ông mất ngày 23 tháng Giêng năm Mậu Dần (1698), hưởng thọ 68 tuổi.

Tiên tổ tỷ ( bà ) là phu nhân Nguyễn Thị Điển, người xã Thượng Lâm huyện Mỹ Đức.

ĐỜI THỨ 19.

Tiên tổ Đặng Đình Tướng, ông là thứ ba của ông Đặng Tiến Thự. Ông sinh năm Kỷ Mùi niên hiệu Khánh Đức thứ nhất (1649) đời vua Lê Thần Tông.

Năm Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông, khoa Canh Tuất (1670), ông đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân, phụng mệnh đi sứ Bắc, ông làm quan đến Tả Thị lang, Thượng thư, thăng Đại Tư mã chưởng phủ sự.

Sau khi mất, truy phong Đại Tư không, Ứng Quận công, phong Phúc thần.

Ông mất ngày 15 tháng 5 năm Ất Mão (1735) niên hiệu Vĩnh Hựu Nguyên Niên.

Chánh thất phu nhân: Bùi Thị Khang thọ 61 tuổi.

Thứ nhất phu nhân: Phạm Thị Đằng sinh 3 con trai.

Đặng Đình Gián – Bảo Huân Quận công.

Đặng Đình Đế - Tổng binh Đồng tri Nhuận Phái hầu.

Đặng Đình Thức – Hình thuyên Câu kê Thái bộc Tự khanh.

CHI GIÁP - GIÁP NHỊ.

ĐỜI THỨ 10.

 Đặng Đình Quả là con thứ 2 của Bình chương Quốc sự Đặng Dung. Ông là giám sinh Quốc Tử Giám, làm quan tới chức Tham nghị ty thừa chính sứ Quảng Yên, phong tước Quảng Nhân (Nam ) hầu. Về sau khi thân phụ bị giặc Minh bắt, ông tị nạn hồi cư về Tả Thiên Lộc. Mộ táng tại xứ Đồng Thắng.

 Tiên tổ tỷ: Phu nhân người họ Hà, sinh Đặng Đôn PhụcĐặng Ngũ Khánh.

ĐỜI THỨ 11.

Con trưởng Đặng Đôn Phục di cư tại xã Kim Bằng, huyện Thạch Hà. Ông thi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Canh Thìn (1580) làm quan đến Hiến sát sứ xứ Thanh Hoa tước Thọ Lộc hầu. Sau khi ông mất, mộ táng tại xứ Ao Đồng Cồn.

Chính thất phu nhân Nguyễn Thị Kim Bằng.

Con thứ là Đặng Ngũ Khánh ở tại thôn Đông Rạng, xã Tả Thiên Lộc. Ông làm giám sinh Quốc Tử Giám, làm quan tới tước Vĩnh KhánhNam.

Chính thất phu nhân: Nguyễn Thị Nhậm, sinh Đặng Ngũ Quế.

 ĐỜI THỨ 12.

Đặng Ngũ Quế là con trưởng ông Đặng Ngũ Khánh. Ông có tên tự là Đức Nhuận, hiệu Hải Lĩnh tiên sinh. Ông làm quan giám sinh Quốc Tử Giám, thi trúng Tam trường, làm quan đến Tổng binh sứ Đồng tri ty Đô Tổng binh trấn Quốc Đại tướng quân, đạc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu tước Thọ Lượng tử.

Chính thất phu nhân là Nguyễn Thị Định là con gái quan Thái tể tướng Nguyên Văn Giai.

Thứ nhất phu nhân là Đỗ Thị Phương sinh 2 con trai: Đặng Ngũ SáchĐặng Ngũ Dượng.

Á thất phu nhân là Vũ Thị Cẩn, sinh 7 con trai, 2 con gái:

Con trưởng: Đặng Ngũ Vinh làm quan Viên Tử.

Con trai thứ 2: Đặng Ngũ Tĩnh .

Con trai thứ 3: Đặng Ngũ Thạnh làm Tri phủ Diễn Châu.

Con trai thứ 4: Đặng Ngũ Chưởng là Tri huyện

Con trai thứ 5: Đặng Văn Chung.

Con trai thứ 6: Đặng Văn Trung làm Vệ úy.

Con trai út: Đặng Văn Cẩm làm Vệ úy.

Con gái: Đặng Thị LýĐặng Thị Cung.

CHI GIÁP - GIÁP TAM.

ĐỜI THỨ 10.

Đặng Di được phong Cao Sơn hầu. Ông là con thứ 3 của tổ Đặng Dung, lập nghiệp ở Sơn Vi, Mạo Phổ (nay là Phú Thọ).

ĐỜI THỨ 11.

Đặng Thiếp là con trai ông Đặng Di, ông đậu Hoàng giáp khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa 11 (1453) đời vua Lê Nhân Tông, làm quan đến Chánh sứ ty Tham nghị Hóa Châu.

Ông có làm sớ tâu lên vua 5 việc lớn:

1. Tăng cường phòng thủ hải khẩu Thu Dung (nay là Thuận An).

2. Lập hải khẩu Thuận An.

3. Bãi miễn chức dịch thuế vì vô tác dụng, tiêu tốn công quỹ.

4. Khai thông hải khẩu Liên Từ ở Lệ Thủy- Tân Bình.

5. Lập dân lưu vong hồi cư tại châu Bố Chánh khai khẩn ruộng hoang.

Có việc được vua phê chuẩn, có việc được nhân dân, sĩ phu ca ngời.

ĐỜI THỨ 12.

Đặng Công Hoàn (Đặng Tòng Củ), con trưởng ông Đặng Thiếp, đậu Hoàng giáp, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ.

Đặng Minh Khiêm, con trai thứ 2 Đặng Thiếp, khoa Đinh Mùi (1487) cùng em là Đặng Tán đậu Tiến sĩ cùng khoa, làm quan đến Hoàng Lâm Viện, Ông phụng mệnh vua đi sứ Bác, làm quan đến Tả Thị lang bộ Lại, thăng Thượng thư bộ Lễ kiêm Thái phó, Tổng tài Quốc sử quán. Thời vua Lê Chiêu Tông vâng mệnh vua tu sủa, hoàn chỉnh bộ Đại việt sử ký. Họ Mạc thoán vị nhà Lê, ông bỏ quan đi ở ẩn. Tác phẩm của ông còn lại 30 bộ “Việt giám vịnh sử thi tập” và 2 tác phẩm “Thi lục”, “Thi tuyển”.

Đặng Công Tán là con trai thứ 3 ông Đặng Công Thiếp.  Khoa Đinh Mùi (1487) triều vua Lê Thánh Tông, ông đậu Tiến sĩ, vâng mệnh đi sứ Bắc, làm quan đến chức Hữu Thị lang.

ĐỜI THỨ 13.

Đặng Minh Cát là con trai trưởng ông Đăng Minh Khiêm. Triều vua Lê Thống Nguyên, ông làm quan Tham nghị xứ Hải Dương. Họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông ở ăn tại thôn Phú Nghĩa huyện Cẩm Giàng. Về sau, con cháu (có chi) di cư đến Mỹ Lộc phủ Thiên Trường. Ông Đặng Hữu Tương lập ra 5 trang trại : ở Mỹ Lộc lập 4 trang trại và ở Thanh Hóa 1 trang trại.

Không kể xứ nào, con cháu cũng phát huy gia phong, gia tộc.

Tiết nghĩa tại Thiên Lộc

Khoa Danh tại Sơn Vị

Cư sĩ tại Cẩm Giàng

Tôn Hoàng giáp kế thừa sư bảo

Tự Hồng Sơn kiến tạo tinh anh

Dịch:

Khí tiết tại Thiên Lộc

Đỗ đạt tại Sơn Vị

Đi ở ẩn tại Cẩn Giàng

Chúa Hoàng giáp kế thừa sư bảo

Từ Hồng Sơn tạo dựng tinh anh

Tổ tiên, con cháu, anh em một nhà tiết nghĩa khoa danh.

Sau con cháu không hợp tác với giạc Mạc. Đến đời Lê trung hưng mới ra làm quan, khi đi thi đỗ đạt thì đã nhiều tuổi như các ông.

Đặng Thuần Trung 54 tuổi.

Đặng Thuần Nhân 54 tuổi.

Đặng Kính Chi 64 tuổi.

Đặng Duy Minh 64 tuổi.

Đặng Duy Mậu 65 tuổi.

GIÁP CHI TỨ.

ĐỚI THỨ 10.

Đặng Công Thiếp là con trai thứ 4 Đặng Dung, Giặc Minh bắt mất cha. Ông di cư đến Sơn Đồng huyện Lập Thach tạo dựng cơ nghiệp.

Tiên tổ Đặng Công Thiếp thi đậu Hoàng giáp triều Lê Thánh Tông, con cháu tiếp tục khoa danh, cư trú nhiều nơi.

Tiên tổ Đặng Công Hòa thi đậu Hoàng giáp triều Lê Thánh Tông, làm quan đến Hiến sát sứ.

Tiên tổ Đặng Công Thận đậu Hoàng giáp triều Lê Thánh Tông làm quan đến Hiến sát sứ, thăng Tả Thị lang bộ Lễ.

Tiên tổ Đặng Công Điểm đậu Tiến sĩ triều Lê Thánh Tông. làm quan đến Hiến sát sứ.

Tiển tổ Đặng Công Lễ, tước Bảo Quận công.

Tiên tổ Đặng Công Lĩnh làm quan thái giám, tước Mộc Liêm niên hiệu Đức Nguyên năm thứ 2 (1675).

Tiên tổ Đặng Công Toàn làm quan Tham nghị xứ Quảng Yên.

Tiên tổ Đặng Công Di sinh năm Canh Dần niên hiệu Khánh Đức, làm quan Thị lang kiêm Tổng tài Quốc sử quán.

Tiên tổ Đặng Công Liễu sinh năm Quý Tỵ niên hiệu Thịnh Đức làm quan Hành Khiển Chánh sứ Quảng Nam.

Tiên tổ Đặng Công Điển làm quan ở ty Tham chính Lạng Sơn.

Hậu duệ các vị tiên tổ di tán nhiều nơi ở Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Nam, Sơn Na, Thái Bình, Bắc Giang, Vĩnh Long, Gia Định.

TRƯỞNG CHI ẤT.

ĐỜI THỨ 9.

Tiên tổ họ Đặng húy Chủng, ông là con thứ 2 của Quốc công Đặng Tất, đi thi trúng khoa Hoành từ, làm quan Hàn Lâm Viện Hiệu thảo. Ông cùng anh Đặng Dung phò tá vua Trùng Quang. Sau vì ông Đặng Dung bị giặc Minh bắt, ông về ẩn ở chùa Hương Tích, làm Thiền sư. Sau thấy không được yên ổn, ông quay về ẩn dật tại Vô Điền, lập nghiệp khai hoang, xây dựng nhà cửa, mở trường dạy học ở địa phương.

Tác phẩm văn học của ông còn lại:

Bài văn trên chuông chùa Sùng Quang.

Bài minh trên chuông chùa Hương Tích.

Đặng Chủng và phu nhân sinh 4 nam:

Con trưởng: Đặng Viên.

Cơn thứ 2: Đặng Nhàn.

Con thứ 3: Đặng Khiêm.

Con thứ 4: Đặng Bá.

CHI ẤT NHỊ.

ĐỜI THỨ 9.

Tiên tổ Đặng Nhàn, tự là Trọng Quang, con thứ 2 Hàn Lâm Viên Đặng Chủng. Ông có công đánh giặc được phong Phúc An hầu, sau di cư đến thôn Trung Lá xã Bạch Đường, huyện Nam Đường, xứ Nghệ An. Ông có hai con trai, hai con gái:

Con Trưởng: Đặng Trọng Tuân.

Con thứ: Đặng Trọng Trân.

Con gái: Đặng Thị Quê và Đặng Thị Anh.

Đặng Trọng Tuân di cư Hải Dương.

Đặng Trọng Tuân sinh Đăng Minh Bách và con gái là Đặng Thị Lam.

Đăng Minh Bích đậu Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484), làm quan đến Thượng thư bộ Hộ. Ông còn để lại 22 bài thơ ghi trong “Việt Thi lục”. Sau khi mất, ông được truy phong Đoan túc, Dực bảo trung hưng lĩnh phù tôn thần, gia phong Trung đẳng thần.

Chính thất phu nhân là Thái Thị Thường.

Thứ nhất phu nhân là Nguyễn Thị Lương.

Trắc thất phu nhân là Nguyễn Thị Thạc.

Thắc thất phu nhân là Hoàng Thị Tuấn.

Bốn bà sinh 9 nam 5 nữ.

Con trưởng:  Đặng Minh Ngọc.

Con thứ 2: Đăng Minh Châu.

Con thứ 3: Đặng Minh Tấn.

Con thứ 4: Đăng Minh Hoàn.

Con thứ 5: Đặng Minh Điển.

Con thứ 6: Đặng Minh Định.

Con thứ 7: Đặng Minh Ngoạn.

Con thứ 8: Đặng Minh Hiền.

Con trai út: Đặng Minh Triết.

Cả 9 con đều là Hiệu sinh trong làng, sau di cư đi nhiều nơi, cha con khoa hoạn, một nhà hiển vinh.

Con trai thứ 2 là Đặng Minh Châu, đậu Hương tiến khoa Mậu Dầu triệu Lề Thần tông hiệu Dương Hòa (?) (1638) làm quan Tả Thị lang,

Phu nhân là Nguyễn Thị Tùy, sinh 2 con trai:

Con trưởng Đặng Trọng Minh, con cháu ở phân tán tại: Thanh Chương, Long Sơn, Long Thái, Thái Sơn, Đặng Sơn.

Con thứ Đặng Trọng Chí, con cháu phân tán tại Trao Thanh, Nho Lâm, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Nam Hà, Tiên Cầu, Lộc Sơn.

CHI ẤT TAM.

ĐỜI THỨ 9.

Đặng Kiêm là hậu duệ của Đô đốc Đặng Tướng Công, con cháu về sau di cư tới xã An Lạc, huyện Nghi Xuân.

CHI ẤT TỨ.

ĐỜI THỨ 9.

Đặng Bá Nam là con ông Đặng Minh Trí, tước Nghĩa Liệt hầu, sau phong tặng Hạc Quận công, đổi phong Hồng Quận Công, di cư Hoa Viên, Nghi Xuân.

Huyện Tam Kỳ, tỉnh Vĩnh Long, ngày tốt năm Canh Ngọ niên hiệu Gia Long thứ 10 (1811) triều vua nhà Nguyễn, cư sĩ, Cử nhân Đặng Tố Nga kính cẩn phụng sao.

Ngày tốt năm Minh mệnh Nguyên niên (1820 ), tri huyện Tam Kỳ tỉnh Vĩnh Long là Cử nhân Đặng Đình Huệ kính cẩn phụng sao.

BÀI TỰA.

PHẢ CHI TRƯỞNG HỌ ĐẶNG.

Đặng tộc đại tông phả là phả chi trưởng họ Đặng vậy. Họ ta vốn là người huyện Thiên Lộc (nguyên quán huyện Thiên Lộc, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa, Thiên Lộc nay là Hậu Lộc) lưu lạc ở ấp ta đến nay đã sáu, bảy đời. Xưa kia đã có gia phả ghi chép từ cụ Tị tổ là Cao Nghĩa Thần triều Trần do (Đặng) Đình Thự biên tập. Trên từ cụ Cao Nghĩa Thần, dưới đến hiển khảo, nguồn gốc từ đâu đến, sinh ra từ chi nhánh nào, phần mộ, ngày giỗ phần nhiều ghi thiếu hoặc vì khi nhà Trần mất nước, do nạn binh Minh, giặc Mạc mà mất, hoặc ghi chép thiếu sót.

 Chi trưởng ta từ cụ Đình Nghi đến cụ Đình Huấn từ trước đến nay mới sáu, bảy đời, tuy nghèo nhưng khoa hoạn theo nhau kế nối. Đời trước gây dựng, đời sau kế thừa, còn có chỗ tham khảo, hiệu đính. Tổ tông tích đức hàng trăm năm nay mới nảy nở.

Bắt đầu từ cụ Đình Huấn lập riêng phả chi trưởng, thế thứ trước sau, niên đại xa gần, phần mộ, ngày giỗ thường ngày phả cũ đã ghi chép lại thì đã rõ. Những điều phả cũ còn chưa ghi chép thì phụ thêm vào, tất cả đều kính cẩn biên chép. Ngỏ hầu con cháu hàng ngàn năm sau còn ngợi ca công lao vất vả cũng như khí tiết giản dị, cương nghị của tổ tiên. Những vị thành đạt đã có thê chiêm ngưỡng mà noi theo; những người hư hỏng cũng biết lấy làm răn, vậy nhân đây bày tổ lời nói này.

Cháu Đặng Đình Tướng, Tiến sĩ triều Lê, vậng mệnh sang sứ phương Bắc, Lại Bộ Thương thư Tả Thị lang phong Nam tước, đổi làm Tả Đô đốc ra trấn Tây Nam, thăng Tá Lý Công Thần Tiền Hòa doanh Thái phó làm bài tựa.

PHẢ HỆ HỌ ĐẶNG.

  Kính cẩn viết: Trên từ vị tổ đầu tiên Cao Nghĩa Thần, dưới đến tiên tổ là ông Đình Huấn thế thứ khá rõ ràng nên không chép lại mà tất cả ghi theo phả cũ.

Riêng từ ông Đình Nghi, chi ta bắt đầu từ ông sinh ra nên hệ cũ lấy ông là tiên tổ, tức khởi đầu từ ông Đình Nghi, ông là thế hệ thứ nhất của riêng chi trưởng.

Mùa thu nămQúy Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683).

Nam quân Đô đốc Tổng trọng thần Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập.

Ngày Dần tháng Giêng mùa Xuân năm Bính Dần niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686). Đi sứ Bắc, Lại Bộ Thượng thư Tá Lý Thái phó Đặng Đình Tướng tục biên.

CHI TRƯỞNG.

TẠI MẠC XÁ - CHƯƠNG ĐỨC.

NAY ĐỔI LÀ LƯƠNG XÁ - CHÚC SƠN.

ĐỜI THỨ 1.

Tiên tổ họ Đặng húy Nghi là con trưởng ông Đặng Dung. Ông sinh 20 tháng 10 năm Tân Mùi (1391) đời Trần Thuận Tông niên hiệu Quang Khải (theo sử là Quang Thái ) năm thứ 2 (1389).

Ông sinh ra gặp thời loạn lạc, gia đình ly tán, hiển tổ là Đặng Tất chết oan. Ông thắp đèn 7 tuần (báo hiếu), được đội ơn ban chức Thị dưỡng  dưỡng được truy phong Phúc Thắng hầu, hưởng thượng thọ, giỗ mồng 2 tháng 3. Mộ táng xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức tại nơi có tên là núi Hỏa Tinh, tục gọi là núi Nấm Chiêng, hình thế của ngọn núi là nhô lên, uốn lượn quanh co. Bên phải nhìn xuống là sông Ninh, như ôm lấy, xưa nay người lên chiêm ngưỡng đều coi là nơi danh thắng. Tương truyền mộ tổ họ Đặng phát tích từ vùng đất địa linh nhân kiệt này. Về lý quả là như vậy.

Ngạn ngữ có câu khắc tại bia:

Bao giờ núi Chúc hết cây

Sông Ninh hết nước, họ này hết quan .

Tức là đất này vậy.

Bà Chính thất họ Nguyễn hiệu Từ Hậu được phong Tòng lục phẩm An nhân, sinh con trai Đăng Khoan, giỗ 3 thang 6, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Bà thứ thất họ Nguyễn hiệu Từ Tâm được phong Thất phẩm An nhân, sinh Đặng Lâm, giỗ 23 tháng 8, mộ táng xứ Cửa Chùa chùa xã Chúc Sơn.

 ĐỜI THỨ 2.

Tiên tổ họ Đặng húy Khoan là con trưởng ông Đặng Nghi sinh năm Kỷ Sửu (1409 ) niên hiệu Trùng Quang. Năm đầu thời đó, đất nước loạn lạc, quân Minh tàn phá, nhân dân đói rét, gia đình bị tiêu hủy, cha mẹ ly tán. Ông giỗ ngày 15 tháng 8 mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn, được truy phong Thiện Khánh hầu.

Tổ bà họ Nguyễn hiệu Từ Liêm được phong tặng lục phẩm An nhân, giỗ ngày 6 tháng 10 mộ táng Cửa Chùa.

Tiên tổ họ Đặng húy Lâm là em ông Đặng Khoan, sinh ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Thìn (1412 ) niên hiệu Trùng Quang năm thứ 4. Ông giỗ ngày 7 tháng 11 mộ táng xã Mỹ Lương, huyện Từ Thủy được truy phong Cao Sơn hầu.

Bà Chính thất họ Nguyễn hiệu Trang Tính, giỗ ngày mồng 7 tháng 3, mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

ĐỜI THỨ 3.

Tiên tổ họ Đặng húy Tuyên  sinh ngày 20 tháng10 năm Đinh Mùi. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng chăm học, thi đậu Hương cống, làm quan Tá lang Cẩn sự, được tăng Lương Mỹ hầu, giỗ ngày 26 tháng 6, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tổ bà là Nguyễn Thị Hạnh hiệu Lưu Ngọc, phong tăng Lục phẩm An nhân, giỗ ngày 4 tháng 8 mộ hợp táng với ông Đặng Tuyên.

Tiên tổ họ Đặng húy Lội, lúc còn nhỏ tên là An, sinh năm Canh Tuất (1430) đời Lê Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên thứ 3. Ông tính khoan hòa, cần mẫn, được phong Thắng Phúc hầu, thọ 68 tuổi, giỗ ngày mồng 6 tháng 4, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tổ bà hiệu là Từ Nhân, thọ 70 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 10, mộ táng tại xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Minh sinh năm Canh Tuất (đáng lẽ ra là Canh Tý) đời Lê Thái Tổ niên hiệu Tuận Thiên năm thứ 3 (1430) được tặng Lương Thiệu hầu.

Tiên tổ họ Đặng húy Hoàn sinh năm Nhâm Tý. Ông thông minh nhân hậu, được phong tặng Đô đốc Khánh Hoàn hầu.

ĐỜI THỨ 4.

Tiên tổ họ Đặng húy Túc sinh ngày 20 tháng 8 năm Ất Mão, niên Thái Hòa đời vua Lê Nhân Tông (1442- 1453 ) tặng Nghiêm Túc hầu, gia tặng Đô đốc đồng trị, tả Đô đốc Thiếu bảo Nghiêm Quận công. Ông thọ 73 tuổi. Giỗ ngày 18 tháng 6, mộ tại xứ Ngọc Giả xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Phúc Sĩ  sinh ngày 15 tháng 3 năm Kỷ Mùi (Tỵ ?) đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 7 (1449).

Tiên tổ họ Đặng húy Doãn sinh ngày 16 tháng 6 năm Đinh Tỵ (?) đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 5 (1447). Ông học thông minh nhưng thi không đậu.

Tiên tổ họ Đặng húy Chí sinh ngày 15 tháng 3 năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hòa thứ 9 (1451), thi Hương trúng Cống sĩ, làm quan đến Tả Thị lang, phong tặng Khánh Thiện Hầu. Giỗ ngày 25 tháng Giêng, hưởng thọ 72 tuổi, mộ táng xứ Cửa Chùa, xã Chúc Sơn, sau cải táng tại xứ Ngọc Giả.

Tiên tổ tỷ (bà) Chính thất phu nhân hiệu Đoan Trang.

Giỗ ngày mồng 8 tháng 6, hưởng thọ 74 tuổi mộ táng xứ Cửa Chùa xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Khánh sinh ngày 18 tháng 4 năm Canh Ngọ đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1452), phong tặng Khánh Phúc hầu.

ĐỜI THỨ 5.

Tiên tổ họ Đặng húy Nghị lúc bé tên Luận, sinh năm Tân Tỵ, đời vua Lê Nhân Tông, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 10 (1479). Lúc nhỏ, ông thông minh khác thường, nhà nghèo nhưng hiếu học. Ông tu luyện võ nghệ, sức mạnh có thừa. Gặp thời loạn lạc, ông giúp nước an dân, được phong Thống lính quân Hải Quận công, sau vận mệnh (vua ) đến xứ Nghệ đánh giặc bắt tướng giặc Phạm Giang trước trận tại thôn Nghĩa Liệt ở Lam Thành, được phong sắc, trong sắc có câu (dịch nghĩa ):

Có công được phong bách hộ. Nay sắc

Giỗ mồng 10 tháng 10 mộ táng xứ Ngọc Giả xã Chúc Sơn.

Tiên tổ họ Đặng húy Điện sinh ngày 12 tháng 2 năm Canh Thìn đời vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ 11 (1480), phong Điện Dụ hầu, sau đổi là Nghiêm Dụ hầu, phong Đô đốc chỉ huy Thiêm sự.

Giỗ mồng 9 tháng 12, mộ táng tại Thịnh Phúc.

Tiên tổ họ Đặng húy Minh,  sinh ngày 22 tháng 6 năm Quý Mùi đời vua Lê Thanh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483) phong tặng Minh sơn hầu, gia tặng Đô đốc Đồng tri.

ĐỜI THỨ 6.

Tiên tổ họ Đặng húy Huấn  sinh ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Mão đời vua Lê Chiêu Tông năm Quang Triệu thứ 4 (1519). Năm ông 4 tuổi, thân phụ ông tử trận tại Nghệ An. Năm ông 9 tuổi, thân mẫu tạ thế. Ông được cụ Nghiêm Dụ công nuôi dưỡng. Ông tính thông minh luôn cố gắng hết mình để kế tục sự nghiệp tiền nhân. Ông là võ tướng tài hoa, phù Lê, diệt Mạc, làm quan đến chứ Hữu Đô đốc, tước Nghĩa Quận công, Tiên phong Vân nghĩa Vinh lộc đại phu, trung thành với chúa, coi sóc trong nội cung, quản đốc Thị hậu nội kiêm Quốc chính, Đô súy, gia phong Vũ Nghi tướng quân, trung hưng công thần đệ nhất.

Ông được truy phong Thái úy Nghĩa Quốc công, Hậu Trạch công Thượng đẳng Đại vương. Sử thời Hậu Lê có ghi: “ Con cháu ông Đặng Huấn đời đời vinh hoa phồn thịnh ”.

Ông mất ngày 18 tháng 6 năm Canh Dần đời vua Lê Thế Tông niên hiêu Quang Hưng thứ 13 (1590), hưởng thọ 72 tuổi. Mộ táng tại thôn Thịnh Phúc.

Phủ từ đường tại Mạc Xá nay đổi là Lương Xá phụng cúng tiên tổ Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài.

Tiên tổ tỷ (bà) họ Lê húy Lư tự là Ngọc Huyền. Bà là con gái quan Thái tể Đôn Thuận Quận công Lê Bá Đễ, cháu gái quan Thượng tễ Diễn Quốc công Lê Bá Ly. Bà sinh năm Mậu Tuất (1538), mất ngày tháng 7 năm Đinh Mùi (1670), thọ 70 tuổi.

Tiên tổ họ Đặng húy Khiêm, lúc nhỏ là Khang. Ông là người có tư chất thông minh, dáng người đẹp đẽ, chỉ sống được 20 tuổi.

Tiên tổ họ Đặng húy Toàn, tự là Minh Châu, tặng là Toàn Phúc hầu, mất năm 14 tuổi, giỗ ngày 15 tháng 7. Mộ táng tại của chùa Chúc Sơn

Tiên tổ họ Đặng húy Tiến, sinh ngày 20 tháng 5 năm Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên đời vua Lê Cung Hoàng (523), phong tặng Thành Tín hầu, gia tặng Đô đốc Đông tri chỉ huy Thiêm sự Tả Đô đốc Thành Quận công.

ĐỜI THỨ 7.

Tiên tổ họ Đặng húy Vinh sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhăm Tuất (1562) đời vua Lê Anh Tông niên hiệu Thiên Hựu. Ông được phong Bảo vệ Vương Thái bảo Hà Quận công, gia phong Thái úy Thái phó Tả Tư không Thượng trật, truy phong Thượng đẳng Đại vương. Ông mất ngày mồng 6 tháng 7 năm Ất Sửu (1625), hưởng thọ 64 tuổi.

 Tiên tổ tỷ (bà) họ Đỗ phong Nhị phẩm đoan nhân. Giỗ ngày 28 tháng 3. Mộ ông bà hợp táng xứ Đồng Quý.

Tiên tổ họ Đặng húy Ký sinh ngày 20 tháng 10 năm Bính Dần (1566) đời vua Lê Anh Tông niên hiệu Thiên Hựu. Ông được phong Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu Thụy là Nhân Hậu, lại thụy là Thuần Tín.

ĐỜI THỨ 8.

Tiên tổ họ Đặng húy Thế Tài sinh năm Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hưng (1592). Ông có công phù Lê được phong Doanh Quận công, Dực Vận Công thần, truy phong Thái tễ Thượng đẳng Đại vương

Giỗ ngày 18 tháng Giêng

Phần mộ tại Núi Non Dài, Ngọc Giả, Chúc Sơn, Chương Đức.

Tiên tổ tỷ (bà) Trịnh Thị Ngọc Thạc phong Nhất phẩm phu nhân, Đoan trang công chúa.

Giỗ mồng 6 tháng 6.

Mộ táng xứ Cửa Chùa.

Tiên tổ họ Đặng húy Thế Khoa là con thứ ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Qúy Tỵ niên hiệu Quang Hưng (1593). Ông làm quan được phong tước Dực Vận, Tán trị Công thần, Tham Trung (Tụng ?), Binh Bộ Thượng thư, Liêm Quận công, truy phong Thái bảo Thượng trụ quốc Đại vương.

Giỗ ngày mồng 3 tháng 2, mộ thất truyền.

Tiên tổ Đặng Thế Khanh là con thứ ba của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng (1595). Ông làm quan đến Đô đốc triều Lê, truy phong Thái tể Khâm Quận công.

Tiên tổ Đặng Thế Trụ là con thứ tư của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Giáp Thìn (1604) niên hiệu Hoằng Định. Ông làm Đô đốc triều Lê tước Điện Lộc hầu, truy phong Đốc Bật trợ uy Điện Quận công. Giỗ ngày mồng 7 tháng 7.

Tiên tổ Đặng Thế Năng là con thứ năm của ông Đặng Tiến Vinh, sinh năm Đinh Tỵ (1617) niên hiệu Hoàng Định. Ông được phong Hiệu Thắng hầu.

Tiên tổ Đặng Đình Phụng là con thứ sáu của ông Đặng Tiến Vinh, ông làm quan tới Quản lãnh tứ thành trấn thủ Sơn Tây, truy phong Nghĩa Hiệp Quận công.

Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn năm ngày 15 tháng giêng năm Ất Sửu (1745).

Từ đây trở lên, cháu là Tổng trấn Nghệ An, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn kính căn phụng sao.

Từ đây trở xuống do Đặng Sĩ Hàn biên tập.

Nhân nơi bờ liễu gặp lúc thanh nhàn

Cửa son nghĩa tới cội nguồn, ngẫm kỹ công đức tổ tiên như núi Thái Sơn bàn thạch, nghìn vạn năm tích đức, tích thiện để lại cho con cháu đời đời.

Đó là quả phúc lớn.

Kính cẩn biên tập danh hiệu, công tích, sự nghiệp tổ tiên, lưu muôn đời cho con cháu để cho con cháu trông lên mà không vong ơn.

Ngày 15 tháng Giêng năm Ất Sửu (1745) triều vua Cảnh Hưng.

Cháu đời sau là Tổng trấn Nghệ An, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn biên tập.

ĐỜI THỨ 18.

Tiên tổ Đặng Đình Thự sinh năm Tân Mùi niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631) đến năm Ất Mùi (1655) niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 ông phò giá vua Thịnh Đức (Thần Tông  Lê Duy Kỳ ) nam chinh.

Đến năm Bính Thân (1656) niên hiệu Thịnh Đức 4, ông được làm phó tướng. Đến năm Đinh Dậu (1657), ông được thăng Đô đốc Thiêm sự. Tháng 9 năm đó ông đem quân dẹp giặc Mạc tại Cao Bằng, bắt sống được tướng Mạc là Luận Quận công Dương Đình Lý.

Triều đình luận công thăng ông lên hai bậc làm Nam quân Đô đốc Đồng tri.

Năm Chính Hòa thứ nhất (1680) đời vua Lê Hy Tông có sắc chỉ sai các quan trong triều trước bài vị Hậu Trạch Công vào thái miếu thờ phối hưởng.

Năm Qúy Hợi (1683) ông được thăng Thiếu phó.

Năm Ất Sửu (1685) ông được phong Thái bảo.

Như thế, ba năm liền ông được phong chức trọng quyền cao.

Ông sai con là Đặng Đình Tướng tục biên “Đặng tộc đại tông phả”. Chú họ là Đặng Tiến Bá trùng tu phủ từ đường thờ tiên tổ.

Ông làm trấn tủ Nghệ An 24 năm, để lại cho nhân dân Nghệ An và con cháu họ Đặng ngàn vạn ân đức.

Nhân dân thôn Triều Sơn, xã Nguyệt Áo, huyện Thiên Lộc lập đền thờ ông.

Có bài minh trên bia ghi rõ:

“Hữu công tất bảo

Tích thiện dư khương

Quỳnh cư vĩnh hảo

Lam thủy lưu hương

Ức niên phần bật

Vạn đại diễn hương

Thử công thử đức

Địa cửa thiên trường”.

Tạm dịch:

“Có công tất được báo

Tích thiện ắt có phúc lành

Như ngọc cần phải giữ

Để ngát hương sông Lam

Ngàn năm giúp quê hương

Danh tiếng lưu muôn đời

Ngàn năm công đức ấy

Mãi mãi cùng đất trời”.

Ông mất ngày 23 tháng Giêng năm Mậu Dần (1698), hưởng thọ 68 tuổi.

Tiên tổ tỷ ( bà ) là phu nhân Nguyễn Thị Điển, người xã Thượng Lâm huyện Mỹ Đức.

ĐỜI THỨ 19.

Tiên tổ Đặng Đình Tướng, ông là thứ ba của ông Đặng Tiến Thự. Ông sinh năm Kỷ Mùi niên hiệu Khánh Đức thứ nhất (1649) đời vua Lê Thần Tông.

Năm Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông, khoa Canh Tuất (1670), ông đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân, phụng mệnh đi sứ Bắc, ông làm quan đến Tả Thị lang, Thượng thư, thăng Đại Tư mã chưởng phủ sự.

Sau khi mất, truy phong Đại Tư không, Ứng Quận công, phong Phúc thần.

Ông mất ngày 15 tháng 5 năm Ất Mão (1735) niên hiệu Vĩnh Hựu Nguyên Niên.

Chánh thất phu nhân: Bùi Thị Khang thọ 61 tuổi.

Thứ nhất phu nhân: Phạm Thị Đằng sinh 3 con trai.

Đặng Đình Gián – Bảo Huân Quận công.

Đặng Đình Đế - Tổng binh Đồng tri Nhuận Phái hầu.

Đặng Đình Thức – Hình thuyên Câu kê Thái bộc Tự khanh.

Ngày lành mùa xuân năm Ất Tỵ niên hiệu Cảnh Hưng 45 (1785).

(Người) Chi Giáp nhất, Thắng Vũ, Thắng Thiên Hùng Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (Giản) kính cẩn phụng sao.

  Ngày nay đổi Đặng tộc phả hệ thành Đặng gia phả hệ toán chính thực lục quyển chi nhất thành bộ phả gồmg 6 quyển nhan đề: Đặng gia phả hệ toản chính thực lục.

Quyển I : Từ tiên tổ họ Đặng húy Nghi đến tiên tổ họ Đặng húy Nghị - Hải Quận công.

Quyển II: Hậu Trạch Nghĩa Quốc công Đặng Đình Huấn.

Quyển III: Hà Quận công Đặng Tiến Vinh.

Quyển IV: Doanh Quận công Đặng Thế Tài.

Quyển V: Yên Quận công Đặng Đình Thự.

Quyển VI: Dận Quận công Đặng Đình Miên.

Người chi giáp nhất là Thắng Vũ, Thắng Thiên Hùng Đô đốc, Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (có người đọc là Giản) kính cẩn biên tập.

Huyện Tam Kỳ, tỉnh Vĩnh Long, ngày tốt năm Canh Ngọ niên hiệu Gia Long thứ 10 (1811) triều vua nhà Nguyễn, cư sĩ, Cử nhân Đặng Tố Nga kính cẩn phụng sao.

Ngày tốt năm Minh mệnh Nguyên niên (1820 ), tri huyện Tam Kỳ tỉnh Vĩnh Long là Cử nhân Đặng Đình Huệ kính cẩn phụng sao.

(Gia Tộc Họ Đặng).

 
Mộ Đặng Tất ở xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Đặng Tất (1357-1409)

Tác giả: Lê Thí .

Đặng Tất (1357-1409) là danh tướng nước ta thời nhà Trần, sinh ra và lớn lên trong một gia đình đại quý tộc ở làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, châu Nghệ An (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Theo gia phả tộc Đặng thì tổ tiên 4 đời của Đặng Tất vốn cư ngụ tại Thăng Long sau đó mới di cư vào Nghệ An. Ông nội là Thám hoa Đặng Bá Tĩnh làm quan đến chức Hành khiển dưới triều nhà Trần. Đặng Tất thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được cử làm quan trong triều, được Hồ Quý Ly tin dùng.

     Năm 1391, ông được bổ làm tri phủ Hóa Châu nay là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Năm 1402,  sau khi nhà Hồ đánh chiếm phần phía Nam của châu Hóa lập ra 4 phủ Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, Nguyễn Cảnh Chân được cử làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa còn Đặng Tất được bổ làm Đại tri châu Thăng Hoa nay thuộc vùng Thăng Bình, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Theo sử sách, hai nhà họ Đặng và Nguyễn có thân nhau từ trước nên từ đó Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân càng thân thiết và có uy tín lớn trong vùng.

     Nhân lúc nhà Hồ chưa ổn định, Chiêm Thành quấy rối phía nam. Hồ Quý Ly sai Hoàng Hối Khanh làm Tuyên úy sứ trấn thủ cả vùng Thăng Hoa. Đến Thăng Hoa, Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng và Nguyễn Lỗ giúp việc cho mình.

     Năm Đinh Hợi (1407), nhà Minh xâm lăng nước ta. Cuộc kháng chiến chống quân Minh của hai cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương thất bại do không nắm được lòng dân, cả hai bị bắt đưa về Tàu. Quân Chiêm được sự hỗ trợ của nhà Minh nổi dậy đánh chiếm lại lộ Thăng Hoa (Nam Quảng Nam) uy hiếp Hóa Châu. Các di dân chạy tan cả ra phía Bắc. Hoàng Hối Khanh chạy về Hóa Châu. Đặng Tất, Nguyễn Lỗ cũng dẫn quân thủy bộ từ Thăng Hoa chạy ra lại Hóa Châu. Đặng Tất đi đường thủy về trước, Nguyễn Lỗ đi đường bộ về sau. Đến Hóa Châu, Trấn thủ Nguyễn Phong và Nguyễn Lỗ liên kết với nhau cự tuyệt không cho Đặng Tất vào thành. Ông giết Nguyễn Phong rồi đánh nhau với Nguyễn Lỗ. Lỗ thua đem cả gia quyến chạy trở lại vào Thăng Hoa đầu hàng quân Chiêm Thành. Cũng trong thời gian này ở phía Bắc, quân Minh âm mưu tiến quân vào Hóa Châu nhằm thống trị vùng đất này.

     Trước hoàn cảnh “lưỡng đầu thọ địch”, Đặng Tất phải dùng kế sách “trá hàng” quân Minh để củng cố lực lượng, đối phó với quân Chiêm ở phía Nam. Đặng Tất được tướng nhà Minh là Trương Phụ giao giữ chức Đại tri châu Hóa Châu. Ông cùng với quân dân Hóa Châu đã đẩy lùi được cuộc tấn công của quân Chiêm, ổn định được biên giới phía Nam và bắt đầu chăm lo xây dựng lực lượng với mưu đồ khởi nghĩa chống lại quân Minh.

     Cuối năm Đinh Hợi (1407)  tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi (con Trần Nghệ Tông) được lực lượng của Trần Triệu Cơ tôn làm minh chủ, dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh ở Mộ Độ (nay là xã Yên Mô, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) xưng làm Giản Định Đế, lập ra nhà Hậu Trần. Sau khi khởi nghĩa, quân Giản Định Đế giải phóng được một số vùng ở Ninh Bình nhưng sau đó bị quân Minh tấn công  phải kéo về Nghệ An. Nghe tin, Đặng Tất liền giết hết quân Minh ở Hoá Châu rồi đem quân ra Nghệ An hợp với Giản Định Đế mưu sự khôi phục nhà Trần. Đặng Tất được Giản Định Đế phong làm Quốc Công.  Ông cũng đã gả con gái út của mình là Đặng Thu Hạnh cho Giản Định Đế để khẳng định sự liên kết và xây dựng niềm tin cho lực lượng kháng chiến. Sau sự kết hợp này, nhiều tướng lĩnh đem quân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, trong đó có Nguyễn Cảnh Chân, là một tướng tài, nhiều mưu kế lại là bạn tâm phúc của Đặng Tất.

     Năm Mậu Tý (1408), Đặng Tất dẫn nghĩa quân tiến đánh Diễn Châu, Nghệ An giết chết ngụy quan Trần Thúc Dao, Trần Nhật Chiêu, Nghệ An được giải phóng. Tháng 7/1408, Đặng Tất dẫn quân vào Tân Bình (Quảng Bình), đánh tan quân Minh bắt Phạm Thế Căng, Phạm Đống Cao đưa về Nghệ An xử chém. Sau đó, nghĩa quân tiến ra giải phóng Thanh Hóa. Nghĩa quân đã làm chủ một vùng rộng lớn kéo dài từ Hóa Châu (Huế) ra đến tận Thanh Hóa. Nhân thế thắng, Giản Định Đế ra lệnh cho Đặng Tất mở cuộc tấn công ra Bắc nhằm tiêu diệt giặc Minh, giải phóng Thăng Long. Nghĩa quân kéo đến Tràng An (Ninh Bình), hào kiệt các vùng kéo đến rất đông, lực lượng nghĩa quân ngày càng mạnh. Đặng Tất cho quân tấn công vào Bình Than, Hàm Tử, Tam Giang, đánh phá vào ngoại vi Đông Quan.

     Nhà Minh nghe tin nghĩa quân Giản Định Đế có sự phò tá của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân rất lớn mạnh, giải phóng nhiều vùng rộng lớn nên vội vàng sai Tổng binh Kiểm Quốc công Mộc Thạnh, Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn mang 5 vạn quân sang chi viện, hợp cùng 5 vạn quân do Lưu Nghị và Lưu Dục đang trấn đóng ở Đông Đô thành một đạo quân hùng hổ hơn 10 vạn, quyết bóp nát lực lượng khởi nghĩa của nhà Hậu Trần, bắt sống Giản Định Đế và Đặng Tất. Ngày 14 tháng Chạp năm Mậu Tý (30/12/1408) quân thủy bộ hai bên chạm nhau tại bến đò Bô Cô trên sông Đáy (nay thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Đặng Tất sai Đặng Dung chỉ huy thủy quân, đóng cọc nhọn dưới lòng sông rồi dùng thuyền nhẹ, lợi dụng nước triều lên cao, gió lớn, đánh cho thủy quân Minh tan tác. Còn quân bộ do đích thân Đặng Tất chỉ huy, dựa vào chiến lũy hai bên bờ sông, lợi dụng lau sậy bạt ngàn chung quanh, quân ta mai phục rồi theo trống lệnh của Giản Định Đế xông ra đánh với khí thế dũng mãnh. Từ giờ Tỵ (9-11g) đến giờ Dậu (17-19 giờ) ngày hôm đó, nghĩa quân đã chiến đấu mưu lược, anh dũng tiêu diệt toàn bộ binh lực của giặc Minh, các tướng tài của Minh như Lữ Nghị, Lưu Tuấn, Lưu Dục, Liễu Tông đều bị giết. Mộc Thạnh may mắn thoát chết, dốc tàn quân chạy trốn vào thành Cổ Lộng, sau nhờ có viện binh tiếp cứu, mới kéo được về thành Đông Đô để cố thủ. Chiến thắng vang dội ở Bô Cô cho thấy tài thao lược quân sự và lòng dũng cảm của Đặng Tất.

     Sau đại thắng Bô Cô, Giản Định Đế định thừa thắng tiến lên đánh chiếm lấy Đông Đô, trái lại Đặng Tất cho rằng lực lượng ta chưa đủ mạnh để đè bẹp được quân Minh do vậy cần có thời gian để dưỡng binh và củng cố lực lượng, cũng như để truy bắt cho hết bọn giặc Minh và tay sai. Do bất đồng  về chiến pháp giữa Giản Định Đế và Đặng Tất đã làm hỏng thời cơ chiến thắng, gây tổn thất lớn cho cuộc khởi nghĩa. Trong khi vua tôi còn đang dùng dằng thì quân Minh đưa viện binh đến cứu thành Cổ Lộng và đón tàn quân về cố thủ ở Đông Quan, củng cố lại lực lượng chuẩn bị phản công. Trước tình thế như vậy, lòng ngờ vực của Giản Định Đế trỗi dậy, bọn hoạn quan là nội thị Nguyễn Phần, hiệu sinh Nguyễn Mộng Trang lại ghen ghét, gièm pha: “Tất và Cảnh Chân chuyên quyền, bổ quan người này cất chức người kia, nếu không tính sớm đi sau này khó long kiềm chế” (1) nên Giản Định Đế đã tìm cách ám hại Đặng Tất  và Nguyễn Cảnh Chân. Tháng 3/1409, khi thuyền Giản Định Đế đóng trên sông Hoàng Giang (Ninh Binh), Giản Định Đế cho gọi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đến để bàn việc quân. Hai ông hoàn toàn không hay biết âm mưu của Giản Định Đế, Đặng Tất bị Giản Định Đế cho quân bóp cổ chết tại chỗ, quẳng xác xuống sông, Nguyễn Cảnh Chân chạy trốn lên bờ cũng bị đuổi theo chém chết.  Sau cái chết của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, con trai hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bỏ Giản Định Đế, đưa quân về Thanh Hóa, tôn Trần Quí Khoách lên ngôi vua đặt niên hiệu là Trùng Quang Đế, tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Minh.

     Sử thần Ngô Sĩ Liên đã nhận định về cái chết của Đặng Tất: “Vua may thoát nguy hiểm cầu người giúp nạn nước được cha con Đặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân có mưu lược, đủ lập được công khôi phục, dựng nghiệp trung hưng, trận Bô Cô, thế nước lại đầy, thế mà nghe lời dèm của kẻ hoạn quan, một lúc giết hai người bề tôi phò tá, tự mình chặt bỏ chân tay vây cánh, thì làm sao nên việc được”(2).

     Cái chết oan nghiệt của Đặng Tất đã dẫn đến sự tan rã, phân hóa trong toàn bộ nghĩa quân. Năm 1409, Giản Định Đế bị quân Minh bắt, Trùng Quang Đế lui về về giữ Nghệ An, đánh nhau với  quân Minh được vài năm. Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, Trùng Quang Đế chạy về Hóa Châu. Mộc Thạnh cùng Trương Phụ hợp cùng các tướng tấn công Hóa Châu. Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị và vua Trùng Quang cùng bị bắt. Nhà Hậu Trần chấm dứt.

     Đặng Tất là tướng giỏi nhất của nhà Hậu Trần. Thực tế chiến sự cho thấy sau khi ông mất không có ai xứng đáng thay thế. Các tướng Đặng Dung con ông, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Nguyễn Biểu đều có thừa lòng dũng cảm và trung nghĩa, nhưng tài năng chưa sánh được với ông. Từ chỗ bị từ chối không cho vào thành, Đặng Tất đã lật ngược thế cờ giết Nguyễn Phong, đuổi Nguyễn Lỗ chạy trốn. Từ chỗ quân Hậu Trần chỉ có một nhóm nhỏ bị dồn vào Hóa Châu, nhờ một tay Đặng Tất chỉ trong 1 năm đã giết chết các tên Việt gian Phạm Thế Căng, Trần Thúc Giao, Trần Nhật Chiêu, đánh như chẻ tre ra bắc, áp sát Đông Quan, một trận Bô Cô mà giết chết cả bốn tướng tài của nhà Minh như Lưu Tuấn, Lưu Dục, Lữ Nghị, Liễu Tông.  Sau khi ông mất quân Hậu Trần bị thua mãi, bị dồn trở lại  Hóa Châu và đi đến diệt vong, bản thân Giản Định Đế cũng phải trả giá đắt.

     Đặng Tất có hai người em  là Đặng Đức, và Đặng Quý  từng làm Trấn thủ Hóa Châu, các con ông là Đặng Dung, Đặng Chủng, Đặng Liên, Đặng Thát, Đặng A Thiết, Đặng A Noãn, Đặng Thu Hạnh tất cả đều tham gia giúp nhà Hậu Trần.

     Sau khi chết, thi hài của Đặng Tất được các con ông mang về chôn ở làng Thế Vinh, huyện Sĩ Vang, ngoại thành Hóa Châu. Mộ ông hiện nay vẫn còn, nằm ven bờ nam sông Hương, cách bến đò Sình khoảng 3 km thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Dân trong vùng tôn ông làm Thành Hoàng.

     Năm 1428, Lê Lợi sau khi đánh xong quân Minh, ban chiếu cho hai cha con ông (con ông là Đặng Dung) biển vàng tám chữ: "Tiết liệt cương trung - Trung thần hiếu tử", truy phong Đặng Tất làm Đại quốc công, Khuông quốc đại vương Thượng đẳng tôn thần; cho lập đền thờ tại quê hương Tả Thiên Lộc, cấp 200 mẫu ruộng lộc điền, giao cho huyện xã hằng năm cúng tế.

     Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối:

     Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

     Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

     Dương Văn An (3) trong Ô Châu cận lục đã không tiếc lời ca ngợi hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung:

     "Bởi cớ cha con Đặng Tất đương lúc vận nhà Trần sắp hết mà hai người đều tận tâm kiệt lực đánh giặc cứu quốc, nâng vận nước khi sắp hết, chống nhà lớn lúc đã xiêu. Hai vua Giản Định và Quý Khoách vì thế mà trung hưng được một thời gian ngắn, chính là nhờ sức của nhà họ Đặng vậy" (4).

     Danh sĩ Bùi Dương Lịch (5) thời Lê mạt viết về ông trong sách Nghệ An ký như sau:

     “Nhà Trần đã mất mà khôi phục được tông thống trong 7 năm, sự nghiệp oanh liệt của... ông cùng trời đất bất hủ"(6)

     Ngoài nhà thờ ở huyện Can Lộc, quê hương ông, được Nhà nước công nhận là Di tích Văn hóa - lịch sử cấp quốc gia, nhiều nơi trên cả nước cũng xây dựng đền để thờ ông. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng trong tác phẩm Quảng Nam - Đất nước và Nhân vật (7) cho biết trước đây ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam có đền thờ hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung. Hiện nay nhiều thành phố lớn trên cả nước có biển đường mang tên hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung.

Chú thích:

    (1) Đặng Huy Phúc, Giản Yếu sử Việt Nam, Nxb Thời Đại, Sài Gòn 2010, trang 244.

         (2) Đại Việt Sử ký Toàn thư, bản dịch của Đào Duy Anh, Nxb Hồng Bàng, năm 2012, trang 464.

    (3) Dương Văn An (1514-1591) quê Tuy Lộc, xã Lộc Thủy, huyện lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thi đỗ tiến sĩ năm Đinh Mùi (1547), từng làm Thượng thư bộ Lại.Tác giả Ô Châu cận lục.

     (4) Bản dịch của Bùi Lương, Nxb Văn Hóa Á châu, Sài Gòn 1961, trang 86

     (5)Bùi Dương Lịch (1757-1828) quê làng Yên Đồng, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Thi đỗ Cử nhân, từng làm Đốc học Nghệ An, Phó Tế tửu Quốc tử giám dưới thời Gia Long.

     (6) Đặng Huy Phúc, Danh nhân Đặng Tất, Đặng Dung, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005, các trang 53,55.

     (7) Nxb Văn hóa Thông tin năm 2008.

Lăng mộ Hậu Phi Đặng Thị Thúy Hạnh, con gái út của Quốc Công Đặng Tất, Hậu Phi của Giản Định Đế.

Đặng Dung (1373?-1414)*

Tác giả: Lê Thí .

Đặng Dung (1373-1414) là danh tướng dưới thời Hậu Trần, quê làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, châu Nghệ An nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Theo gia phả tộc Đặng thì tổ tiên 5 đời của Đặng Dung vốn cư ngụ tại Thăng Long sau đó mới di cư vào Nghệ An. Ông sinh năm Quý Sửu, 1373, trong một gia đình đại quý tộc. Ông cố là Thám hoa Đặng Bá Tĩnh làm quan đến chức Hành khiển dưới triều nhà Trần. Cha là Đặng Tất thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được cử làm Đại tri châu Hóa Châu (Thừa Thiên - Quảng Trị) rồi Thăng Hoa (nam Quảng Nam), sau này được Giản Định Đế phong làm Quốc công, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh, giành độc lập.

     Dưới thời nhà Trần, Đặng Dung giúp cha cai quản vùng Hóa Châu. Khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần và đánh chiếm vùng Nam châu Hóa của người Chiêm lập bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, ông theo cha vào cai quản vùng đất mới Thăng Hoa. Khi nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung lại cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi tức Giản Định Đế.

     Cuối năm 1408, Đặng Dung được cha phân công chỉ huy thủy quân đánh tan thủy quân nhà Minh trong trận Bô Cô trên sông Đáy (nay là xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông dùng cọc nhọn đóng xuống dòng sông, lợi dụng khi nước triều xuống thấp, dụ quân địch vào, sau đó cho quân lính dùng thuyền nhẹ tấn công. Quân địch bị vướng cọc nhọn thiệt hại nặng nề. Sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị Giản Định Đế giết hại một cách oan ức, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) bỏ Giản Định Đế đem quân bản bộ về Thanh Hóa, tìm Trần Quý Khoáng (Trần Quý Khoách) con thứ của Mẫn vương Trần Ngạc, cháu của vua Trần Nghệ Tông, rước vào Chi La, Nghệ An (nay là Đức Thọ, Hà Tĩnh), tôn lên làm vua, lấy hiệu là Trùng Quang Đế, cầm đầu cuộc kháng chiến chống quân Minh. Trùng Quang Đế phong cho Đặng Dung làm Đồng Bình chương sự (Tể tướng), Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, thống lĩnh toàn bộ lực lượng kháng chiến. Lực lượng kháng chiến lớn mạnh nhanh chóng. Đặng Dung đem quân giải phóng nhiều nơi như Nghệ An, Quảng Bình, Thuận Hóa. Trong khi lực lượng của Trùng Quang Đế lớn mạnh và thu được nhiều thắng lợi thì lực lượng của Giản Định Đế lại suy yếu bị quân Minh truy đánh phải lui về giữ thành Ngự Thiên (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Nhằm thống nhất lực lượng kháng chiến, Đặng Dung, gạt thù riêng bàn với Trùng Quang Đế cho Nguyễn Súy đánh úp thành Ngự Thiên, rước Giản Định Đế về Chi La, tôn làm Thái Thượng hoàng.

     Năm 1409, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị và Trùng Quang Đế chỉ huy một cánh quân tiến ra giải phóng vùng Bình Than (Hải Dương, Quảng Ninh); cánh quân khác do Giản Định Đế và Nguyễn Súy chỉ huy tiến đánh  Hải Dương. Đặng Dung đưa quân chiếm giữ Hàm Tử, uy hiếp Đông Quan. Mộc Thạnh đánh không nổi, phải cầu cứu. Trương Phụ lại đem viện binh sang. Tháng 8/1409 Giản Định Đế bị bắt ở Nho Quan (Ninh Bình), bị đưa về Kim Lăng và giết chết. Tháng 9, Trương Phụ vây đánh Đặng Dung ở Hàm Tử. Vì thiếu lương thực nên Đặng Dung phải lui quân về Thanh Hóa. Quân Trương Phụ lại tấn công, Đặng Dung phải lui về Nghệ An. Đầu năm 1410, Đặng Dung lại tiến quân ra Thanh Hóa rồi hợp cùng Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy giải phóng vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định).

     Năm 1411, Trương Phụ đem quân đánh Thanh Hóa, Đặng Dung đánh không lại phải lui về Nghệ An. Tháng 8/1413, Trương Phụ đem quân đánh vào Nhật Lệ (Quảng Bình) rồi tiến đánh Thuận Châu (Quảng Trị). Đặng Dung cho quân dùng thuyền nhỏ bất ngờ đánh thẳng vào thuyền trại của Trương Phụ đang đậu trên sông Ái Tử (Quảng Trị), đánh chìm và đốt cháy nhiều thuyền giặc. Đặng Dung cầm gươm nhảy lên thuyền Trương Phụ định bắt sống y nhưng vì trời tối nhận không ra, Trương  Phụ đã lẻn xuống thuyền nhỏ chạy trốn. Hôm sau giặc phản công Đặng Dung không cầm cự được phải chạy vào vùng rừng núi để cố thủ. Sau đó vào cuối năm 1413 (tháng 12) cả Đặng Dung lẫn Trùng Quang Đế, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy cùng bị bắt. Tháng 4/1414, Đặng Dung cùng Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy bị giải sang Kim Lăng. Dọc đường tất cả đều nhảy xuống sông tuẫn tiết.

     Nhận định về cái chết của Đặng Dung, sử gia Trần Trọng Kim đã viết “Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc,tỉnh  Hà Tĩnh...” (1)

     Gần đây, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Thuần, trong sách “Danh tướng Việt Nam” có viết: “Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung Đặng Dung đã vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng” (2).

     Năm 1428, Lê Lợi sau khi đánh xong quân Minh, ban chiếu cho Đặng Dung và cha là Đặng Tất tấm biển vàng có tám chữ: "Tiết liệt cương trung - Trung thần hiếu tử", và cho lập đền tại quê hương hai ông ở Tả Thiên Lộc (Hà Tĩnh) để thờ, cấp 200 mẫu ruộng lộc điền, giao cho huyện xã hằng năm cúng tế. Ngôi đền này hiện nay được Nhà nước công nhận là Di tích Văn hóa - Lịch sử cấp quốc gia.

     Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối:

     Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

     Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

     Nhiều nơi cũng lập đền thờ hai cha con ông và có đặt bảng đường mang tên Đặng Dung. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng trong tác phẩm “Quảng Nam: Đất nước & Nhân vật” (3) cho biết trước đây ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam có đền thờ hai cha con Đặng Tất và Đặng Dung.

     Không những là vị tướng với những chiến công lừng lẫy, người anh hùng đã “vị quốc vong thân”,  Đặng Dung còn là một nhà thơ với bài “Cảm hoài” nổi tiếng, được truyền tụng qua nhiều thế hệ (4). Tuy chỉ bài thơ duy nhất nhưng với bài thơ Cảm hoài, tên tuổi của Đặng Dung đã có chỗ đứng trong lịch sử văn học và trong lòng người đời sau. Đây là bài thơ tự sự, ông viết theo thể thất ngôn bát cú:

     Nguyên tác:

     感懷

     世事悠悠奈老何

     無窮天地入酣歌

     時來屠釣成功易

     運去英雄飲恨多

     致主有懷扶地軸

     洗兵無路挽天河

     國讎未報頭先白

     幾度龍泉戴月磨

     Phiên âm Hán - Việt:

     Cảm hoài.

     Thế sự du du nại lão hà?

     Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

     Thời lai đồ điếu thành công dị,

     Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

     Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

     Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

     Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

     Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

     Nhà thơ Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu dịch:

     Việc đời man mác, tuổi già thôi!

     Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.

     Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,

     Tan tành sự thế luống cay ai!

     Phò vua bụng những mong xoay đất,

     Gột giáp sông kia khó vạch trời!

     Đầu bạc giang san thù chửa trả,

     Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi.

 Nhận định về bài thơ “Cảm  hoài” của Đặng Dung, Tiến sĩ Lý Tử Tấn,  Phó Nguyên soái Tao Đàn dưới thời Lê Thánh Tông, bạn đồng khoa với Nguyễn Trãi đã viết:"Phi hào kiệt chi sĩ bất năng!" (Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm nổi bài thơ này!)

     Ngày nay, “Từ điển văn học” (bộ mới) (5), đã nhận định về bài Cảm hoài:“Tuy là thơ của một người... ôm hận vì bất lực trước thời thế, người đọc vẫn thấy toát lên ở đây tình cảm cao cả tràn khắp đất trời, đó là lòng yêu nước thiết tha của một tráng sĩ vì nước bôn ba, là niềm tin và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc qua hình tượng rất đẹp, rất thơ:“Mấy phen mang gươm Long Tuyền mài dưới trăng”.

     Đặng Dung có 4 người con trai là: Đặng Nghi, Giám sinh Quốc tử giám Đặng Địch Quả, Đặng Di, Hoàng giáp Đặng Công Thiếp.

     Hậu duệ của Đặng Dung sau này có nhiều người nổi tiếng như: Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm (1457-?) Hoàng giáp Đặng Chiêm (1428-?), Thái Úy Đặng Huấn (?-1583),Tiến sĩ Đặng Đình Tướng (1649-1735), Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai (1902-1984), Tổng bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, 1908-1988),Tiến sĩ Đặng Lương Mô(1930-…), Tiến sĩ toán học Đặng Đình Áng (1926-…).

Chú thích:

    * Phần lớn tài liệu không thấy đề cập đến năm sinh của Đặng Dung. Chúng tôi dựa vào “Địa dư chí Thừa Thiên-Huế”. Tài liệu này cho rằng ông sinh năm 1373, như vậy khi sinh ông Đặng Tất mới có 16 tuổi (Đặng Tất sinh 1357).

     (1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 214

     (2) Tập IV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 236

     (3) Nxb VHTT, năm 2001.

     (4) Bài thơ này được chép trong tập Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1784)

     (5) Nxb Thế Giới năm 2005.

Nhà thờ Đặng Dung ở xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.(Tương truyền là đền được nhân dân xây dựng khi Đặng Dung còn sống để nhớ ơn ông đã đến đây phát chẩn cứu đói và cho quân sĩ tôn cao đê giúp nhân dân chống lụt).

Đền thờ Thiếu bảo Liêu Quận Công Đặng Sĩ Vinh (1685-?), hậu duệ của Quốc Công Đặng Tất.


Đền thờ ngài Thái Nhạc Quận Công Đặng Sĩ Hàn (1727-?).

Nhà thờ họ Đặng ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh.

Nam Phương Linh Từ – Nhà Thờ Họ Đặng Ở Đồng Tháp như một “biệt phủ” được nhiều người gọi là “cố đô Huế” giữa Tây Nam Bộ với khung cảnh khiến nhiều người choáng ngợp khi ghé thăm.

Quần thể Nam Phương Linh Từ được khởi công xây dựng từ ngày 30/10/2009 trên diện tích 5 hecta, tọa lạc tại xã Long Hưng A, H.Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, với tổng kinh phí hơn 300 tỷ đồng, do doanh nhân Đặng Phước Thành (Chủ tịch HĐQT Vinasun Corp) phát tâm xây dựng.

 





Tượng Thủy tổ họ Đặng phía trong điện thờ .

Xin theo dõi tiếp BÀI 31. Thân ái, dienbatn.

PHÁC THẢO PHONG THỦY HÀ TĨNH.

BÀI 1.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-1.html

BÀI 2.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-2.html

BÀI 3.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/08/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-3.html

BÀI 4.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai_8.html

BÀI 5.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-5.html

BÀI 6.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2023/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-6.html

BÀI 7.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-7.html

BÀI 8.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-8.html

BÀI 9.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-9.html

BÀI 10.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-10.html

BÀI 11.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html

BÀI 12.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-11.html

BÀI 13.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-13.html

BÀI 14.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-14.html

BÀI 15.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-15.html

BÀI 16.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-16.html

BÀI 17.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-17.html

BÀI 18.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-18.html

BÀI 19.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-19.html

BÀI 20.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-20.html

BÀI 21.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-21.html

BÀI 22.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-22.html

BÀI 23.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-23.html

BÀI 24.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-24.html

BÀI 25.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-25.html

BÀI 26.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-26.html

BÀI 27.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-27.html

BÀI 28.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-28.html

BÀI 29.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-29.html

BÀI 30.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-30.html

BÀI 31.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-31.html

BÀI 32.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-32.html

BÀI 33.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/09/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-33.html

BÀI 34.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-34.html

BÀI 35.

https://dienbatnblog.blogspot.com/2021/10/phac-thao-phong-thuy-ha-tinh-bai-35.html

Xem chi tiết…

THỐNG KÊ TRUY CẬP

LỊCH ÂM DƯƠNG

NHẮN TIN NHANH

Tên

Email *

Thông báo *